VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THANH HÀ
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG CA TỪ
CỦA NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN CHUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THANH HÀ
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG CA TỪ
CỦA NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN CHUNG
Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 8 22 90 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH
HÀ NỘI - 2018
Trang
MỞ ĐẦU……………………………………………………………..
1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN……………………………………
13
1.1. Ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm…………………………………………...
13
1.1.1. Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống……………………………
13
1.1.2. Ẩn dụ ý niệm…………………………………………………...
16
1.1.3. Sơ đồ hình ảnh………………………………………………….
19
1.1.4. Ánh xạ ẩn dụ…………………………………………………...
20
30
CHƢƠNG 2: ẨN DỤ CẤU TRÚC VỀ TÌNH YÊU TRONG CA
TỪ CỦA NGUYỄN VĂN CHUNG………………………………...
32
2.1. Ẩn dụ ý niệm tình yêu là một cuộc hành trình………………......
32
2.2. Ẩn dụ ý niệm tình yêu là một giấc mơ…………………………..
43
2.3. Ẩn dụ ý niệm tình yêu là sự say mê……………………………..
45
2.4. Ẩn dụ ý niệm tình yêu là ánh sáng……………………..………..
48
2.5. Tiểu kết…………………………………………………………...
49
CHƢƠNG 3: ẨN DỤ BẢN THỂ VỀ TÌNH YÊU TRONG CA TỪ
CỦA NGUYỄN VĂN CHUNG………………………………...........
70
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ …...
75
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, việc nghiên cứu ngôn ngữ không chỉ tập trung vào việc khảo
sát ngữ liệu hay quan sát trực tiếp ngôn từ mà còn bao gồm nhiều vấn đề liên
quan đến ngôn ngữ nhƣ văn hóa, ý thức, niềm tin, tín ngƣỡng… Nghiên cứu
ngôn ngữ từ bình diện ẩn dụ ý niệm là một trong những khuynh hƣớng nghiên
cứu ngôn ngữ đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nƣớc quan tâm
trong thời gian gần đây.
Có thể thấy rằng nhiều nghiên cứu cũng nhƣ nhận định về ẩn dụ ý niệm
của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam ít nhiều cũng gắn kết hay đồng quan
điểm với các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới nhƣ Lakoff & Johnson
(1980, 2003) [43], Tissari (2001) [46], Montgomery (2002) [44], Kovecses
(2002, 2010) [41],… Trần Văn cơ (2011) [5, tr. 293] cho rằng “ Ẩn dụ tri
nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm) – đó là một trong những hình thức ý niệm
hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý
niệm mới và không có nó thì không thể nhận đƣợc tri thức mới. Về nguồn
gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con ngƣời nắm bắt và tạo ra sự
giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tƣợng khác nhau”. Nói cách
khác, ẩn dụ ý niệm là vấn đề không thể quan sát trực tiếp: con ngƣời giải thích
các hiện tƣợng ngôn ngữ dựa trên sự nhận thức của mình.
Âm nhạc là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi con ngƣời.
Trong những năm qua, lý thuyết của phép ẩn dụ đã phát triển và mở
rộng. Ban đầu, xu hƣớng của các nghiên cứu đều cho rằng phép ẩn dụ ý niệm
chủ yếu đƣợc căn cứ vào kinh nghiệm thân thể, đặc biệt là trong các ý niệm về
cảm xúc của con ngƣời. Sau đó, các nghiên cứu tiếp tục chứng minh rằng ẩn dụ
ý niệm không chỉ nằm ở lĩnh vực thời gian, mà còn ở trong các lĩnh vực nhƣ sự
kiện, nhân quả, đạo đức, pháp luật… Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm tiếp tục phát
2
triển gắn với các lý thuyết thần kinh, các nghiên cứu chỉ ra rằng kinh nghiệm
hàng ngày, kinh nghiệm cảm giác của con ngƣời là cơ sở đƣa ra các đánh giá
chủ quan của nhận thức ngôn ngữ (Kovecses (1990) [39]). Năm 2002,
Fauconnier và Turner [34] đã phát triển một lý thuyết về không gian pha trộn,
là một kiểu không gian tinh thần tƣởng tƣợng kết hợp với lý thuyết thần kinh
của ngôn ngữ, trong đó, các ánh xạ ẩn dụ đƣợc thực hiện trên cơ sở vật lý
giống nhƣ một bản đồ thần kinh, và nhƣ thế chúng tạo thành các cơ chế thần
kinh tự nhiên trong các suy luận ẩn dụ.
Tiếp đó, cùng với một số nhà nghiên cứu khác, Lakoff (1980) [43] đã
phát triển tƣ tƣởng về vai trò của ẩn dụ trong việc hình thành hệ thống ý niệm
của con ngƣời và cấu trúc của ngôn ngữ tự nhiên. Tƣ tƣởng này đã đƣợc
Lakoff phát triển thành học thuyết “Trí tuệ nhập thân”, chủ trƣơng nghiên cứu
sự phụ thuộc của những năng lực tƣ duy của con ngƣời và những quan niệm
về thế giới, kể cả những hệ thống triết học vào những đặc điểm cấu tạo của cơ
thể con ngƣời và bộ não con ngƣời.
