ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN VĂN NAM
ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU
TRONG THƠ MỚI 1932 - 1945
(Trên cứ liệu Thi nhân Việt Nam
và thơ Xuân Diệu, Nguyễn Bính)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã ngành: 9 22 01 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2017
Công trình đƣợc hoàn thành tại:
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TSKH. Lý Toàn Thắng
Phản biện 1:………………………………………………
Phản biện 2:………………………………………………
Phản biện 3:……………………………………………….
Luận án sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận án cấp Trƣờng
họp tại: TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ học truyền thống nghiên cứu ẩn dụ trên bề mặt cấu
trúc nên chƣa khám phá hết những nét độc đáo của tƣ duy con ngƣời
thể hiện trong đó. Đồng thời, chƣa nhận thấy đƣợc vai trò quan trọng
của ngƣời sáng tạo ra nó.
1.2. Ngôn ngữ học tri nhận quan tâm nghiên cứu ẩn dụ không chỉ
bề mặt mà còn trong mối quan hệ với tƣ duy và liên ngành khoa học
khác. Từ đó thấy đƣợc sức mạnh của ẩn dụ ý niệm đối với thi ca nhất
là quá trình phản ánh tƣ duy của con ngƣời trong ẩn dụ ý niệm.
1.3. Nghiên cứu thi ca theo lý thuyết tri nhận là một hƣớng đi tích
cực. Đặc biệt, tập trung nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong sáng tác của
một tập thể tác giả là điều chƣa ai thực hiện.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề Ẩn dụ ý niệm về tình
yêu trong Thơ mới 1932 - 1945 để làm đề tài luận án tiến sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
- Góp phần khẳng định tính đúng đắn của việc áp dụng lý thuyết tri
nhận vào nghiên cứu thi ca, kiểm nghiệm giả thuyết về mối quan hệ
ngôn ngữ - văn hóa và tƣ duy trong thi ca dƣới góc nhìn của ngôn ngữ
học tri nhận, từ đó thấy đƣợc giá trị của ẩn dụ ý niệm trong thi ca.
- Qua so sánh đối chiếu với hệ thống các ẩn dụ ý niệm về tình yêu
ở một số tác phẩm thơ trung đại tiêu biểu, ngƣời viết chỉ ra đƣợc sự
độc đáo trong cách ý niệm hóa tình yêu của các nhà thơ mới gắn với
lối tƣ duy thời đại; đồng thời qua so sánh các ẩn dụ ý niệm tình yêu
của hai nhà thơ Xuân Diệu và Nguyễn Bính để chỉ ra đƣợc sự khác
biệt rõ rệt về tƣ duy tạo nên cá tính của mỗi nhà thơ.
2
2.2. Nhiệm vụ
4.1. Phương pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp miêu tả: Phƣơng pháp miêu tả đƣợc dùng để diễn
đạt chính xác các hiện tƣợng ngôn ngữ (cơ chế ẩn dụ hóa, quy trình
chiếu xạ, miền nguồn và miền đích, sự tƣơng đồng giữa miền nguồn
và miền đích ...)
4.2. Thủ pháp nghiên cứu
- Thủ pháp thống kê, phân loại:Đƣợc dùng để phân loại các ẩn dụ
và chỉ ra mức độ phổ biến của từng loại ẩn dụ ý niệm về tình yêu
trong Thơ mới.
- Thủ pháp phân tích định tính:Dùng để phân tích các ẩn dụ ý
niệm, các quá trình chiếu xạ trong các lƣợc đồ tri nhận, mô tả các ý
niệm kết hợp với số lƣợng các ẩn dụ.
- Thủ pháp so sánh đối chiếu: Trong quá trình phân tích các ẩn dụ
ý niệm, chúng tôi tiến hành so sánh cách ý niệm hóa tình yêu của các
nhà thơ qua việc sử dụng các kiểu ẩn dụ ý niệm. Với phƣơng pháp
này, nét riêng trong cách ý niệm hóa tình yêu của các nhà thơ mới
đƣợc thể hiện một cách đa chiều và bộc lộ rõ nét hơn.
- Ngoài ra, một số thủ pháp sau đây của ngôn ngữ học tri nhận
cũng đƣợc vận dụng, đó là: thủ pháp nội quan (phán đoán, suy
luận),thủ pháp phân tích ý niệm (dựa vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và văn hóađể thấy đƣợc những cách ý niệm hóa riêng của các nhà thơ
mới trong việc biểu đạt tình yêu).
