ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN NAM
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊUTRONG THƠ MỚI
1932 - 1945
(Trên cứ liệu Thi nhân Việt Nam và thơ Xuân Diệu,
Nguyễn Bính)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
2
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN NAM
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊUTRONG THƠ MỚI
1932 - 1945
(Trên cứ liệu Thi nhân Việt Nam và thơ Xuân Diệu,
Nguyễn Bính)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã ngành: 9 22 01 02
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH Lý Toàn Thắng,
người thầy đã cho tôi nền tảng tri thức, kinh nghiệm và lòng ham nghiên cứu khoa
học để hoàn thành luận án này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn người thân và bạn bè đã động viên, tiếp sức để tôi
có được kết quả như hôm nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017
Tác giả luận án
Trần Văn Nam
4
5
MỤC LỤC
5
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
6
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Các nhà ngôn ngữ học truyền thống quan niệm, ẩn dụ hình thành dựa trên sự
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
- Góp phần khẳng định tính đúng đắn của việc áp dụng lý thuyết tri nhận vào
nghiên cứu thi ca. Đồng thời đây cũng là quá trình thực hành để kiểm nghiệm giả
thuyết về mối quan hệ ngôn ngữ - văn hóa và tư duy trong thi ca dưới góc nhìn của
ngôn ngữ học tri nhận, từ đó thấy được giá trị của ẩn dụ ý niệm trong thi ca.
- Qua so sánh đối chiếu với hệ thống các ẩn dụ ý niệm về tình yêu ở một số
tác phẩm thơ trung đại tiêu biểu, người viết chỉ ra được sự độc đáo trong cách ý
niệm hóa tình yêu của các nhà Thơ mới gắn với lối tư duy thời đại; đồng thời qua so
sánh các ẩn dụ ý niệm tình yêu của hai nhà thơ Xuân Diệu và Nguyễn Bính để chỉ
ra được sự khác biệt rõ rệt về tư duy ngay trong nội bộ các nhà Thơ mới khi ý niệm
hóa tình yêu. Chính sự khác biệt ấy đã tạo nên cá tính của mỗi nhà thơ.
2.2. Nhiệm vụ
Từ mục đích trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tập hợp có lựa chọn các cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu của
luận án và tổng hợp một số quan điểm về tình cảm cũng như các vấn đề liên quan
đến đối tượng khảo sát.
- Tổng hợp, phân loại và thiết lập các mô hình ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong
thơ mới, thơ Nguyễn Bính và thơ Xuân Diệu trước năm 1945.
- Phân tích cơ chế chiếu xạ giữa miền nguồn và miền đích dựa trên những
thuộc tính đặc trưng tiêu biểu nhất. Đồng thời, lý giải cũng như phân tích các lược
đồ tri nhận trong thơ mới để thấy được vẻ đẹp con người tinh thần của các nhà thơ
qua hệ thống ý niệm về tình yêu cũng như thấy được mối quan hệ giữa ngôn ngữ văn hóa - tư duy.
- So sánh đối chiếu các kiểu ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong sáng tác của các
nhà Thơ mới với các kiểu ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ trung đại,đồng thời so
sánh ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ Nguyễn Bính và Xuân Diệu để thấy được
cá tính sáng tạo của các tác giả thơ mới cũng như sự khác biệt rõ rệt ngay trong nội
bộ các nhà Thơ mới.
8
niệm, các quá trình chiếu xạ trong các lược đồ tri nhận, nhất là các thuộc tính khác
nhau trong lược đồ tri nhận. Phân tích định tính giúp người viết mô tả các ý niệm
kết hợp với số lượng các ẩn dụ nhằm minh họa cụ thể xu hướng, mô hình các ý
niệm ẩn dụ trong sáng tác của các nhà Thơ mới.
