Ẩn dụ ý niệm miền đồ ăn trong tiếng Việt - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH HỢP

ẨN DỤ Ý NIỆM MIỀN “ĐỒ ĂN”
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành : Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số

: 62.22.01.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đặng Thị Hảo Tâm

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu thống kê là hoàn toàn trung thực do tôi thực hiện. Đề tài nghiên
cứu và các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất
kì công trình nào khác.
Tác giả luận án

Nguyễn Thị Bích Hợp


LỜI CẢM ƠN
Luận án này được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội với sự


DANH MỤC CÁC BẢNG


DANH MỤC MÔ HÌNH, HÌNH


DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, LƯỢC ĐỒ

Biểu đồ 2.2.2.1b. Tỉ lệ các ý niệm trong miền “đồ ăn”
Sơ đồ 3.2.1.1h. Mô hình tri nhận ý niệm thực thể “bữa”


8

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. “Con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới có
thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… được”. Đó là nhận định của
Ăng-ghen trong Điếu văn đọc trước mộ Các-Mác, trong đó “ăn” được xếp vào nhu
cầu bản thể đầu tiên của con người – tất nhiên, đồ ăn luôn có ý nghĩa sống còn với
sự sinh tồn. Hơn thế, đồ ăn còn được chú ý đến trên bình diện văn hóa tinh thần.
Đỗ Hữu Châu trong [7] đã nêu quan điểm: văn hóa khác nhau thì ngôn ngữ khác
nhau, ngôn ngữ khác nhau thì ứng xử văn hóa khác nhau. Trong ngôn ngữ, ẩn dụ là
một điểm mở để tìm hiểu văn hóa. Ẩn dụ là những hiểu biết, những tín điều, tình
cảm; ẩn dụ có ý nghĩa đánh giá, gợi ra những ý nghĩa tốt, xấu khác nhau – ẩn dụ là
một bộ phận của văn hóa.
Như vậy, quan điểm nhất quán đã được khẳng định từ lâu là ẩm thực cũng như
ngôn ngữ (cụ thể hơn là ẩn dụ) đều có quan hệ mật thiết với văn hóa. Nhà nghiên cứu
Trần Quốc Vượng khái quát “Bản sắc văn hóa Việt Nam đọng trong văn hóa ngôn

tri nhận đã có ở Việt Nam, chưa có công trình độc lập nào tìm hiểu về đối tượng ẩm
thực trong ngôn ngữ Việt. Các ẩn dụ nổi bật – đã được bàn bạc nhiều chủ yếu liên
quan tới các ý niệm tình cảm, thực vật, hành trình, bộ phận cơ thể… Kết quả
nghiên cứu về nhóm đối tượng này còn tương đối đơn sắc, đa phần liệt kê các ẩn
dụ, hoặc minh họa ẩn dụ có sẵn trong tiếng Anh, chỉ ra miền nguồn-đích. Hiện thực
đó chưa đi tới bề sâu của vấn đề, chưa trả lời được nhiều câu hỏi mang tính chất tri
nhận, chẳng hạn: tại sao một miền ý niệm lại trở thành miền nguồn/đích (?), cơ chế
nào chi phối sự ánh xạ từ miền nguồn này tới miền đích khác (?), các ẩn dụ đó có
kết nối với nhau hay không (?), có đặc điểm nào khác biệt giữa ẩn dụ này với ẩn dụ
khác, hoặc giữa ẩn dụ của dân tộc này với dân tộc khác hay không (?).v.v… Xét
riêng về phạm vi ăn uống, có nhiều hướng nghiên cứu về đối tượng này như ý niệm
hóa, phạm trù hóa, giả thuyết nghiệm thân, hoán dụ, ẩn dụ ý niệm… hoặc trên các
phạm vi nghiên cứu cụ thể liên quan đến ẩm thực như ăn hoặc uống… Trong
khuôn khổ luận án, việc bao quát hết tất cả các phương diện và phạm vi nói trên là
rất khó khăn, do đó, nghiên cứu riêng ẩn dụ ý niệm liên quan đến đồ ăn có thể là
một cách tiếp cận có hứa hẹn.
Từ những khoảng trống trong nghiên cứu ẩn dụ ý niệm nói chung, nghiên
cứu về đồ ăn nói riêng như trên, với mong muốn góp phần vận dụng Ngôn ngữ học
tri nhận vào Việt ngữ, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: Ẩn dụ ý niệm miền “đồ
ăn” trong tiếng Việt .