5. Phạm vi tƣ liệu khảo sát
Với đề tài này, chúng tôi chọn các tƣ liệu sau để khảo sát:
1/ Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh, Hoài Chân)
2/ Thơ Xuân Diệu (Trƣớc năm 1945)
4
3/ Thơ Nguyễn Bính (Trƣớc năm 1945)
nghiên cứu mới, hấp dẫn và thú vị đối với thi ca.
1.1.2. Ở trong nƣớc
Ở Việt Nam, ngoài một số những tri nhận gia tiên phong tiêu biểu
nhƣ Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Đức
Tồn, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp...Gần đây, xuất hiện một
số nhà ngữ học trẻ nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong thơ ca nhƣ: Vũ
Thị Sao Chi, Phạm Thị Thu Thùy, Phạm Minh Châu, Phạm Thị
Hƣơng Quỳnh, Nguyễn Thị Bích Hạnh... Tuy nhiên, các công trình
trên chỉ tập trung nghiên cứu một tác giả. Chính vì vậy, chúng tôi
nghiên cứu đề tài Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong Thơ mới 1932 1945 là một việc làm cần thiết khi tìm hiểu về sáng tác của một tập
thể tác giả.
1.2. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thi ca
Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thi ca thời gian gần
đây tiêu biểu có một số tác giả: Phan Văn Hòa và Hồ Trịnh Quỳnh
Thƣ đi sâu vào phân tích ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH
TRÌNH; Ngũ Thiện Hùng và Trần Thị Thanh Thảo phân tích bảy ẩn
dụ ý niệm về “tình yêu”:TÌNH YÊU LÀ MỘT VẬT THỂ; TÌNH
YÊU LÀ MỘT SINH VẬT; TÌNH YÊU LÀ MỘT HIỆN TƢỢNG
TỰ NHIÊN; TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH; TÌNH
YÊU LÀ CHỐN THIÊN ĐƢỜNG; TÌNH YÊU LÀ MỘT TRÕ
CHƠI; TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC CHIẾN). Nguyễn Thị Quyếtqua
cứ liệu thơ hiện đại của tiếng Anh và tiếng Việt, đã nêu ra sáu ẩn dụ ý
niệm về tình yêu: TÌNH YÊU LÀ VẬT QUÝ GIÁ; TÌNH YÊU LÀ
6
CĂN BỆNH; TÌNH YÊU LÀ CHỦ THỂ CÓ CẢM GIÁC; TÌNH
YÊU LÀ MỘT CHUYẾN ĐI/HÀNH TRÌNH; TÌNH YÊU LÀ HIỆN
TƢỢNG TỰ NHIÊN; TÌNH YÊU LÀ VẬT KẾT NỐI. Trong các
công trình nghiên cứu, chúng tôi chú ý đến sự tập hợp 20 ẩn dụ ý
thống nghiên cứu ẩn dụ trên hai phƣơng diện đó là: một phƣơng thức
chuyển nghĩa và một biện pháp tu từ. Cách hiểu truyền thống cho
rằng, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi của hai sự vật, hiện tƣợng dựa
vào sự tƣơng đồng về một đặc điểm nào đó nhƣ hình thức, trạng thái,
tính chất ...
1.2.1.2. Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận
Ẩn dụ đã đƣợc công nhận thuộc phạm trù tƣ duy, là một thao tác
tinh thần giúp con ngƣời nhận thức và hiểu biết về hiện thực khách
quan sinh động. Theo Lakkoff và Johnson, bản chất cốt lõi của ẩn dụ
chính là hiểu vấn đề này thông qua thuật ngữ của một loại vấn đề
khác bởi các ánh xạ đƣợc hình thành kết nối giữa hai vấn đề đó.
1.2.1.3. Ý niệm và cấu trúc ý niệm
Từ “concept” của tiếng Anh đƣợc dịch thông thƣờng ra tiếng Việt
là “khái niệm”. Tuy nhiên, các nhà ngôn ngữ học tri nhận lại sử dụng
từ “concept” với nghĩa khác rộng hơn từ “khái niệm”, thậm chí còn
bao hàm cả khái niệm, đó là “ý niệm”.Yu. Xtepanov giải thích ý
niệm nhƣ sau: “Ý niệm tựa nhƣ một khối kết đông của nền văn hóa
trong ý thức con ngƣời; dƣới dạng của nó nền văn hóa đi vào thế
giới ý thức (tƣ duy) của con ngƣời, và, mặt khác, ý niệm là cái mà
8
nhờ đó con ngƣời- ngƣời bình thƣờng, không phải là “ngƣời sáng
tạo ra những giá trị văn hóa”- chính con ngƣời đó đi vào văn hóa, và
trong một số trƣờng hợp nhất định có tác độngđến văn hóa”.