- Ngoài ra, một số thủ pháp sau đây của ngôn ngữ học tri nhận cũng được vận
dụng, đó là: thủ pháp nội quan (phán đoán, suy luận), thủ pháp phân tích ý niệm (dựa
9
10
vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa để thấy được những cách ý niệm hóa
riêng của các nhà Thơ mới trong việc biểu đạt tình yêu).
5. Phạm vi tư liệu khảo sát
Với đề tài này, chúng tôi chọn các tư liệu sau để khảo sát:
1/ Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh, Hoài Chân)
2/ Thơ Xuân Diệu (Trước năm 1945)
3/ Thơ Nguyễn Bính (Trước năm 1945)
4/ Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều)
5/ Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm)
6/ Truyện Kiều (Nguyễn Du)
6.Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa lí luận
- Góp phần giới thiệu một hướng tiếp cận mới đối với sáng tác của các tác
giả trong phong trào Thơ mới.
- Góp phần củng cố lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận, làm rõ mối quan hệ
giữa lý thuyết và thực tiễn sử dụng ở Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống
về đề tài tình yêu của các nhà thơ trong thời kỳ Thơ mới 1932 - 1945 dưới ánh sáng
mới của ngôn ngữ học được đặt ra đó là lấy con người làm trung tâm - " dĩ nhân vi
trung ", làm đối tượng để nghiên cứu. Có rất nhiều nhà khoa học cho rằng, ẩn dụ ý
niệm chủ yếu dựa trên kinh nghiệm thân thể như Lakoff (1987), Kovecses (1986),
Srinivas (1997), Nrayanan (1997)... Tuy nhiên, mỗi một tác giả lại đi sâu nghiên
cứu một lĩnh vực cụ thể trong cấu trúc của ý niệm. Có thể tóm lược lịch sử nghiên
cứu và những cội nguồn lí thuyết về ẩn dụ ý niệm trên thế giới như sau:
- Ngữ nghĩa ‘Khung’ (Frame semantics) của Fillmore (1982), (1985);
Sweettser (1990).
- Lí thuyết về các ‘Miền’ (Domains) ý niệm của Langacker (1986), (1990),
(1991).
- Lí thuyết ‘điển dạng’ (prototype) của E.Rosch, (Rosch 1977)...
Đối với Lakoff, Johnson và M.Turner đồng quan điểm khi chỉ ra rằng ẩn dụ ý
niệm giúp chúng ta hiểu được các khái niệm trừu tượng qua những kinh nghiệm cá
nhân và đánh giá cao vai trò của các quá trình nghiệm thân trong cách chúng ta nhìn
về thế giới (Lakoff, Johnson 1980 ; Lakoff 1987 ; Turner 1996). Gerard Steen
(1999) [74] và Stockwell (2002) [86] đều khẳng định ẩn dụ ý niệm trong thơ là một
cách tiếp nhận mới về văn học. Cách tiếp nhận này có liên quan đến ứng dụng của
ngôn ngữ học tri nhận và tâm lý để lĩnh hội một văn bản văn học. Liza Freedman
Weisberg (2012) [83] cho rằng, ẩn dụ tồn tại đa dạng trong mọi loại hình ngôn ngữ,
trong thơ ca cũng như trong lời nói hằng ngày. Cùng quan điểm trên, Linda
12
13
L.Berger (2013) [82] đưa ra sự so sánh đầy hình tượng để minh chứng sự tồn tại đa
dạng của ẩn dụ đó là ẩn dụ trong pháp luật như trong thơ và mệnh đề ngôn ngữ.
Theo tác giả, ẩn dụ như là một phương tiện để giải thích các mối quan hệ giữa luật
và ngôn ngữ. Một số nhà ngôn ngữ học tri nhận quan niệm, ẩn dụ trong thơ ca có cơ
chế tư duy như trong lời nói thông thường. Vì vậy, khám phá văn bản thơ là một
tượng phải hiện hình mà còn phản ánh tư duy tộc người, phản ánh văn hóa của một
dân tộc, tạo ra sự liên kết các phạm trù bằng cảm xúc, trí tuệ của con người.
