Ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn” trong tiếng Việt - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH HỢP

ẨN DỤ Ý NIỆM MIỀN “ĐỒ ĂN”
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành : Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số

: 62.22.01.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đặng Thị Hảo Tâm

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu thống kê là hoàn toàn trung thực do tôi thực hiện. Đề tài nghiên
cứu và các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất
kì công trình nào khác.
Tác giả luận án

Nguyễn Thị Bích Hợp


LỜI CẢM ƠN
Luận án này được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội với sự

1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 4
5. Đóng góp mới của luận án ..................................................................................... 4
6. Cấu trúc của luận án ............................................................................................... 5
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÍ THUYẾT .............................................................................................................. 6
1.1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu .......................................................................... 6
1.1.1. Sơ lược về Ngôn ngữ học tri nhận và nghiên cứu ẩn dụ ý niệm ..................... 6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ẩm thực trong Ngôn ngữ học tri nhận .............................. 8
1.1.3. Đánh giá chung .............................................................................................. 11
1.2. Cơ sở lí thuyết ................................................................................................... 12
1.2.1. Tính nghiệm thân ........................................................................................... 12
1.2.2. Ý niệm và ẩn dụ ý niệm ................................................................................. 13
1.2.3. Miền, miền nguồn, miền đích và ánh xạ ........................................................ 18
1.2.4. Điển mẫu ........................................................................................................ 22
1.2.5. Mô hình tri nhận ............................................................................................. 22
1.2.6. Pha trộn ý niệm .............................................................................................. 23
Tiểu kết ..................................................................................................................... 25
Chương 2. MIỀN Ý NIỆM “ĐỒ ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT .......................... 26
2.1. Về quan niệm “đồ ăn” ....................................................................................... 26
2.2. Tổ chức của miền ý niệm “đồ ăn” ..................................................................... 28
2.2.1. Ý niệm “đồ ăn”............................................................................................... 29
2.2.2. Các nhóm ý niệm của miền ý niệm “đồ ăn” và điển mẫu .............................. 39
2.2.3. Cấu trúc hình bóng-hình nền của miền ý niệm “đồ ăn” ................................. 44
2.3. Mô hình tri nhận miền ý niệm “đồ ăn” ............................................................. 48


2.3.1. Mô hình mệnh đề ........................................................................................... 48


4.2. Đặc điểm ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” trong tiếng Việt ............................................ 140
4.2.1. Ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” trong tiếng Việt mang tính văn hóa ......................... 140
4.2.2. Ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” trong tiếng Việt mang tính nữ .................................. 142
4.2.3. Ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” trong tiếng Việt mang tính ổn định về tư duy và tính
sáng tạo trong văn học............................................................................................ 144
Tiểu kết ................................................................................................................... 147
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 148
CHÚ THÍCH ................................................................................................................... 151

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ .............. 153
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 154
DANH MỤC NGUỒN NGỮ LIỆU..................................................................... 166
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2.1.1h. Các thành tố của khái niệm “đồ ăn” ................................................ 36
Bảng 2.2.1.1i. Kết quả khảo sát mức độ KHÔNG liên quan của các yếu tố
đến đồ ăn .................................................................................................................. 37
Bảng 2.2.2.1a. Thống kê ý niệm thuộc miền “đồ ăn” .............................................. 39
Biểu đồ 2.2.2.1b. Tỉ lệ các ý niệm trong miền “đồ ăn”............................................ 41
Bảng 2.2.2.2a. Các ý niệm tiêu biểu của miền “đồ ăn” ........................................... 42
Bảng 2.2.2.2b. Các ý niệm tiêu biểu theo điều tra xã hội học ................................. 43
Bảng 2.2.2.2c. Các điển mẫu trong miền “đồ ăn” .................................................... 44
Bảng 2.2.3c. So sánh ý niệm tương ứng trên hai hình nền “đồ ăn”
và “cơ thể sinh vật” .................................................................................................. 47
Bảng 3.2.1.2a. Các cặp khái niệm không gian tiếng Việt ........................................ 75