10

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là vận dụng lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận vào thực
tiễn tiếng Việt để xác lập cấu trúc ý niệm và miền ý niệm “đồ ăn”, tìm hiểu các
miền đích, miền nguồn và hệ thống ánh xạ, cơ chế ánh xạ giữa các miền ý niệm; hệ
thống hóa ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” trong tiếng Việt; từ đó nghiên cứu đặc trưng tri

Việt từ truyền thống đến hiện đại, trong mối quan hệ tổng thể từ miền nguồn, miền
đích, hệ thống ánh xạ và các giá trị văn hóa, tư duy liên quan.
Đề tài chủ yếu tiến hành khảo sát ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn” thông qua
ngôn ngữ tự nhiên, ca dao, tục ngữ, thành ngữ - nơi lưu giữ quan niệm sống, tri
thức văn hóa dân gian của người Việt; ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học Việt
Nam hiện đại, phim ảnh, báo chí đương thời để nhận diện ẩn dụ ý niệm trong
truyền thống cũng như trong đời sống hiện nay người Việt.
Ngữ liệu tiếng Anh dùng để đối chiếu trong luận án được trích xuất từ kho
Ngôn ngữ khối liệu Anh (British National Corpus), một công cụ tra cứu văn bản tại
website http://www.natcorp.ox.ac.uk/.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, miêu tả: phân tích các biểu thức ngôn ngữ gắn
với ngữ cảnh cụ thể, xác định cấu trúc ý niệm; phân tích cấu trúc ẩn dụ ý niệm, xác
định miền đích, miền nguồn, hệ thống ánh xạ; miêu tả ý niệm, miền ý niệm, ẩn dụ ý
niệm làm cơ sở tìm hiểu các đặc trưng tư duy và hoạt động tâm trí của con người.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại, hệ thống hóa ý niệm,
miền, ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” trong tiếng Việt; khảo sát văn bản học, xây dựng ngữ
liệu làm cơ sở thực tiễn để áp dụng lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận;
- Phương pháp điều tra xã hội học: điều tra xã hội học bằng bảng hỏi trực
tiếp và biểu mẫu trực tuyến qua công cụ Google-docs thu thập ngữ liệu sinh hoạt,
tìm hiểu đặc điểm tri nhận người Việt về ý niệm “đồ ăn”, ẩn dụ ý niệm “đồ ăn”.
- Phương pháp so sánh: so sánh ẩn dụ ý niệm tiếng Việt và tiếng Anh trong
các trường hợp cần thiết để thấy rõ sự khác biệt về tri nhận, văn hóa, tư duy giữa
hai dân tộc.
5. Đóng góp mới của luận án
5.1. Về lí luận
Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần khẳng định vị thế của lí
thuyết ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, hệ thống hóa các vấn đề lí thuyết cơ bản




Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu
1.1.1. Sơ lược về Ngôn ngữ học tri nhận và nghiên cứu ẩn dụ ý niệm

