VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THANH HÀ
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG CA TỪ
CỦA NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN CHUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THANH HÀ
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU TRONG CA TỪ
CỦA NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN CHUNG
Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 8 22 90 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH
HÀ NỘI - 2018
Trang
MỞ ĐẦU……………………………………………………………..
1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN……………………………………
13
1.1. Ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm…………………………………………...
13
1.1.1. Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống……………………………
13
1.1.2. Ẩn dụ ý niệm…………………………………………………...
16
1.1.3. Sơ đồ hình ảnh………………………………………………….
19
1.1.4. Ánh xạ ẩn dụ…………………………………………………...
20
30
CHƢƠNG 2: ẨN DỤ CẤU TRÚC VỀ TÌNH YÊU TRONG CA
TỪ CỦA NGUYỄN VĂN CHUNG………………………………...
32
2.1. Ẩn dụ ý niệm tình yêu là một cuộc hành trình………………......
32
2.2. Ẩn dụ ý niệm tình yêu là một giấc mơ…………………………..
43
2.3. Ẩn dụ ý niệm tình yêu là sự say mê……………………………..
45
2.4. Ẩn dụ ý niệm tình yêu là ánh sáng……………………..………..
48
2.5. Tiểu kết…………………………………………………………...
49
CHƢƠNG 3: ẨN DỤ BẢN THỂ VỀ TÌNH YÊU TRONG CA TỪ
CỦA NGUYỄN VĂN CHUNG………………………………...........
70
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ …...
75
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, việc nghiên cứu ngôn ngữ không chỉ tập trung vào việc khảo
sát ngữ liệu hay quan sát trực tiếp ngôn từ mà còn bao gồm nhiều vấn đề liên
quan đến ngôn ngữ nhƣ văn hóa, ý thức, niềm tin, tín ngƣỡng… Nghiên cứu
ngôn ngữ từ bình diện ẩn dụ ý niệm là một trong những khuynh hƣớng nghiên
cứu ngôn ngữ đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nƣớc quan tâm
trong thời gian gần đây.
Có thể thấy rằng nhiều nghiên cứu cũng nhƣ nhận định về ẩn dụ ý niệm
của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam ít nhiều cũng gắn kết hay đồng quan
điểm với các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới nhƣ Lakoff & Johnson
(1980, 2003) [43], Tissari (2001) [46], Montgomery (2002) [44], Kovecses
(2002, 2010) [41],… Trần Văn cơ (2011) [5, tr. 293] cho rằng “ Ẩn dụ tri
nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm) – đó là một trong những hình thức ý niệm
hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý
niệm mới và không có nó thì không thể nhận đƣợc tri thức mới. Về nguồn
gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con ngƣời nắm bắt và tạo ra sự
giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tƣợng khác nhau”. Nói cách
khác, ẩn dụ ý niệm là vấn đề không thể quan sát trực tiếp: con ngƣời giải thích
các hiện tƣợng ngôn ngữ dựa trên sự nhận thức của mình.
Âm nhạc là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi con ngƣời.
Trong những năm qua, lý thuyết của phép ẩn dụ đã phát triển và mở
rộng. Ban đầu, xu hƣớng của các nghiên cứu đều cho rằng phép ẩn dụ ý niệm
chủ yếu đƣợc căn cứ vào kinh nghiệm thân thể, đặc biệt là trong các ý niệm về
cảm xúc của con ngƣời. Sau đó, các nghiên cứu tiếp tục chứng minh rằng ẩn dụ
ý niệm không chỉ nằm ở lĩnh vực thời gian, mà còn ở trong các lĩnh vực nhƣ sự
kiện, nhân quả, đạo đức, pháp luật… Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm tiếp tục phát
2
triển gắn với các lý thuyết thần kinh, các nghiên cứu chỉ ra rằng kinh nghiệm
hàng ngày, kinh nghiệm cảm giác của con ngƣời là cơ sở đƣa ra các đánh giá
chủ quan của nhận thức ngôn ngữ (Kovecses (1990) [39]). Năm 2002,
Fauconnier và Turner [34] đã phát triển một lý thuyết về không gian pha trộn,
là một kiểu không gian tinh thần tƣởng tƣợng kết hợp với lý thuyết thần kinh
của ngôn ngữ, trong đó, các ánh xạ ẩn dụ đƣợc thực hiện trên cơ sở vật lý
giống nhƣ một bản đồ thần kinh, và nhƣ thế chúng tạo thành các cơ chế thần
kinh tự nhiên trong các suy luận ẩn dụ.