Một số tác giả khác đã khám phá sức mạnh của ngôn ngữ học tri nhận thông
qua các sản phẩm văn chương cụ thể tiêu biểu nhất là câu đố, thành ngữ, tục ngữ, ca
dao... Có thể kể đến các tác giả như: Lê Đình Tường (2008), Nguyễn Ngọc Vũ
(2009), Võ Xuân Hào (2009), Trần Bá Tiến (2012). Tác giả Lưu Trọng Tuấn (2009)
[55] có cái nhìn tình yêu trong thi ca qua sự so sánh đối chiếu khái niệm tình yêu
với đặc trưng hướng, chiều của không gian. Theo tác giả, tình yêu cũng giống như
thời gian, nó cũng thiếu vắng các chiều không gian và vì vậy ẩn dụ tình yêu cũng có
thể phân thành ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể. Với Nguyễn Thị Quyết (2012) [37],
trong công trình nghiên cứu của mình tác giả khẳng định ngôn ngữ và con người có
một mối quan hệ vô cùng mật thiết, thơ là công cụ đặc biệt để con người biểu đạt
suy nghĩ, những trải nghiệm trong cuộc sống, cảm giác của cá nhân người viết và
người khác thông qua lớp vỏ ngôn ngữ thâm nhập vào đó để hiểu biết những bình
diện tư duy của người viết. Tác giả Vũ Thị Sao Chi - Phạm Thị Thu Thùy (2013) [7;
8] đã phân tích hai ý niệm tương phản - nền tảng cho ẩn dụ ý niệm trong thơ Chế
Lan Viên (qua hai tập thơ: Điêu tàn và Ánh sáng và phù sa). Các tác giả đã đưa ra
hai luận điểm cơ bản nói đến cơ chế của ẩn dụ ý niệm trong mối quan hệ với tư duy
con người và cấu trúc của ẩn dụ ý niệm là cấu trúc hai không gian.
Ngoài ra, sự xuất hiện của một số luận án, luận văn thạc sĩ và khóa luận tốt
nghiệp nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong thơ ca. Nhìn chung, các tác giả đều tập
trung đi sâu nghiên cứu các ẩn dụ ý niệm của một tác giả cụ thể dựa trên lý thuyết
của ngôn ngữ học tri nhận. Ví dụ: Nguyễn Thị Thùy khai thác Ẩn dụ tri nhận trong
thơ Xuân Diệu, Phạm Thị Thuy Thùy khám pháẨn dụ tri nhận trong thơ Chế Lan
Viên, Phạm Minh Châu khám phá Ẩn dụ tri nhận trong thơ Tố Hữu, Phạm Thị
Hương Quỳnh với Ẩn dụ tri nhận trong thơ Xuân Quỳnh, hay Nguyễn Thị Bích
Hạnh với Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn...
Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu, có thể thấy, các nhà Việt ngữ
học đã và đang góp phần khẳng định vị thế của ngôn ngữ học tri nhận. Qua công
trình nghiên cứu của mình, các tác giả không chỉ góp phần làm sáng tỏ lý thuyết tri
CUỘC CHINH CHIẾN; TÌNH YÊU LÀ TRÒ CHƠI; TÌNH YÊU LÀ MA LỰC;
TÌNH YÊU LÀ BỆNH TẬT; TÌNH YÊU LÀ SỰ MẤT TRÍ; TÌNH YÊU LÀ CAO
HỨNG; TÌNH YÊU LÀ ĐẤNG BỀ TRÊN. Trong quá thực hiện đề tài Ẩn dụ ý
niệm về tình yêu trong Thơ mới 1932 - 1945, chúng tôi dựa vào kết quả thống kê
15
16
của tác giả Ly Lan làm cơ sở để phân loại các kiểu ẩn dụ ý niệm trong Thi nhân Việt
Nam. Đồng thời, cũng dựa trên cơ sở phân loại ấy, chúng tôi đối chiếu các kiểu ẩn
dụ ý niệm trong sáng tác của các nhà Thơ mới với sáng tác của các nhà thơ trung
đại cũng như đối chiếu trong nội bộ các nhà Thơ mới (Nguyễn Bính và Xuân Diệu)
để thấy được sự mới mẻ, phá cách trong nhận thức mang tính thời đại cũng như sự
độc đáo trong cá tính sáng tác của các nhà Thơ mới.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Khái quát về ẩn dụ
1.2.1.1. Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống
Ẩn dụ được nghiên cứu từ thời cổ đại với nhiều đường hướng khác nhau như
dựa theo thuyết nghĩa đen, theo quan điểm dụng học, quan điểm thay thế... Nhưng
tựu chung lại, ngôn ngữ học truyền thống nghiên cứu ẩn dụ trên hai phương diện đó
là: một phương thức chuyển nghĩa và một biện pháp tu từ. Cách hiểu truyền thống
cho rằng, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi của hai sự vật, hiện tượng dựa vào sự tương
đồng về một đặc điểm nào đó như hình thức, trạng thái, tính chất ...
Aristotle, một trong những người đi đầu nghiên cứu về ẩn dụ cho rằng ẩn dụ
là một phương thức chuyển nghĩa dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có điểm
tương đồng nào đó. Với định nghĩa “Ẩn dụ là phương thức chuyển đổi tên gọi” [11,
tr. 58], Aristotle đã trở thành người khởi nguồn cho một xu hướng nghiên cứu mới
về ẩn dụ.
Cuốn từ điển American Heritage (mục Description of metaphor) định nghĩa
Với tác giả Nguyễn Đức Tồn, ông đã nêu lên bản chất của ẩn dụ theo quan
niệm vừa truyền thống vừa tri nhận. Ông gọi câu so sánh hai sự vật làm cơ sở cho
ẩn dụ là câu đẳng nhất hay câu đẳng thức với định nghĩa như sau: “Ẩn dụ là phép
thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng này sang
sự vật, hiện tượng thuộc loại khác theo lối loại suy dựa trên cơ sở sự liên tưởng
đồng nhất hóa hóa chúng theo đặc điểm thuộc tính nào đó cùng có ở chúng.
Có thể công thức hoá hiện tượng ẩn dụ thay thế tên gọi này bằng biểu
thức sau:
A
B
––– = –––––
x
y
(A là tên gọi của biểu vật x, còn B là tên gọi của biểu vật y, dấu = là kí hiệu
“sự đồng nhất”)” [ 52, tr.2].
Có thể thấy, các nhà nghiên cứu về ẩn dụ truyền thống trong và ngoài nước
đều có cùng quan điểm: ẩn dụ là phương thức so sánh ngầm giữa hai sự vật, hiện
17
18
tượng có điểm tương đồng. Dù theo quan điểm nào hay theo lập trường nào đi
chăng nữa, tất cả các nhà ngôn ngữ học không thể phủ nhận sức mạnh của ẩn dụ
trong các tác phẩm nghệ thuật, nhất là trong lĩnh vực văn chương. Các nhà ngôn
ngữ học truyền thống mới chỉ thấy sức mạnh của ẩn dụ ở phương thức diễn đạt,
chưa thấy được sức mạnh của ẩn dụ thuộc phạm trù tư duy.