Trên thế giới, những nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm xuất hiện cùng với sự hình
thành của Ngôn ngữ học tri nhận những năm 70 của thế kỉ XX. Công trình đầu tiên
đánh dấu khuynh hướng này chính là Metaphors We Live By (Chúng ta sống trong ẩn
dụ) [149] của G. Lakoff và M. Johnson xuất bản năm 1980. Ẩn dụ từ đây đã thực sự
vượt qua ranh giới Ngôn ngữ học thuần túy, trở thành đối tượng nghiên cứu của Tâm lí
học, Triết học. Tác giả khẳng định “Hệ thống ý niệm thông thường của chúng ta, dựa
vào đó chúng ta vừa suy nghĩ vừa hành động, chủ yếu có tính ẩn dụ trong bản chất”.
Thực tiễn cho thấy: trong thi ca, hình thức ngôn ngữ có khác nhưng bản chất ẩn dụ
không khác gì cách diễn đạt ngôn ngữ thường ngày. Một điểm nữa cần ghi nhận là
trước đây người ta chỉ đề cập đến ẩn dụ một cách chung chung, không định danh
từng ẩn dụ riêng biệt; còn G. Lakoff và cộng sự đã gọi tên các ẩn dụ như:
ARGUMENT IS WAR, THEORY IS BUILDING .v.v.
Những năm qua, Ngôn ngữ học tri nhận thế giới nói chung, nghiên cứu về
ẩn dụ ý niệm nói riêng đã ghi danh tên tuổi G. Lakoff, M. Johnson, Z. Kovecses, G.
Fauconnier, M. Turner, C. Fillmore, J.E. Grady, M. Green… Các tác giả đã đưa ra
một số lí thuyết, khái niệm mới như nghiệm thân, khung tri nhận, ẩn dụ ý niệm, ánh
xạ, miền ý niệm, không gian tinh thần, pha trộn ý niệm…
Các ứng dụng thực hành về ẩn dụ ý niệm về các đối tượng tri nhận như cảm
xúc [140], không-thời gian [155], tình dục [134]…thu được những kết quả rộng
khắp trên các lĩnh vực thi ca [143], [151], giáo dục [127], báo chí [141], điện ảnh,
chính trị [137] và đặc biệt là ngôn ngữ thường ngày; trong các ngôn ngữ ngoài
tiếng Anh, chẳng hạn như tiếng Ma-rốc [125], tiếng Trung [161]… đem lại nhiều
nhận xét mới mẻ mà lịch sử nghiên cứu ẩn dụ truyền thống nhiều thế hệ hầu như

Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên tư liệu tên gọi bộ phận cơ thể người)
[50] của Trịnh Thị Thanh Huệ (2012); Ẩn dụ ý niệm của phạm trù thực vật trong
tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) [73] của Trần Thị Phương Lý (2012); Ẩn dụ tri
nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn [36] của Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014); Ẩn dụ tri
nhận trong thơ Xuân Quỳnh [91] của Phạm Thị Hương Quỳnh (2015)…


15

Một hướng đi khác là các luận án vận dụng Ngôn ngữ học tri nhận dành một
phần tương đối quan trọng cho ẩn dụ ý niệm, có thể kể tên các công trình Ngữ nghĩa
và cơ sở tri nhận của các từ biểu đạt tình cảm trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng Việt)
[71] của Ly Lan (2012); Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ
bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận [119] của Nguyễn
Ngọc Vũ (2012); Nghiên cứu thành ngữ biểu thị tâm lý tình cảm trong tiếng Anh và
tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận [110] của Trần Bá Tiến (2013); Nghiên
cứu thành ngữ chỉ tâm lí tình cảm trong tiếng Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
(có liên hệ với tiếng Việt) [87] của Vi Trường Phúc (2013); Nghiên cứu đối chiếu
thành ngữ có từ chỉ ‘Nước’ và ‘Lửa’ trong tiếng Việt và tiếng Anh từ lý thuyết ẩn dụ
tri nhận [63] của Huỳnh Ngọc Mai Kha (2015); Nghiên cứu các phạm trù tình cảm
trong ‘Truyện Kiều” (Nguyễn Du) theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận [93]
của Nguyễn Thu Quỳnh (2015)…
Ngoài các luận án tiêu biểu trên đây, còn rất nhiều bài báo, luận văn Thạc sĩ
quan tâm tới ẩn dụ ý niệm. Nhìn chung, Việt ngữ học đã vận dụng lí thuyết tri nhận
để giải quyết các vấn đề bản ngữ một cách linh hoạt.
Có thể nói, bức tranh toàn cảnh về Ngôn ngữ học tri nhận nói chung, ẩn dụ ý
niệm nói riêng ở Việt Nam và trên thế giới ngày càng mở rộng phong phú. Trong
khuôn khổ và mục tiêu của luận án, chúng tôi chỉ trình bày dưới đây vấn đề có liên
quan trực tiếp nhất tới đề tài, đó là tình hình nghiên cứu ẩm thực trong Ngôn ngữ
học tri nhận trong và ngoài nước.