Tiếp đó, cùng với một số nhà nghiên cứu khác, Lakoff (1980) [43] đã
phát triển tƣ tƣởng về vai trò của ẩn dụ trong việc hình thành hệ thống ý niệm
của con ngƣời và cấu trúc của ngôn ngữ tự nhiên. Tƣ tƣởng này đã đƣợc
Lakoff phát triển thành học thuyết “Trí tuệ nhập thân”, chủ trƣơng nghiên cứu
sự phụ thuộc của những năng lực tƣ duy của con ngƣời và những quan niệm
về thế giới, kể cả những hệ thống triết học vào những đặc điểm cấu tạo của cơ
thể con ngƣời và bộ não con ngƣời.
Kể từ lần đầu tiên phát hiện ra ẩn dụ ý niệm, các nhà nghiên cứu trong
các lĩnh vực khoa học nhƣ lý thuyết văn học, nghiên cứu pháp luật, ngôn ngữ
học và triết học đã thực hiện một cách thú vị ứng dụng của lý thuyết này. Họ
đã xác định đƣợc ẩn dụ ý niệm nằm ở trung tâm của pháp luật, thơ ca, chính
trị, tâm lý học, vật lý, khoa học máy tính, toán học và triết học. Nghiên cứu
có nhận thức chung về các loại thực phẩm ngon bao gồm kẹo, mật ong,
đƣờng, sữa và sử dụng nó nhƣ một miền nguồn để nói về phụ nữ và tình yêu.
Johansson (2016) [38] nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong lời bài hát A
Thousand Kissed Deep, Here it is và Boogie Street từ album Ten New Songs
(2001) của Leonard Cohen. Các ẩn dụ ý niệm đƣợc khai thác và phân tích
thuộc về miền đích TÌNH YÊU, SỰ SỐNG, và CÁI CHẾT. Lý do để tác giả
lựa chọn ca từ trong 3 ca khúc này để nghiên cứu là bởi giữa chúng có sự kết
nối với nhau và cùng nằm trong hệ thống ý niệm của con ngƣời về tình yêu,
4
sự sống và cái chết. Thời điểm năm 2001 Leonard Cohen đã nhiều năm không
cho ra mắt album và bƣớc vào thiền viện, núi Baldy ở ngoại ô Los Angeles ở
California. Trong thời gian này, ông sống trong sự cô đơn cùng cực và dƣờng
nhƣ chỉ giao tiếp với chính bản thân mình. Nhiều ngữ cảnh đƣợc sử dụng
trong lời bài hát của Leonard Cohen xuất phát từ Kinh thánh với Ki tô giáo và
Do thái giáo, đƣợc lồng trong chủ đề cuộc sống, tình yêu và cái chết. Cái chết
trong ca khúc phản ánh sự trỗi dậy và sụp đổ của con ngƣời. Thiên đƣờng của
cuộc sống đƣợc phản ánh trong chính cuộc sống trần trụi hàng ngày, và cái
chết thƣờng đƣợc thể hiện bởi miền nguồn bóng đêm.
Harpela (2015) [36] đã lựa chọn khảo sát từ 33/200 ca khúc của
Minogue và tiến hành khảo sát các ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong ca từ nhƣ
TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH, TÌNH YÊU LÀ ÂM NHẠC,
TÌNH YÊU LÀ SỰ VẬN ĐỘNG... Nhạc sĩ Minogue đã sử dụng các phép ẩn
dụ mở rộng và hình thành các chuỗi ẩn dụ trong các ca khúc của mình, kết
hợp với việc sử dụng ngôn ngữ tƣợng trƣng, tạo nên một phong cách nhạc
Pop mới lạ. Với ẩn dụ bản thể về tình yêu liên quan đến miền nguồn vật chứa,
tác giả mong muốn sẽ là một ý tƣởng hấp dẫn để tiếp cận dữ liệu từ quan
điểm của các nghiên cứu về giới hay kỳ thị.