Tóm lại, các nhà ngôn ngữ học truyền thống đều nhận thấy bản chất ẩn dụ
qua cấu trúc tạo nên nó gồm có hai phần: cái được so sánh (the tenor) và cái so
sánh (phương tiện so sánh - vehicle). Cái được so sánh là chủ thể được gán vào nó
Blumenberg và Weinrich. Đến những năm 80 của thế kỷ XX. Cùng với sự kế thừa
và phát triển thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, công trình “Metaphors We
Live By” của Lakoff và Johnson xuất hiện trở thành xương sống cho các nhà ngôn
ngữ học tri nhận, tạo nên một trào lưu tri nhận phát triển rộng khắp trên thế giới. Ẩn
dụ đã được công nhận thuộc phạm trù tư duy, là một thao tác tinh thần giúp con
người nhận thức và hiểu biết về hiện thực khách quan sinh động. Theo Lakoff và
Johnson, bản chất cốt lõi của ẩn dụ chính là hiểu vấn đề này thông qua thuật ngữ
của một loại vấn đề khác bởi các ánh xạ được hình thành kết nối giữa hai vấn đề đó.
Hai tác giả đưa ra một số luận điểm nói về đặc trưng của ẩn dụ ý niệm như sau:
- Ẩn dụ là cơ chế chính mà thông qua đó chúng ta hiểu được những khái
niệm trừu tượng và hiện thực tư duy trừu tượng, nền tảng của ẩn dụ ý niệm là các
ý niệm.
- Nhiều đối tượng kể từ những điều đơn giản nhất, đời thường nhất đến
những lý thuyết khoa học thâm sâu nhất chỉ có thể hiểu được thông qua ẩn dụ.
- Ẩn dụ về bản chất là mang tính ý niệm chứ không mang tính ngôn ngữ.
- Ngôn ngữ ẩn dụ là sự thể hiện bề mặt của ẩn dụ.
- Phần lớn hệ thống ý niệm của chúng ta mang tính ẩn dụ song cách hiểu ẩn
dụ lại dựa trên cơ sở cách hiểu phi ẩn dụ.
- Ẩn dụ cho phép chúng ta hiểu đối tượng tương đối trừu tượng hoặc đối
tượng phi cấu trúc hóa thông qua đối tượng cụ thể hơn hoặc ít ra thông qua đối
tượng đã được cấu trúc hóa cao hơn.
- Ẩn dụ chiếu xạ qua các miền ý niệm: miền nguồn và miền đích.
- Hệ thống ý niệm chứa hàng nghìn lần chiếu xạ ẩn dụ quy ước làm hình
thành tiểu hệ thống cấu trúc hóa cao của hệ thống ý niệm.
- Hệ thống ẩn dụ ý niệm quy ước chủ yếu là vô thức, tự động và được sử
dụng thoải mái.
- Ẩn dụ ý niệm không dựa trên cơ sở so sánh tương đồng.
19
đơn vị tinh thần hoặc tâm lý của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ
động, của từ vựng tinh thần và của bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản
20
21
ánh trong tâm lý con người. Trong các quá trình tư duy, con người dựa vào các ý
niệm phản ánh nội dung các kết quả của hoạt động nhận thức thế giới của con người
dưới dạng “những lượng tử” của tri thức. Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu
trúc hóa thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới đó. Các ý niệm quy các
đa dạng của những hiện tượng quan sát được và tưởng tượng về một cái gì đó thống
nhất, đưa chúng vào một hệ thống và cho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới.
Người ta cho rằng chính ngôn ngữ bảo đảm cách tiếp cận với sự miêu tả và
xác định bản chất của ý niệm. Giữa ý niệm và các đơn vị ngôn ngữ có mối quan hệ
đặc biệt. Theo một số học giả, những ý niệm đơn giản nhất được biểu hiện bằng một
từ, những ý niệm phức tạp hơn được biểu hiện trong các cụm từ và câu.
Theo nhà nghiên cứu Trần Văn Cơ, ý niệm có cấu trúc trường - chức năng
được tổ chức theo mô hình trung tâm và ngoại vi. Có thể hình dung trường - chức
năng của ý niệm như một vòng tròn to có chứa vòng tròn nhỏ tại tâm và những vòng
tròn nhỏ khác giao nhau.