Đó là một ý tưởng loãng toẹt
Anh ta chế biến một câu chuyện mà chẳng ai tin) (tr.20)
Tác giả cũng liệt kê tên các ẩn dụ ý niệm kèm theo ví dụ trong công trình
này như DESIRE IS HUNGER (tr.185), LOVE IS NUTRIENT (tr.44), LUST IS
HUNGER (tr.159), RESOURCES ARE FOOD (tr.61), THINKING IS COOKING
(tr.75).
Từ những cơ sở trên, các nghiên cứu tìm hiểu thêm về đối tượng này được
mở rộng, như ẩn dụ ý niệm trong tiếng Anh SEX IS EATING [134];
Communicating Is Feeding Acquiring Ideas Is Eating, Interest In Ideas Is Appetite
For Food, Good Ideas Are Healthful Foods…[153].


17

Trong tiếng Ma-rốc, bài viết của K. Berrada [125] đã xác lập hệ thống ẩn dụ
“đồ ăn” phong phú: TEMPERAMENT IS FOOD, LEARNING IS EATING,
UNDERSTANDING

IS

PERSUADING

EATING,

IS

TASTING,

OFFERING


uống trong hệ thống các ẩn dụ tri nhận được xác lập trong các truyện cười hiện đại:
TÌNH DỤC LÀ ĂN UỐNG.
Trong số các công trình bậc Tiến sĩ ở Việt Nam có Đặc điểm trường ngữ
nghĩa ẩm thực (trên tư liệu tiếng Hán và tiếng Việt) [80] của Ngô Minh Nguyệt là
công trình chuyên sâu nhất về ẩm thực ở Việt Nam nhưng không đi theo lí thuyết tri
nhận. Tác giả tập trung nghiên cứu các từ, ngữ liên quan đến ăn uống, chỉ ra đặc
điểm cấu trúc, đặc trưng ngữ nghĩa, từ đó nêu ra những hàm ý văn hóa của các từ
ngữ ẩm thực: đặc điểm con người, đặc trưng văn hóa ẩm thực mỗi nước. Điểm
mạnh của luận án là nguồn ngữ liệu phong phú, hệ thống từ ngữ được xử lí mạch
lạc theo cấu trúc, ngữ nghĩa, một số nhận xét về văn hóa ẩm thực lí thú, mới mẻ.


18

Tuy nhiên, luận án này quá thiên về tiếng Hán, cả về dung lượng cũng như chiều
sâu nghiên cứu; các tìm tòi và kết luận về trường nghĩa ẩm thực cũng như ý nghĩa
văn hóa trong tiếng Việt còn ít, chủ yếu kế thừa từ luận văn của Đinh Phương Thảo
(2008).
Nhìn chung, ăn uống/ ẩm thực chưa thực sự được Ngôn ngữ học tri nhận ở
Việt Nam nghiên cứu một cách toàn diện.
1.1.3. Đánh giá chung
Ẩn dụ vốn là một đối tượng nghiên cứu quen thuộc của Ngôn ngữ và và Văn
học, nghiên cứu ẩn dụ ý niệm cũng là một trong những cách tiếp cận chính của
Ngôn ngữ học tri nhận, đem lại những kết quả bước đầu đáng khích lệ trên thế giới
cũng như Việt Nam.
Tuy vậy, các nghiên cứu ẩn dụ ý niệm ở Việt Nam vẫn còn những tồn tại
chưa được giải quyết thấu đáo:
- Một số khái niệm, thuật ngữ vẫn còn chưa thống nhất, một số vấn đề còn bỏ
ngỏ; các nghiên cứu về Ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam có xu hướng “thiên vị” ẩn
dụ ý niệm và kết quả nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm dường như “co cụm” ở việc định