Hình 3.2.1.2b. Ánh xạ từ miền nguồn “phương hướng” tới miền đích “mùi vị” .... 77
Hình 3.2.2.1a. Lược đồ ánh xạ từ miền nguồn “đồ ăn” đến miền đích “thời gian” . 78
Hình 3.2.2.1b. Lược đồ ánh xạ từ ý niệm “món ăn” đến ý niệm “đơn vị thời gian” .... 79
Hình 3.2.2.2a. Lược đồ ánh xạ từ miền nguồn “đồ ăn” đến miền đích “con người” .... 80


Hình 3.2.2.2b. Lược đồ ánh xạ từ miền nguồn “đồ ăn” đến miền đích “tư tưởng” ...... 81
Hình 3.2.2.3a. Lược đồ ánh xạ từ miền nguồn “đồ ăn” đến miền đích
“tự nhiên-xã hội” ...................................................................................................... 82
Hình 3.2.2.3b. Lược đồ ánh xạ từ miền nguồn “hoạt động liên quan đến đồ ăn”
đến miền đích “hoạt động tự nhiên-xã hội” ............................................................. 83
Hình 3.2. Bản đồ ánh xạ qua miền trung tâm “đồ ăn” ............................................. 85
Hình 3.3.1a. Mô hình pha trộn ý niệm “bánh vẽ” .................................................... 86
Hình 3.3.1b. Mô hình pha trộn ý niệm “mặt thớt” ................................................... 87
Hình 3.3.2a. Mô hình pha trộn ý niệm “nấu cháo điện thoại” ................................. 88
Hình 3.2.2b. Mô hình pha trộn ẩn dụ ý niệm “VỢ CHỒNG LÀ ĐÔI ĐŨA” ......... 89
Hình 3.3.3a. Mô hình pha trộn ẩn dụ ý niệm “no mắt” ............................................ 91
Hình 3.3.3b. Mô hình tri nhận của ẩn dụ “bữa tiệc ấm cúng” ................................. 92
Hình 4.2.1.1a. Sơ đồ miêu tả quá trình hình thành và biến chất của đồ ăn............ 111
Hình 4.2.1.1b. Mô hình tri nhận ẩn dụ định hướng ĐỒ ĂN TỐT LÀ LÊN .......... 118


DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, LƯỢC ĐỒ

Biểu đồ 2.2.2.1b. Tỉ lệ các ý niệm trong miền “đồ ăn”............................................ 41
Sơ đồ 3.2.1.1h. Mô hình tri nhận ý niệm thực thể “bữa” ......................................... 72
Lược đồ 2.2.1.1b: Cấu trúc hạt nhân của ý niệm “đồ ăn” ........................................ 31
Lược đồ 2.2.1.1g: Cấu trúc hạt nhân của ý niệm “ăn” ............................................. 35
Lược đồ 2.2.3a. Các vùng nền của miền ý niệm “đồ ăn” ........................................ 46
Lược đồ 2.2.3b: Hình bóng-hình nền của ý niệm “Ruột”, “Lòng” .......................... 46

1.2. Ngôn ngữ phản ánh hiện thực nhưng không đơn thuần là tấm gương
phẳng, đó là sự phản chiếu qua lăng kính chủ quan, theo quan điểm của khoa học tri
nhận: ngôn ngữ là công cụ tri nhận của con người. Trong đó, ẩn dụ là một trong
những công cụ tiêu biểu và hiệu quả. Ngôn ngữ học cấu trúc, Văn học… đã xem ẩn
dụ là cách diễn đạt bóng bẩy, mang giá trị tu từ, đem lại hiệu quả thẩm mĩ cao và
được nghiên cứu chủ yếu ở góc độ tu từ, không liên quan đến tư duy, tâm trí.
Ngôn ngữ học tri nhận đã kéo ẩn dụ sang vùng nghiên cứu mới, đặt trong mối
tương quan giữa ngôn ngữ - tâm lí. Kể từ công trình kinh điển Metaphors We Live By
[149] của G. Lakoff và M. Johnson, ẩn dụ vượt ra hẳn phạm vi Ngôn ngữ học, là đối