Theo Trần Văn Cơ, ý niệm có cấu trúc trƣờng - chức năng đƣợc tổ
chức theo mô hình trung tâm và ngoại vi. Có thể hình dung trƣờng chức năng của ý niệm nhƣ một vòng tròn to có chứa vòng tròn nhỏ
tại tâm và những vòng tròn nhỏ khác giao nhau.
1.2.1.4. Cấu trúc của ẩn dụ ý niệm
Theo các nhà ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ là một cơ chế tri nhận
Phƣơng tiện
Tình yêu của những ngƣời yêu nhau
Cuộc hành trình
Sự kiện trong quan hệ yêu đƣơng
Độ dài của cuộc hành trình
Thời gian duy trì quan hệ yêu đƣơng
Những trở ngại trên hành trình
Những bƣớc ngoặt trong tình yêu
Lựa chọn hƣớng đi
Những lựa chọn trong tình yêu
Điểm kết thúc cuộc hành trình
Đích đến của tình yêu
Nhƣ vậy, ngƣời đọc có thể hiểu những đặc điểm của miền đích
TÌNH YÊU thông qua miền nguồn là CUỘC HÀNH TRÌNH.
1.2.1.5. Các loại ẩn dụ ý niệm
Các nhà ngôn ngữ học tri nhận có nhiều cách phân loại ẩn dụ ý
niệm theo các tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi lựa chọn quan
điểm: ẩn dụ ý niệm có thể chia thành ba loại là ẩn dụ cấu trúc, cấu
phá vỡ quy ƣớc thông thƣờng.
- Đặt câu hỏi: Ngƣời viết có thể nhắc lại những câu hỏi phù hợp
trong ngôn ngữ mà hằng ngày chúng ta thƣờng sử dụng.
- Sự kết nối: Đây là một thao tác bao gộp toàn diện có thể vƣợt lên
trên cả hệ thống ý niệm mà chúng ta sử dụng hằng ngày trên cơ sở
vẫn sử dụng những chất liệu tƣ duy quen thuộc.
11
- Nhân hóa: Đây vốn là một thủ pháp của ẩn dụ đƣợc sử dụng phổ
biến trong văn chƣơng.
1.2.2.2. Nghiệm thân:Là những trải nghiệm của con ngƣời trong
các sáng tác thơ ca.
1.2.2.3. Lƣợc đồ hình ảnh: Là cầu nối giữa miền Nguồn và miền
Đích. Nó mang tính trừu tƣợng, tồn tại trong nhận thức con ngƣời.
1.2.2.4. Không gian tinh thần: Là kết quả những trải nghiệm của
chủ thể về thế giới khách quan theo những cuộc đàm thoại hay suy
nghĩ tạo thành một mạng lƣới.
1.2.2.5. Tính tƣơng hòa văn hóa trong ẩn dụ ý niệm:Ẩn dụ ý niệm
đƣợc tạo nên dựa trên cơ sở nghiệm thân của chủ thể trong nền văn
hóa mà chủ thể sinh sống và trải nghiệm.
1.2.2.6. Sự khác biệt giữa ẩn dụ ý niệm đời thƣờng và ẩn dụ ý
niệm trong thi ca: Ẩn dụ ý niệm trong thi ca khác với ẩn dụ ý niệm
đời thƣờng ở cách thức thể hiện, đối tƣợng tiếp nhận, đối tƣợng
nghiên cứu ...
Tiểu kết chƣơng 1: Chƣơng 1 trình bày về cơ sở lý thuyết làm
nền tảng cơ sở cho việc thực hiện luận án. Đồng thời xác định nền
tảng cơ sở của ẩn dụ ý niệm chính là hệ thông các ý niệm cũng nhƣ
cấu trúc tạo thành một ẩn dụ ý niệm.
TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI (LOVE IS
CLOSENESS)
TÌNH YÊU LÀ CÂY CỎ (LOVE ISA
PLANT)
TÌNH YÊU LÀ SỰ NGÂY NGẤT
(LOVE IS A RAPTURE)
TÌNH YÊU LÀ RƢỢU (LOVE IS THE
WINE)
TÌNH YÊU LÀ SỢI TƠ (LOVE IS A
THREAD)
TÌNH YÊU LÀ CUỘC CHIẾN (LOVE
IS A WAR)
TÌNH YÊU LÀ LỬA (LOVE IS A FIRE)
Số lƣợng
Số lần/266 Tỷ lệ%
56
21.1
36
13.5
35
13.2
28
15
16
17
18
19
20
21
Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong
Thơ mới
TÌNH YÊU LÀ CHẤT LỎNG (LOVE IS
A FLUID )
TÌNH YÊU LÀ SỨC MẠNH HỒI SINH
(LOVE IS A REVIVAL FORCE)
TÌNH YÊU LÀ SỢI DÂY (LOVE IS A
ROPE)
TÌNH YÊU LÀ MÙI HƢƠNG (LOVE IS
THE FRAGRANT )
TÌNH YÊU LÀ KHÖC CA (LOVE IS A
SONG)
TÌNH YÊU LÀ HIỆN TƢỢNG TỰ
NHIÊN (LOVE IS A NATURAL
PHENOMENON)
TÌNH YÊU LÀ DÕNG SÔNG (LOVE IS
A RIVER)
TÌNH YÊU LÀ VẬT MỎNG (LOVE IS
A FRAGILE)
TÌNH YÊU LÀ
VẬT TRAO ĐỔI
(LOVE IS AN EXCHANGE)
1.9
04
1.5
03
1.1
03
1.1
01
0.4
01
0.4
01
0.4
Tổng
266
100
Ngƣời vƣơng tơ
2
Sợi tơ
Miền đích: TÌNH YÊU
Ngƣời yêu nhau
Tình yêu của hai ngƣời yêu
nhau
Bản chất: Mỏng manh, Mỏng manh, dễ rối loạn, dễ chia
3
dễ quấn vào nhau, dễ bị ly
đứt đoạn
4
Trạng thái tồn tại
Trạng thái biểu hiện của tình
yêu
15
Dựa vào lƣợc đồ chiếu xạ, chúng tôi thống kê đƣợc 18/163 biểu
thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ có chứa miền nguồn là sợi tơ. Thuộc
lựa chọn các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích
trong quá trình ý niệm hóa tình yêu.
3.1.1. Chất liệu kiến tạo miền Nguồn
- Miền nguồn trong thơ trung đại đƣợc tạo nên bởi hình ảnh thuộc
các phạm trù cây cỏ, các hiện tƣợng tự nhiên, đồ vật. Trong khi đó
miền nguồn trong thơ mới đƣợc kiến tạo bởi các hình ảnh thuộc
phạm trù con ngƣời. Cụ thể:
Tác phẩm
THƠ TRUNG ĐẠI
THƠ MỚI
Phạm trù
Số lƣợng/198
Tỷ lệ %
Số lƣợng/266
Tỷ lệ %
Thực vật
72
36.4
33
1.5
Đồ vật
22
11.1
7
2.6
Phạm trù âm nhạc
0
0
5
1.9
198
100
266
100
xác thịt, trong khi đó, các nhà thơ trung đại lại chỉ gợi tả quan hệ
giƣờng chiếu.
3) Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỢI TƠ
Các nhà thơ trung đại luôn coi các hình ảnh, biểu tƣợng trong thơ
là những công cụ truyền tải nội dung một cách đơn thuần, khuôn mẫu
thô cứng thì các nhà Thơ mới lại thổi hồn vào các chất liệu cũ ấy tạo
nên hình ảnh mới sống động, giàu sức sống trong thi ca. Vì thế, hình
tƣợng sợi tơ trong Thơ mới mang tâm trạng, đồng điệu tâm hồn với
nhân vật trữ tình trong các sáng tác.
19
3.2. Nét khác biệt trong cách ý niệm hóa tình yêu của Nguyễn
Bính và Xuân Diệu
Sự khác biệt này thể hiện qua việc lựa chọn đối tƣợng nhân vật
trữ tình, ngôn ngữ đƣợc sử dụng để miêu tả các thuộc tính miền
nguồn của ẩn dụ ý niệm cũng nhƣ cách thức ý niệm hóa tình yêu
của hai nhà thơ.
3.2.1. Sự hiện diện của hệ thống nhân vật trữ tình
Đối với Xuân Diệu, sự xuất hiện của ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ
bộc lộ một tƣ duy thơ nổi loạn giữa chốn quần thơ. Đến với thơ Xuân
Diệu trƣớc năm 1945, ngƣời đọc không còn cảm nhận đƣợc hơi thở
của những chàng trai cô gái mặc quần thâm áo nâu sòng nhƣ Nguyễn
Bính mà đó là dáng điệu của nhịp sống mới với quần xoọc, với áo sơ
mi trắng hoặc quần sa tanh với áo pô pơ luyn. Vì thế, ngôn ngữ thơ
của hai nhà thơ cũng có những nét đặc trƣng riêng.Cụ thể:
Tác phẩm
Thơ Nguyễn Bính
2.0
Thực vật
01
0.4
07
4.6
Khu vực
03
1.3
0
0.0
Phƣơng tiện giao thông
01
0.4
0
YÊU LÀ RƢỢU, TÌNH YÊU LÀ CÂY CỎ. Đối với mỗi kiểu ẩn dụ,
việc sử dụng từ ngữ chỉ thuộc tính các ánh xạ của hai nhà thơ có
điểm tƣơng đồng nhƣng cũng có nhiều điểm khác biệt.