quy ƣớc xã hội và trải nghiệm sống sẽ dẫn đến việc sử dụng và lý giải các ẩn
dụ ý niệm khác nhau. Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về thực vật (Trần Thị Phƣơng
Lý (2008) [21]; Lý Toàn Thắng (2005) [24]; Nguyễn Thị Bích Hạnh (2015)
[13],…) là các nghiên cứu tìm hiểu phƣơng thức chuyển di ý niệm từ miền
nguồn thực vật (cây cỏ) sang miền đích con ngƣời, dựa trên các nền tảng kinh
nghiệm phổ quát cho phép thực hiện sự nhận thức thông qua con đƣờng chuyển
di này, từ đó chỉ ra cách thức tri nhận của ngƣời Việt thông qua mô hình chuyển
di ý niệm về thực vật, phản ánh “thế giới quan” và “cách nhìn thế giới” của
ngƣời Việt. Ngoài ra, còn các hƣớng nghiên cứu vai trò của ẩn dụ ý niệm trong
sự hành chức cụ thể qua các tác phẩm văn, thơ (Lê Thị Ánh Hiền (2009) [14],
Nguyễn Thị Bích Hạnh (2009) [11], Võ Thị Dung (2003) [7], Nguyễn Thị
Thùy (2013) [28]…)
6
Cho tới nay, nghiên cứu ẩn dụ ý niệm riêng biệt về tình yêu không nhiều,
chủ yếu xuất hiện ở một số công trình luận án, luận văn hoặc bài viết, có thể kể
đến nhƣ “Cấu trúc ý niệm tình yêu trong ca từ của nhạc sĩ Diên An” của Phạm
Văn Thỏa (2015) [27]. Trong bài viết này, tác giả có đƣa ra bốn mô hình ẩn dụ
ý niệm tình yêu trong ca từ của Diên An gồm: TÌNH YÊU LÀ CON NGƢỜI,
TÌNH YÊU LÀ CUỘC ĐỜI, TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, và TÌNH
YÊU LÀ KHÔNG GIAN. Cũng trong ngữ liệu ca từ của Diên An, tác giả đƣa
ra các ẩn dụ ý niệm ý niệm về hạnh phúc và buồn nhƣ HẠNH PHÖC LÀ GIA
VỊ, HẠNH PHÖC LÀ SỰ ẤM ÁP, HẠNH PHÖC LÀ SỰ MẤT TRÍ, HẠNH
PHÖC LÀ ÂM THANH, BUỒN LÀ VẬT THỂ, BUỒN LÀ VỊ GIÁC, BUỒN
LÀ ÂM THANH, BUỒN LÀ ĐAU ĐỚN… Tất cả cùng cấu trúc nên ý niệm
về tình yêu trong các ca khúc của nhạc sĩ. Trong bài viết “Về bốn ẩn dụ ý niệm
trong thơ Nguyễn Bính”, tác giả Phan Ngọc Trần (2014) [32] có nghiên cứu 3
ẩn dụ ý niệm về tình yêu, đó là HÔN NHÂN LÀ CHUYẾN ĐÕ NGANG,
miền nguồn “cuộc hành trình”, các trạng thái của cuộc hành trình trong đời
ngƣời nhƣ gặp phải sự cố, băn khoăn trong lựa chọn hƣớng đi, ngã rẽ, điểm
dừng, đích đến…đều có gắn với tình yêu của con ngƣời, trong đó, trạng thái
mệt mỏi, rã cánh, tuyệt vọng trong tình yêu luôn đi kèm với hứng khởi, phấn
chấn, hi vọng… Nguyễn Thị Thùy (2013) [28] trong luận văn thạc sĩ “Ẩn dụ tri
nh n trong thơ Xuân Diệu” có đề cập đến một số ẩn dụ tình yêu trong thơ
Xuân Diệu nhƣ SỨ GIẢ TÌNH YÊU LÀ CHIM VÀ CÁ, ĐÔI UYÊN ƢƠNG
LÀ CHIM (hay ONG) VÀ BƢỚM.