2

tượng nghiên cứu của khoa học liên ngành. Ẩn dụ không chỉ xuất hiện trong thơ ca
mà còn thể hiện vai trò trong mọi lĩnh vực: đời thường, kinh tế, ngoại giao, quảng
cáo, khoa học, điện ảnh, chính trị…
Ở Việt Nam, đã có hàng trăm công trình, bài viết bàn luận, vận dụng lí thuyết
Ngôn ngữ học tri nhận để nghiên cứu Việt ngữ, trong đó đa số quan tâm đến ẩn dụ ý
niệm. Trào lưu này đã tạo nên một vòng xoáy khá lớn thu hút về mình cả những
nghiên cứu ở những góc độ, lĩnh vực dường như độc lập với tri nhận. Có thể nói,
Ngôn ngữ học tri nhận nói chung, ẩn dụ ý niệm nói riêng đang nhận được sự chú ý
của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, bước đầu khẳng định được vai trò của mình
trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ từ góc độ tâm lí, tư duy và văn hóa.
1.3. Mặc dù số lượng khá lớn, nhưng trong số các nghiên cứu Ngôn ngữ học
tri nhận đã có ở Việt Nam, chưa có công trình độc lập nào tìm hiểu về đối tượng ẩm
thực trong ngôn ngữ Việt. Các ẩn dụ nổi bật – đã được bàn bạc nhiều chủ yếu liên
quan tới các ý niệm tình cảm, thực vật, hành trình, bộ phận cơ thể… Kết quả
nghiên cứu về nhóm đối tượng này còn tương đối đơn sắc, đa phần liệt kê các ẩn
dụ, hoặc minh họa ẩn dụ có sẵn trong tiếng Anh, chỉ ra miền nguồn-đích. Hiện thực
đó chưa đi tới bề sâu của vấn đề, chưa trả lời được nhiều câu hỏi mang tính chất tri

- Hệ thống hóa các vấn đề Ngôn ngữ học tri nhận làm cơ sở lí thuyết trực tiếp
cho đề tài.
- Tìm hiểu ý niệm “đồ ăn” và miền ý niệm “đồ ăn” trong tiếng Việt; xây dựng
cấu trúc của miền, xác định và phân tích điển mẫu thông qua phân tích khối liệu và
điều tra xã hội học.
- Khảo sát, nghiên cứu các miền ý niệm khác có quan hệ ẩn dụ với miền ý niệm “đồ
ăn”, xác lập hệ thống ánh xạ, nhận diện cơ chế ánh xạ và hòa trộn ý niệm giữa các miền.
- Thống kê, phân loại, phân tích các ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” nổi bật.
- Chắt lọc và lí giải những giá trị văn hóa, bản sắc tư duy dân tộc qua ẩn dụ ý
niệm “đồ ăn”.
- So sánh, đối chiếu với tiếng Anh trong các trường hợp cần thiết: giá trị tri
nhận tương đương nhưng khác biệt về phương thức; hoặc phương thức tương tự nhưng
có ý nghĩa khác.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ nội hàm tri nhận, cấu trúc, đặc
trưng, cơ chế hoạt động và các vấn đề liên quan của hệ thống ẩn dụ ý niệm miền
“đồ ăn” trong tiếng Việt.