Hạt nhân là khái niệm, nằm ở trung tâm của trường - chức năng. Nó mang
tính phổ quát, toàn nhân loại. Nằm ở ngoại vi (trong những vòng tròn nhỏ giao
nhau) là những nét đặc thhù văn hóa - dân tộc, trong đó yếu tố hàng đầu là giá trị,
bởi lẽ nói đến văn hóa là nói đến những giá trị văn hóa (tinh thần và vật chất). Nét
đặc thù văn hóa bao gồm: a) văn hóa toàn dân tộc, b) văn hóa các tộc người, c) văn
hóa vùng, miền, địa phương d) văn hóa riêng của các nhóm xã hội mà con người
tham gia và chịu tác động về nhiều mặt, và cuối cùng đ) là văn hóa cá thể với những
đặc điểm tạo thành nhân cách cá nhân như tình cảm, đạo đức, học vấn, kinh nghiệm
sống và những đặc điểm tâm -sinh lý cá nhân...
Những trở ngại trên hành trình
Lựa chọn hướng đi
Điểm kết thúc cuộc hành trình
Miền đích: TÌNH YÊU
⇒ Những người yêu nhau
⇒ Tình yêu của những người yêu nhau
⇒ Sự kiện trong quan hệ yêu đương
⇒ Thời gian duy trì quan hệ yêu đương
⇒ Những khó khăn, trắc trở trong tình yêu
⇒ Những lựa chọn trong tình yêu
⇒ Đích đến của tình yêu
Như vậy, người đọc có thể hiểu những đặc điểm của miền đích TÌNH YÊU
thông qua miền nguồn là CUỘC HÀNH TRÌNH thông qua các ánh xạ được chiếu
từ miền Nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH đến miền Đích TÌNH YÊU.
1.2.1.5. Các loại ẩn dụ ý niệm
Các nhà ngôn ngữ học tri nhận có nhiều cách phân loại ẩn dụ ý niệm theo các
tiêu chí khác nhau. Cho đến nay, ẩn dụ ý niệm có tất cả năm cách phân loại. Theo
Kovecses (2002), có các cách phân loại ẩn dụ ý niệm như sau [76, tr. 29 - 39]:
- Thứ nhất: Ẩn dụ ý niệm có thể được phân loại theo tính quy ước, gồm có
hai loại: ẩn dụ có tính quy ước và ẩn dụ phi quy ước. Tuy vậy, tác giả lại không đưa
ra tiêu chí cụ thể để phân loại mức độ cao thấp cho ẩn dụ quy ước.
- Thứ hai: Phân loại dựa vào cấu trúc kiến thức hay các yếu tố ý niệm của sơ
đồ hình ảnh. Tuy nhiên, một hình ảnh lại có thể trở thành miền nguồn cho rất nhiều
22
23
24
thức này, những thuộc tính điển hình của cây cỏ đã di chuyển sang cho tình yêu.
2) Ẩn dụ bản thể
Ẩn dụ bản thể (ontological) là ẩn dụ trong đó một phạm trù (như hoạt động,
tình cảm, hoặc ý tưởng) được thể hiện như một thực thể cụ thể (một vật thể, vật
chứa, hoặc là con người), thực chất là phạm trù hóa những bản thể trừu tượng bằng
cách vạch ranh giới của chúng trong không gian. Con người thường vay mượn
những sự vật cụ thể, hữu hình hoặc các vật chứa quen thuộc trong cuộc sống hằng
ngày để tri nhận những khái niệm hoặc sự vật trừu tượng.
Lakoff và Johnson (1980) cho rằng, việc hiểu kinh nghiệm của con người
dưới dạng vật thể và chất liệu cho phép chúng ta tách các bộ phận của kinh nghiệm
và xử lý chúng như là các thực thể và chất liệu phân lập của một loại thống nhất.