Tóm lại, cũng giống nhƣ các bộ môn có tính chất liên ngành ở Việt
Nam, những vấn đề về ngôn ngữ học tri nhận nói chung và lý thuyết ẩn dụ ý
niệm nói riêng trong mấy năm qua đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu. Các lĩnh vực đƣợc giới nghiên cứu quan tâm nhiều nhất nhƣ cách
thức tri nhận và định vị không gian, thời gian; các ẩn dụ ý niệm cảm xúc; ẩn
dụ ý niệm của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời; ẩn dụ ý niệm thực vật; ẩn
8
dụ môi trƣờng tự nhiên hay hoạt động của con ngƣời; ẩn dụ trong sự hành
chức cụ thể trong các tác phẩm thi ca… Tuy nhiên, ẩn dụ ý niệm xét trong sự
hành chức trong các tác phẩm âm nhạc, đặc biệt là thể hiện trong các văn bản
ca từ là lĩnh vực chƣa dành đƣợc nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu, cần
tiếp tục đƣợc quan tâm khai thác.
2.2. Nguyễn Văn Chung và các nội dung sáng tác
Nguyễn Văn Chung sinh ngày 12 tháng 4 năm 1983 tại thành phố Hồ
Chí Minh. Tốt nghiệp bậc Trung học tại trƣờng Lê Hồng Phong, anh theo học
tại Khoa Ngoại ngữ, chuyên ngành Du lịch, Đại học Ngoại ngữ - Tin học tại
thành phố Hồ Chí Minh. Năm nhất đại học, Nguyễn Văn Chung đã yêu một
cô gái ở Long Xuyên. Một thời gian sau đó, ngƣời con gái này di cƣ, Nguyễn
Văn Chung không nhận đƣợc bất cứ tin tức nào về cô nữa. Lúc này, anh bắt
Văn Chung. Dƣới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, các mô hình ẩn dụ ý
niệm đƣợc khai thác, giải mã và suy nghiệm dựa trên thuyết nghiệm thân, các
trải nghiệm sinh học, vật lý, các cơ chế thần kinh và phản xạ hành vi. Từ đó,
có thể làm sáng tỏ tính khác biệt về phong cách và cá tính sáng tạo của ngƣời
nghệ sĩ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các ca
khúc viết về tình yêu trong hệ thống những sáng tác của Nguyễn Văn Chung.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu về ẩn
dụ ý niệm trong ca từ của Nguyễn Văn Chung, đƣợc khảo sát từ gần 100 ca
khúc của tác giả đƣợc phổ biến rộng rãi, còn các vấn đề khác về ngôn ngữ liên
quan đến tri nhận ngôn ngữ nói chung chỉ đƣợc nhắc đến nhƣ một phƣơng
tiện để làm sáng rõ hơn các mô hình ẩn dụ ý niệm trong phạm vi nghiên cứu
của đề tài.
Do dung lƣợng luận văn có hạn, luận văn chỉ dừng lại ở việc khảo sát ẩn
dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể trong các ca khúc của Nguyễn Văn Chung. Ẩn dụ
10
định hƣớng xuất hiện không nhiều và không điển hình nên không đƣợc đề cập
đến trong nghiên cứu này.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn có sử dụng kết hợp các phƣơng pháp và thủ pháp nghiên cứu
sau:
- Ph ơng pháp miêu tả: đƣợc dùng để miêu tả, phân tích cơ chế chiếu
xạ trong cách ý niệm hóa các mô hình ẩn dụ ý niệm trong ca từ Nguyễn Văn
Chung.
- Ph ơng pháp phân tích ng nghĩa Ca từ của Nguyễn Văn Chung
đƣợc xem nhƣ một hệ thống những ý niệm (hay hệ thống từ vựng tinh thần).
luận văn đã dùng các mô hình ý niệm của ngôn ngữ học tri nhận để lý giải các
thao tác tƣ duy, các lƣợc đồ tƣ duy về tình yêu trong ca từ Nguyễn Văn
Chung – điều tạo nên phong cách cá nhân của nhạc sĩ.