4
3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án là hệ thống ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn” tiếng
Việt từ truyền thống đến hiện đại, trong mối quan hệ tổng thể từ miền nguồn, miền
đích, hệ thống ánh xạ và các giá trị văn hóa, tư duy liên quan.
Đề tài chủ yếu tiến hành khảo sát ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn” thông qua
ngôn ngữ tự nhiên, ca dao, tục ngữ, thành ngữ - nơi lưu giữ quan niệm sống, tri
thức văn hóa dân gian của người Việt; ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học
Việt Nam hiện đại, phim ảnh, báo chí đương thời để nhận diện ẩn dụ ý niệm

là hình thái tu từ của thi ca mà còn là vấn đề của tư duy, là một công cụ quan trọng
để con người nhận thức thế giới.
5.2. Về thực tiễn
Luận án là công trình vận dụng lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận vào thực tiễn
tiếng Việt, kết quả nghiên cứu của luận án có thể phác họa bức tranh tổng quát về
ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn”, lí giải những hiện tượng ngôn ngữ có liên quan đến ẩn
dụ “đồ ăn” trong thực tiễn giao tiếp, ứng dụng vào việc giảng dạy tiếng Việt, hoặc
sử dụng như một ví dụ về để truyền bá – giới thiệu văn hóa Việt Nam.
Tóm lại, luận án là công trình bậc tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu
chuyên sâu về ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn” theo quan điểm ngôn ngữ tri nhận. Trong
khuôn khổ một luận án, chúng tôi cố gắng thực hiện triệt để mục đích, nhiệm vụ
nghiên cứu đã đặt ra, hi vọng đóng góp vào quá trình ứng dụng ngôn ngữ học tri
nhận ở Việt Nam.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm
4 chương:
- Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
- Chương 2: Miền ý niệm “đồ ăn” trong tiếng Việt
- Chương 3: Ánh xạ ẩn dụ, pha trộn miền ý niệm “đồ ăn” với các miền ý
niệm khác trong tiếng Việt
- Chương 4: Hệ thống ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” trong tiếng Việt


6

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.2. Tổng quan về đề tài nghiên cứu
1.2.1. Sơ lược về Ngôn ngữ học tri nhận và nghiên cứu ẩn dụ ý niệm

dụ ý niệm là cánh cửa tìm hiểu tâm trí, tư duy con người cũng như các đặc trưng xã
hội riêng biệt của dân tộc [140], [142], [150], [153],…
Ở Việt Nam, Ngôn ngữ học tri nhận chính thức được xướng danh trong
Ngôn ngữ học tri nhận nhìn từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt [103]
của Lý Toàn Thắng. Tác giả giới thuyết một số khái niệm cơ sở như tri nhận, ý
niệm, hình – nền, nguyên lí “dĩ nhân vi trung”… và đi sâu trình bày về đặc điểm tri
nhận không gian của người Việt. Đây là một công trình quan trọng của Ngôn ngữ
học tri nhận ở Việt Nam, vừa có ý nghĩa lí luận giới thiệu một xu hướng mới, vừa
có giá trị thực tiễn khi áp dụng vào nghiên cứu tiếng Việt và đưa ra những kết luận
xác đáng, thuyết phục. Một cách khái quát, Ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam đã
dần được định vị bởi nhiều học giả Lý Toàn Thắng; Trần Văn Cơ [12], [15];
Nguyễn Đức Tồn [114]; Nguyễn Thiện Giáp [28]; Nguyễn Văn Hiệp [40], Đặng
Thị Hảo Tâm [97], [98]…
Ẩn dụ ý niệm trở thành đối tượng nghiên cứu được quan tâm đặc biệt trong
nghiên cứu tri nhận ở Việt Nam. Các công trình đề cập đến đối tượng này chia
thành hai hướng: nghiên cứu trọng tâm về ẩn dụ ý niệm và nghiên cứu về vấn đề tri
nhận khác trong đó có một phần nội dung dành cho ẩn dụ ý niệm.
Các luận án tập trung tìm hiểu về ẩn dụ ý niệm gồm: Ẩn dụ dưới góc độ ngôn
ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh) [60] của Phan Thế Hưng
(2010); Ẩn dụ tiếng Việt nhìn từ lí thuyết nguyên mẫu (so sánh với tiếng Anh và
tiếng Pháp) [29] của Võ Kim Hà (2011); Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí
thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh –Việt [32] của Hà
Thanh Hải (2011); Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng Việt và tiếng
Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên tư liệu tên gọi bộ phận cơ thể người)
[50] của Trịnh Thị Thanh Huệ (2012); Ẩn dụ ý niệm của phạm trù thực vật trong
tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) [73] của Trần Thị Phương Lý (2012); Ẩn dụ tri
nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn [36] của Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014); Ẩn dụ tri
nhận trong thơ Xuân Quỳnh [91] của Phạm Thị Hương Quỳnh (2015)…