Khi sự vật không có hình thù và ranh giới rõ ràng, chúng ta cũng có thể dễ dàng
phân loại chúng nhờ ẩn dụ bản thể. Kinh nghiệm của con người về thế giới hiện
thực xung quanh, đặc biệt là cơ thể con người, tạo cơ sở cho rất nhiều ẩn dụ bản thể,
nghĩa là cách nhìn nhận của con người đối với sự kiện, hoạt động, tình cảm giống
như là các thực thể hoặc chất liệu cụ thể. Chẳng hạn như ẩn dụ “Đầu óc con người
là một cỗ máy” với các biểu thức ngôn ngữ như He broke down (anh ấy bị - hỏng
hóc/ suy sụp tinh thần), hoặc trong tiếng Việt như Nát tan cõi lòng (tình cảm được
xem như một vật thể dễ vỡ), nêu ra vấn đề, tình duyên trục trặc...
3) Ẩn dụ định hướng
Ẩn dụ định hướng (Orientational) là loại ẩn dụ không cấu trúc ý niệm này
thông qua một ý niệm khác mà tổ chức cả một hệ thống ý niệm trong mối tương
quan với nhau. Các ẩn dụ định hướng luôn có sự xuất hiện của không gian như lên
-xuống, trong-ngoài, trước-sau, sâu-nông, trung tâm-ngoại vi. Sự tri nhận về
phương vị không gian chính là khả năng tri nhận cơ bản nhất của con người dựa vào
kinh nghiệm thực tế. Chúng ta thường sử dụng những kinh nghiệm quen thuộc này
Cơ sở vật lý: Nỗi buồn chán đè nặng con người và anh ta cúi đầu xuống, còn
những cảm xúc tích cực (dương tính) thì làm cho anh ta thoải mái và ngẩng đầu lên.
Trong tiếng Việt, còn có hai từ ra, đi dùng cho những ẩn dụ định hướng. Ví dụ:
(7) Tinh thần/sức khỏe/trí óc/vóc dáng… suy sụp đi.
(8) Nó khỏe/trẻ/béo/tươi/đẹp… ra [15,tr.47].
1.2.2. Một số nội dung khác của ngôn ngữ học tri nhận
1.2.2.1. Cách thức tạo lập ẩn dụ ý niệm
Văn học chính là tấm gương phản ánh trung thực cuộc sống hằng ngày của
con người. Vì vậy, các nhà ngôn ngữ học tri nhận cũng một lần nữa khẳng định
chính hệ thống ý niệm trong cuộc sống hằng ngày có đóng góp rất lớn trong các
hoạt động sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ và kể cả các nghệ sĩ. Điều này có nghĩa
các tác giả là người sáng tạo nên những ẩn dụ ý niệm điển hình có xuất phát nền từ
cuộc sống và cũng có nghĩa ẩn dụ trong ngôn ngữ học tri nhận không phải được cấu
tạo độc lập, tách rời và khác biệt với cuộc sống hằng ngày mà chỉ đặc biệt hơn, hay
hơn ở chỗ: sự sáng tạo ẩn dụ trong văn chương, trong thi ca thường đa nghĩa, đưa
đẩy và giàu hình ảnh hơn nên hay hơn chứ không đơn nghĩa như ẩn dụ ý niệm trong
đời sống hay trong các ngành khoa học khác. Cụ thể, trong ví dụ dưới đây:
Miệng nó cười tươi như hoa nở.
Dễ dàng nhận thấy ngay ẩn dụ ý niệm: CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT.
Người nói đã lấy trạng thái nở của hoa (miền nguồn) để nói đến nụ cười của con
người (miền đích). Đây cũng là một cách nói hình ảnh tuy nhiên câu nói này chỉ
mang nét nghĩa có tính chất so sánh như vậy. Nhưng ở trong hai câu thơ của
Nguyễn Bính:
Tình tôi nở giữa mùa thu
25