Kết quả nghiên cứu của luận văn ngoài ý nghĩa giúp ngƣời đọc, ngƣời
nghe hiểu sâu sắc hơn về âm nhạc và tâm hồn của nhạc sĩ Nguyễn Văn
Chung, còn có thể ứng dụng vào việc giảng dạy trong lĩnh vực phong cách
học, phong cách sáng tác ca từ.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn
đƣợc bố cục thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận
Chƣơng 2: Ẩn dụ cấu trúc về tình yêu trong ca từ của Nguyễn Văn
Chung
Chƣơng 3: Ẩn dụ bản thể về tình yêu trong ca từ của Nguyễn Văn
Chung
12
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm
Ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm là hai khái niệm đƣợc nhắc đến khá nhiều trong
các nghiên cứu về ngôn ngữ trong và ngoài nƣớc từ trƣớc tới nay. Nội dung
nghiên cứu của luận văn liên quan trực tiếp tới hai khái niệm này. Vì vậy, việc
làm sáng tỏ các khái niệm này là hết sức cần thiết.
1.1.1. Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống
Ẩn dụ là một phần của việc sử dụng ngôn ngữ một cách bóng bảy.
Theo Kovecses (2002, 2010) [41, tr. ix-x], phần lớn mọi ngƣời có xu hƣớng
hiểu ẩn dụ là những hình thái của lời nói để so sánh thứ này với thứ khác, ví
ví von, chúng ta so sánh tình yêu với một chuyến tàu và chúng ta muốn nói
rằng chúng có những đặc điểm giống nhau – chúng ta có thể coi tình yêu sôi
động nhƣ một chuyến tàu hay cũng có thể coi tình yêu là sự thăng trầm nhƣ
chuyến đi của một con tàu. Nói cách khác, chúng ta mở rộng các đặc điểm
(hay một số đặc điểm) mà chúng ta thƣờng kết nối một chuyến tàu với tình
yêu.
Trong khi ví von cho chúng ta biết thứ gì giống thứ gì thì ẩn dụ đơn
giản khẳng định thứ gì là thứ gì. Không chỉ truyền tải sự tƣơng đồng giữa
những điều đƣợc so sánh mà ẩn dụ còn chỉ ra rằng chúng là một. Bằng việc sử
dụng lại ví dụ trên, chúng ta có thể nói rằng tình yêu là một chuyến tàu, và
nhƣ vậy cả hai là một. Ẩn dụ này nói lên cả hai có những đặc điểm nhƣ nhau;
tình yêu đƣợc so sánh hoàn toàn với một chuyến tàu. Việc so sánh hai đối
tƣợng này theo ngôn ngữ bóng bảy đƣợc đơn giản hoá nhƣ sau:
Ẩn dụ
Tình yêu là một chuyến tàu
= X là Y
Ví von
Tình yêu giống nhƣ một chuyến tàu
= X giống nhƣ Y
14
Nhƣ vậy, chúng ta có thể nói rằng ẩn dụ thay đổi thứ gì thành thứ gì đó.
Ẩn dụ nói X là Y, thực tế theo cách này X chuyển thành Y, trong khi đó ví
Ẩn dụ cũng có thể đƣợc phân loại dựa trên sự chuyển di nghĩa hay mở
rộng nghĩa. Montgomery và các cộng sự (2007) [44, tr. 124] đề cập đến ẩn dụ
vật chất, ẩn dụ động vật và ẩn dụ con ngƣời. Họ cho rằng ẩn dụ vật chất sử
dụng một khái niệm vật chất khi nói về một thứ trừu tƣợng, ẩn dụ động vật
kết nối với khái niệm gắn với động vật để nói về một điều phi động vật, và ẩn
dụ con ngƣời sử dụng khái niệm liên quan đến loài ngƣời để nói về những
điều không phải con ngƣời. Ngoài ẩn dụ và ví von còn tồn tại một số loại hình
sử dụng ngôn ngữ một cách bóng bảy khác nhƣ hoán dụ, phúng dụ...
1.1.2. Ẩn dụ ý niệm
Lakoff và Johnson (2003) [43, tr. 3] đã đƣa ra quan điểm mang tính đột
phá về lý thuyết ẩn dụ cơ bản trong cuốn sách Metaphors We Live by. Hai tác
giả này không coi ẩn dụ đơn giản là một phƣơng thức tƣởng tƣợng và diễn đạt
thi vị và hoa mỹ hay một phƣơng thức giản đơn của việc sử dụng ngôn ngữ
một cách khác thƣờng với rất ít hoặc không có kết nối với hành động và tƣ
duy của con ngƣời nhƣ đã đƣợc hiểu theo các thuyết về ẩn dụ thƣờng thấy.