9

All this paper has in it are raw facts, half-baked ideas, and harmed-over
theories. (Tất cả những bài báo này chứa những dữ kiện thô, những ý tưởng nướng
dở, những học thuyết có hại)” […] (tr.47)
Tác giả Kovecses khi nêu những miền nguồn và miền đích phổ biến trong
cuốn Metaphor: A Practical Introduction [141] cũng đã liệt kê miền nguồn
“Cooking and Food”: “Cooking food as an activity has been with us ever since the
beginnings of humanity. Cooking involves a complex process of several elements:
an agent, recipe, ingredients, actions, and a product, just to mention the most
important ones. The activity with its parts and the product serve as a deeply
entrenched source domain. Here are some examples:
What’s your recipe for success?
That’s a watered-down idea.
He cooked up a story that nobody believed”
(Nấu ăn là hoạt động đã tồn tại cùng chúng ta ngay từ buổi khởi đầu của nhân loại.
Nấu bao gồm một quy trình phức tạp của một số yếu tố: chủ thể, công thức, các
nguyên liệu, các hành động, và một sản phẩm, được đề cập như những điều quan
trọng nhất. Hoạt động đó với những thành phần của nó và đồ ăn như một miền
nguồn cực kì vững chắc. Đây là vài ví dụ:
Công thức thành công của bạn là gì?
Đó là một ý tưởng loãng toẹt
Anh ta chế biến một câu chuyện mà chẳng ai tin) (tr.20)
Tác giả cũng liệt kê tên các ẩn dụ ý niệm kèm theo ví dụ trong công trình
này như DESIRE IS HUNGER (tr.185), LOVE IS NUTRIENT (tr.44), LUST IS
HUNGER (tr.159), RESOURCES ARE FOOD (tr.61), THINKING IS COOKING
(tr.75).
Từ những cơ sở trên, các nghiên cứu tìm hiểu thêm về đối tượng này được


COOKING,

ARE

FOOD

UNDERSTANDING IS DIGESTING, BELIEVING IS SWALLOWING …
Trong khả năng bao quát của chúng tôi, ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” trên thế giới
đã được quan tâm ở mức độ nhất định, có nhiều ẩn dụ thú vị, qua đó có thể thấy
được đặc trưng văn hóa, tư duy của con người qua tri nhận về “đồ ăn”.
1.1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam chỉ có hai luận văn Thạc sĩ Đặc điểm tri nhận của
người Việt qua trường từ vựng thức ăn [102] của Đinh Phương Thảo (2008) và
Ẩn dụ tri nhận và hàm ý trong truyện cười về giới tính – tình dục [9] của Trần Thị
Quế Chi (2011) mang màu sắc tri nhận và có đề cập đến một vài ẩn dụ ý niệm liên
quan tới thức ăn, hoạt động ăn uống. Luận văn [100] sau khi nghiên cứu trường từ
vựng thức ăn về hệ thống, cấu trúc, đặc điểm ngữ nghĩa đã dành chương 3 đề cập
tới một số ẩn dụ ý niệm liên quan đến thức ăn: THỜI GIAN LÀ THỨC ĂN, CON
NGƯỜI LÀ THỨC ĂN. Đây là một nghiên nằm trong xu hướng bắc cầu từ Ngôn
ngữ học cấu trúc sang Ngôn ngữ học tri nhận, các ẩn dụ ý niệm được xác lập là ẩn
dụ cấu trúc – loại ẩn dụ thường gặp nhất trong ngôn ngữ cũng như trong văn học.
Luận văn [9] của Trần Thị Quế Chi cũng nêu một ẩn dụ ý niệm liên quan đến ăn
uống trong hệ thống các ẩn dụ tri nhận được xác lập trong các truyện cười hiện đại:
TÌNH DỤC LÀ ĂN UỐNG.
Trong số các công trình bậc Tiến sĩ ở Việt Nam có Đặc điểm trường ngữ
nghĩa ẩm thực (trên tư liệu tiếng Hán và tiếng Việt) [80] của Ngô Minh Nguyệt là
công trình chuyên sâu nhất về ẩm thực ở Việt Nam nhưng không đi theo lí thuyết
tri nhận. Tác giả tập trung nghiên cứu các từ, ngữ liên quan đến ăn uống, chỉ ra đặc
điểm cấu trúc, đặc trưng ngữ nghĩa, từ đó nêu ra những hàm ý văn hóa của các từ