Kể từ lần đầu tiên phát hiện ra ẩn dụ ý niệm, các nhà nghiên cứu trong
các lĩnh vực khoa học nhƣ lý thuyết văn học, nghiên cứu pháp luật, ngôn ngữ
học và triết học đã thực hiện một cách thú vị ứng dụng của lý thuyết này. Họ
đã xác định đƣợc ẩn dụ ý niệm nằm ở trung tâm của pháp luật, thơ ca, chính
trị, tâm lý học, vật lý, khoa học máy tính, toán học và triết học. Nghiên cứu
có nhận thức chung về các loại thực phẩm ngon bao gồm kẹo, mật ong,
đƣờng, sữa và sử dụng nó nhƣ một miền nguồn để nói về phụ nữ và tình yêu.
Johansson (2016) [38] nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong lời bài hát A
Thousand Kissed Deep, Here it is và Boogie Street từ album Ten New Songs
(2001) của Leonard Cohen. Các ẩn dụ ý niệm đƣợc khai thác và phân tích
thuộc về miền đích TÌNH YÊU, SỰ SỐNG, và CÁI CHẾT. Lý do để tác giả
lựa chọn ca từ trong 3 ca khúc này để nghiên cứu là bởi giữa chúng có sự kết
nối với nhau và cùng nằm trong hệ thống ý niệm của con ngƣời về tình yêu,
4
sự sống và cái chết. Thời điểm năm 2001 Leonard Cohen đã nhiều năm không
cho ra mắt album và bƣớc vào thiền viện, núi Baldy ở ngoại ô Los Angeles ở
California. Trong thời gian này, ông sống trong sự cô đơn cùng cực và dƣờng
nhƣ chỉ giao tiếp với chính bản thân mình. Nhiều ngữ cảnh đƣợc sử dụng
trong lời bài hát của Leonard Cohen xuất phát từ Kinh thánh với Ki tô giáo và
Do thái giáo, đƣợc lồng trong chủ đề cuộc sống, tình yêu và cái chết. Cái chết
trong ca khúc phản ánh sự trỗi dậy và sụp đổ của con ngƣời. Thiên đƣờng của
cuộc sống đƣợc phản ánh trong chính cuộc sống trần trụi hàng ngày, và cái
chết thƣờng đƣợc thể hiện bởi miền nguồn bóng đêm.
Harpela (2015) [36] đã lựa chọn khảo sát từ 33/200 ca khúc của
Minogue và tiến hành khảo sát các ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong ca từ nhƣ
TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH, TÌNH YÊU LÀ ÂM NHẠC,
TÌNH YÊU LÀ SỰ VẬN ĐỘNG... Nhạc sĩ Minogue đã sử dụng các phép ẩn
dụ mở rộng và hình thành các chuỗi ẩn dụ trong các ca khúc của mình, kết
hợp với việc sử dụng ngôn ngữ tƣợng trƣng, tạo nên một phong cách nhạc
Pop mới lạ. Với ẩn dụ bản thể về tình yêu liên quan đến miền nguồn vật chứa,
tác giả mong muốn sẽ là một ý tƣởng hấp dẫn để tiếp cận dữ liệu từ quan
điểm của các nghiên cứu về giới hay kỳ thị.
quy ƣớc xã hội và trải nghiệm sống sẽ dẫn đến việc sử dụng và lý giải các ẩn
dụ ý niệm khác nhau. Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về thực vật (Trần Thị Phƣơng
Lý (2008) [21]; Lý Toàn Thắng (2005) [24]; Nguyễn Thị Bích Hạnh (2015)
[13],…) là các nghiên cứu tìm hiểu phƣơng thức chuyển di ý niệm từ miền
nguồn thực vật (cây cỏ) sang miền đích con ngƣời, dựa trên các nền tảng kinh
nghiệm phổ quát cho phép thực hiện sự nhận thức thông qua con đƣờng chuyển
di này, từ đó chỉ ra cách thức tri nhận của ngƣời Việt thông qua mô hình chuyển
di ý niệm về thực vật, phản ánh “thế giới quan” và “cách nhìn thế giới” của
ngƣời Việt. Ngoài ra, còn các hƣớng nghiên cứu vai trò của ẩn dụ ý niệm trong
sự hành chức cụ thể qua các tác phẩm văn, thơ (Lê Thị Ánh Hiền (2009) [14],
Nguyễn Thị Bích Hạnh (2009) [11], Võ Thị Dung (2003) [7], Nguyễn Thị
Thùy (2013) [28]…)
6
Luận vận đậy đu ở file:Luận vận Full