Lakoff và Johnson cho rằng thực tế ẩn dụ hiện hữu trong đời sống hằng ngày
của chúng ta – không chỉ trong ngôn ngữ mà trong cả tƣ duy và hành động
của chúng ta. Bản chất mở rộng của ẩn dụ này xuất phát từ một thực tế là bản
chất của hệ thống ý niệm thông thƣờng về cơ bản có tính ẩn dụ, và các khái
niệm chi phối tƣ duy của chúng ta không chỉ là vấn đề trí tuệ mà chúng còn
chi phối mọi chức năng hằng ngày của chúng ta. Chính những khái niệm này
cấu trúc những điều chúng ta tiếp nhận và thậm chí cả cách mà chúng ta liên
hệ với những ngƣời khác. Điều này có nghĩa là hệ thống ý niệm của chúng ta
đóng một vai trò cốt yếu trong việc định nghĩa thực tế diễn ra hằng ngày. Nhƣ
vậy, hiển nhiên bản chất ẩn dụ của hệ thống ý niệm mà đơn giản là ẩn dụ xuất
16
hiện ở mọi lúc, mọi nơi theo cách mà chúng ta tƣ duy, những gì mà chúng ta
tƣ thế thẳng đứng ứng với cảm giác tích cực. Trong phạm vi ẩn dụ ý niệm,
Lakoff và Johnson đƣa ra mô hình của ẩn dụ không gian là HẠNH PHÖC
HƢỚNG LÊN và NỖI BUỒN HƢỚNG XUỐNG. Từ mô hình này chúng ta
dễ dàng đƣa ra những mô hình đối lập tƣơng tự nhƣ lên-xuống, trong-ngoài,
cao-thấp, gần-xa hay đây-đó.
„Ẩn dụ cấu trúc‟ xảy ra khi một khái niệm đƣợc cấu trúc bởi một khái
niệm khác bằng phép ẩn dụ (Lakoff và Johnson) (2003) [43, tr. 61] . Chúng ta
có thể đƣa ra một số ví dụ điển hình nhƣ TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH
TRÌNH hay TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH. Ở đây, miền nguồn có
thiên hƣớng cụ thể hơn (CUỘC HÀNH TRÌNH, CHIẾN TRANH) đƣợc sử
dụng để đơn giản hoá miền đích phức tạp hơn (TÌNH YÊU, TRANH LUẬN).
Theo Lakoff và Johnson (2003) [43], miền nguồn có tính gần gũi hơn đƣa ra
một số bình diện tới một miền xa lạ hơn làm cho nó dễ tiếp cận và dễ hiểu
hơn. Đặc biệt, ẩn dụ cấu trúc có thể đƣợc hiểu thông qua cặp miền đích và
miền nguồn, và chúng cung cấp miền nguồn phong phú nhất cho các khái
niệm phức tạp.
„Ẩn dụ bản thể‟ thƣờng thể hiện điều gì đó trừu tƣợng thông qua điều
gì đó cụ thể. Theo Kovecses (2002, 2010) [41, tr. 39] ẩn dụ bản thể cho phép
chúng ta đƣa ra một số cấu trúc cho những khái niệm trong đó cấu trúc thuần
tuý là không rõ ràng hay lỗi thời. Lakoff và Johnson (2003) [43, tr. 25-28] chỉ
ra rằng sự hiểu biết của chúng ta về những trải nghiệm liên quan đến đồ vật,
vật chất cho phép chúng ta đƣa ra lý do về chúng và làm cho chúng cụ thể
hơn. Chúng ta đƣa ra hình thái của các thực thể, vật chất cho các sự kiện, hoạt
động, cảm xúc, ý tƣởng… thì đƣợc gọi là ẩn dụ bản thể (ví dụ: LẠM PHÁT
LÀ MỘT THỰC THỂ, TRÍ ÓC LÀ MỘT CỖ MÁY…). Lakoff và Johnson
cũng lƣu ý rằng ẩn dụ bản thể thƣờng có phạm ví hẹp và rất giới hạn.
18