- Nhiều nghiên cứu mang tính chất bắc cầu từ Ngôn ngữ học cấu trúc sang
Ngôn ngữ học tri nhận, hoặc mang hơi hướng màu sắc tri nhận nên các kết luận
khoa học còn mang màu sắc đơn nhất.
Riêng ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn”, đến nay ở Việt Nam chưa có một nghiên
cứu độc lập nào tập trung tìm hiểu một cách thấu đáo, trọn vẹn về đối tượng này
dưới ánh sáng lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận.
Tóm lại, những nghiên cứu đã có là nền tảng và là sự gợi mở để chúng tôi
triển khai đề tài Ẩn dụ ý niệm miền "đồ ăn" trong tiếng Việt.


12

1.2. Cơ sở lí thuyết
Ngôn ngữ học tri nhận là một trào lưu nghiên cứu đặt ngôn ngữ trong mối
quan hệ với tâm lí. Với sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước, các vấn
đề lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận ngày càng được phát triển và phổ biến rộng rãi,
nhiều khái niệm của khoa học tri nhận đã trở nên quen thuộc. Trong khuôn khổ của
luận án, chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề lí thuyết là cơ sở trực tiếp cho quá
trình nghiên cứu, các vấn đề khái quát căn bản, được coi là hệ thống tri thức nền
của khoa học tri nhận nói chung, Ngôn ngữ học tri nhận nói riêng sẽ không được đề
cập ở đây.
1.2.1. Tính nghiệm thân
Nguyên lí cốt lõi của khoa học tri nhận là “Dĩ nhân vi trung” (Lấy con người
làm trung tâm), xuất phát từ con người để nhìn nhận về ngôn ngữ và thế giới. Ngay
từ những nghiên cứu đầu tiên về tri nhận, G. Lakoff đã có những nhận xét mang màu
sắc nghiệm thân [149], và nêu rõ trong [150] “những cấu trúc dùng để kết nối hệ thống
ý niệm của chúng ta đều nảy sinh từ những trải nghiệm thân thể và được hiểu theo
những cách trải nghiệm thân thể; hơn nữa, bản chất cốt lõi của hệ thống ý niệm của
chúng ta bắt nguồn trực tiếp từ tri giác, sự vận động của thân thể cùng sự trải nghiệm
về những đặc trưng thể chất và xã hội” [150; tr. xiv]. Thuật ngữ embodiment được