3.2.3. Cách thức ý niệm hóa tình yêu
Trong quá trình sáng tác, Nguyễn Bính và Xuân Diệu đã cụ thể
hóa lối tƣ duy sáng tạo của mình bằng việc vận dụng các cơ chế tạo
ẩn dụ một cách linh hoạt để tạo nên những hình tƣợng thơ đẹp, độc
đáo kết dính hài hòa với cảm xúc của nhân vật trữ tình một cách
nhuần nhuyễn. Tuy nhiên, ở hai phong cách thơ, ngƣời đọc sẽ nhận
thấy sự gia giảm, tiết chế các cơ chế tạo ẩn dụ một cách khác nhau
mang cá tính của ngƣời sáng tạo. Sự khác biệt này không chỉ thể hiện
ở những kiểu ẩn dụ ý niệm về tình yêu khác nhau mà còn khác biệt
ngay trong các ẩn dụ ý niệm về tình yêu có cùng một miền nguồn.
1) Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CĂN BỆNH
Nếu Nguyễn Bính tập trung vào những biểu hiện thể hiện triệu
trứng của căn bệnh thì Xuân Diệu lại tập trung khắc họa sự phát tác
ra ngoài của căn bệnh.
2) Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI
Nếu Xuân Diệu tạo cho mình phong cách riêng trong việc khắc
họa sự hòa trộn thể xác cũng nhƣ tâm hồn của nhân vật trữ tình thì
Nguyễn Bính lại tập trung làm nổi bật sự hòa hợp về tâm hồn.
3) Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ LỬA
Với Xuân Diệu, ngọn lửa là biểu là biểu tƣợng cho một tình yêu
nồng cháy thì với Nguyễn Bính ông lại chủ yếu dùng hình ảnh ngọn
lửa lụi tàn để biểu đạt tình yêu tan vỡ.
21
4) Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CÂY CỎ
Với kiểu ẩn dụ này, Nguyễn Bính tập trung khái thác ở khía cạnh
qua cách thức ý niệm hóa tình yêu của các nhà Thơ mới, chúng tôi
nhận thấy đƣợc sự đa dạng trong cách thức biểu đạt, những biến cố,
sự kiện qua sự nghiệm thân, vốn văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ. Bởi
lẽ, ngôn ngữ không quy chiếu trực tiếp đến thực tế khách quan mà
thông qua các ý niệm đƣợc biểu đạt bằng ngôn ngữ.
2. Luận án tập trung giải quyết đƣợc những vấn đề chính đó là:
Tổng hợp và phân loại các kiểu ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong Thơ
mới. Đồng thời, thiết lập đƣợc các mô hình tri nhận cũng nhƣ hệ
thống các thuộc tính đƣợc chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích
TÌNH YÊU. Với sự xuất hiện của 21 ẩn dụ ý niệm về tình yêu, chúng
tôi nhận thấy sự phong phú và đa dạng trong việc lựa chọn các miền
Nguồn để ý niệm hóa tình yêu của các nhà Thơ mới. Trong hệ thống
các ẩn dụ ý niệm về tình yêu đó, sự xuất hiện của các ẩn dụ ý niệm
mang tính phổ quát: TÌNH YÊU LÀ CĂN BỆNH, TÌNH YÊU LÀ
CUỘC HÀNH TRÌNH, TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI ... đan xen
với các kiểu ẩn dụ mang nét đặc thù dân tộc Việt: TÌNH YÊU LÀ
KHÖC CA, TÌNH YÊU LÀ SỢI TƠ... đã bộc lộ sự độc đáo và cá
tính sáng tạo trong tƣ duy của các nhà Thơ mới. Qua quá trình phân
tích các ví dụ, chúng tôi cũng tập trung làm sáng tỏ mối quan hệ giữa
ngôn ngữ, văn hóa và tƣ duy đƣợc thể hiện trong các ẩn dụ ý niệm về
tình yêu của các nhà Thơ mới.
3. Qua so sánh đối chiếu với cách thức ý niệm hóa tình yêu của
các nhà Thơ mới với các nhà thơ trung đại, chúng tôi nhận thấy: Các
nhà thơ ở hai thời kỳ sáng tác khác nhau có sự ý niệm hóa tình yêu