quan hệ giữa nghiệm thân và ẩn dụ theo quan điểm ý niệm hóa – chủ yếu là của
Lakoff và Johnson (tr.86-95), trong đó đề cập tới vấn đề các ý niệm căn bản có cơ
sở là thân thể con người, không cần dựa vào các ý niệm khác thông qua ẩn dụ; và
sự tương đồng giữa các ý niệm tạo thành ẩn dụ có đòi hỏi mạnh về sự tương đồng
của cơ thể - có thể bằng nhiều cách khác nhau.
Trong luận án này, tính nghiệm thân là một lí thuyết nền tảng, từ đó đi sâu
nghiên cứu cơ chế ẩn dụ ý niệm. Nghiệm thân được hiểu chung là sự chi phối của
thân thể tạo nên tri nhận khác biệt của con người về thế giới, kéo theo thực tiễn bị
chia cắt, trung chuyển, biến dạng dưới ảnh hưởng của những kinh nghiệm sinh học.
Đó cũng là một căn cứ kích hoạt các ẩn dụ, chẳng hạn như ẩn dụ định hướng. Tính
nghiệm thân với nghĩa rộng như trên là căn cứ của toàn bộ đề tài mà không được
phân tích riêng ở một luận điểm nào.
1.2.2. Ý niệm và ẩn dụ ý niệm
1.2.2.1. Ý niệm
Ý niệm (concept) là đơn vị cơ bản nhất của Ngôn ngữ học tri nhận, “ý niệm
tựa như một khối kết đông của nền văn hóa trong ý thức con người, dưới dạng của


14

nó nền văn hóa đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác ý niệm
là cái mà nhờ đó con người – người bình thường, không phải là “người sáng tạo ra
những giá trị văn hóa” – chính con người đó đi vào văn hóa, và trong một số
trường hợp nhất định có tác động đến văn hóa” (Xtepanov – dẫn theo [12; tr.136137]). Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hóa thông tin về một sự tình
khách quan trong thế giới. Ý niệm ngoài mang đặc trưng miêu tả, còn mang cả đặc
trưng tình cảm, ý chí và hình tượng, nó là kết quả của sự tác động qua lại của một
loạt những nhân tố như truyền thống dân tộc, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm
sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc…
Theo Trần Văn Cơ, ý niệm có cấu trúc trường-chức năng được tổ chức
theo mô hình trung tâm và ngoại vi. Có thể hình dung trường chức năng của ý

[149;4].
Ẩn dụ ý niệm là sự ý niệm hóa một miền tinh thần qua một miền tinh thần
khác, gọi là sự ánh xạ (mapping) có hệ thống từ một miền nguồn sang một miền
đích nhằm tạo nên một mô hình tri nhận (mô hình ẩn dụ) giúp lĩnh hội miền đích cụ
thể, hiệu quả hơn. Với tư cách là một công cụ tri nhận, ẩn dụ được tạo ra một cách
vô thức trong giao tiếp, tư duy.
Năm 1992, trong bài viết The Contemporary Theory of Metaphor (Lí thuyết
hiện đại về ẩn dụ) [152], Lakoff đã tổng kết những luận điểm quan trọng về ẩn dụ ý
niệm, sau đây là nguyên văn:
“Bản chất của ẩn dụ
• Ẩn dụ là cơ chế chủ yếu qua đó chúng ta hiểu được các ý niệm trừu tượng
và thể hiện lí luận trừu tượng.
• Phần lớn vấn đề, từ điều bình thường nhất đến lí thuyết khoa học thâm
thúy nhất, chỉ có thể được hiểu thông qua ẩn dụ.
• Phép ẩn dụ về cơ bản là ý niệm, không phải ngôn ngữ, trong bản chất.
• Ẩn dụ ngôn ngữ là một biểu hiện bề mặt của ẩn dụ ý niệm.
• Mặc dù phần lớn hệ thống ý niệm của chúng ta là ẩn dụ, một phần đáng kể
của nó là phi ẩn dụ. Hiểu biết ẩn dụ được căn cứ vào sự hiểu biết phi ẩn dụ.
• Ẩn dụ cho phép chúng ta hiểu một vấn đề tương đối trừu tượng hoặc vốn không
có cấu trúc dưới dạng một vấn đề cụ thể hơn, hoặc ít nhất là có cấu trúc cao hơn.
Cấu trúc ẩn dụ
• Ẩn dụ là ánh xạ giữa các miền ý niệm.
• Những ánh xạ đó không đối xứng và cục bộ.
• Mỗi ánh xạ là một tập hợp cố định các tương ứng bản thể giữa các thực
thể trong một miền nguồn và các thực thể trong một miền đích.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status