làm trung tâm), xuất phát từ con người để nhìn nhận về ngôn ngữ và thế giới. Ngay
từ những nghiên cứu đầu tiên về tri nhận, G. Lakoff đã có những nhận xét mang màu
sắc nghiệm thân [149], và nêu rõ trong [150] “những cấu trúc dùng để kết nối hệ thống
ý niệm của chúng ta đều nảy sinh từ những trải nghiệm thân thể và được hiểu theo
những cách trải nghiệm thân thể; hơn nữa, bản chất cốt lõi của hệ thống ý niệm của
chúng ta bắt nguồn trực tiếp từ tri giác, sự vận động của thân thể cùng sự trải nghiệm
về những đặc trưng thể chất và xã hội” [150; tr. xiv]. Thuật ngữ embodiment được
Lakoff và Johnson chính thức đề cập trong [153], theo quan điểm đó, thân thể con
người và cấu trúc các cơ quan tri nhận thiên bẩm là yếu tố ảnh hưởng đến kinh
nghiệm trước nhất.
Cùng với sự phát triển của khoa học tri nhận, thuyết nghiệm thân cũng được
mở rộng về nội hàm.
Margaret Wilson (2002) đã tổng kết 6 quan niệm tri nhận nghiệm thân gồm:
tri nhận mang tính cảnh huống, tri nhận chịu áp lực thời gian, chúng ta chuyển
gánh nặng tri nhận cho môi trường, môi trường là bộ phận của hệ thống tri nhận,
tri nhận là để hành động, tri nhận ngoại tuyến dựa trên cơ thể [160]. Thông qua
phân tích các ví dụ và viện dẫn quan niệm của nhiều nhà tri nhận học, bao gồm cả
các nghiên cứu trong ngôn ngữ của Lakoff, Langacker, Talmy… tác giả khẳng
định, quan niệm “tri nhận ngoại tuyến là một hiện tượng phổ biến trong tâm trí


20

nhân loại” (off-line embodied cognition is a widespread phenomenon in the human
mind) và “phản ánh một nguyên tắc cơ bản rất chung về tri nhận” (reflecting a
very general underlying principle of cognition)
Theo Tim Rohrer (2007) trong bài viết Embodiment and Experientialism [in
trong 136; tr.25-47], hiện nay có 12 cách hiểu khác nhau về nghiệm thân, trong đó
có hai cách hiểu được dùng phổ biến nhất: nghiệm thân như là sự trải nghiệm
chung (embodiment as broadly experiential) và nghiệm thân như là sự trải nghiệm

trường hợp nhất định có tác động đến văn hóa” (Xtepanov – dẫn theo [12; tr.136137]). Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hóa thông tin về một sự tình
khách quan trong thế giới. Ý niệm ngoài mang đặc trưng miêu tả, còn mang cả đặc
trưng tình cảm, ý chí và hình tượng, nó là kết quả của sự tác động qua lại của một
loạt những nhân tố như truyền thống dân tộc, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm
sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc…
Theo Trần Văn Cơ, ý niệm có cấu trúc trường-chức năng được tổ chức
theo mô hình trung tâm và ngoại vi. Có thể hình dung trường chức năng của ý
niệm như một vòng tròn to có chứa vòng tròn nhỏ trong tâm và những vòng tròn
nhỏ khác giao nhau ở ngoại vi. Hạt nhân là khái niệm, nằm ở trung tâm của
trường – chức năng, mang tính phổ quát, toàn nhân loại. Ngoại vi là những yếu tố
mang nét đặc thù văn hóa dân tộc, trong đó yếu tố hàng đầu là giá trị. Trong ý
niệm có cái phổ quát (khái niệm) và cái đặc thù (văn hóa được thể hiện dưới
nhiều dạng khác nhau).
Ý niệm không hình thành riêng lẻ mà trên cơ sở một nền tảng, ý niệm được
làm nổi bật trở thành tiêu điểm tri nhận: nền đó là vùng tri nhận. Áp dụng cặp đối
lập hình-nền, Langacker quan niệm ý niệm gồm có hai thành tố: hình bóng ý niệm
(concept profile) và hình nền ý niệm (concept base). Hình bóng ý niệm là nội dung
tinh thần được biểu đạt bởi từ. Hình nền ý niệm là tri thức hay tiền giả định của ý
niệm. Mỗi ý niệm sẽ đưa một hình bóng lên trên một hình nền, hình bóng ý niệm sẽ
trở nên vô nghĩa nếu không có hình nền ý niệm. Do vậy, xác định ý nghĩa của đơn
vị ngôn ngữ phải tính đến cả ý niệm hình bóng lẫn hình nền, cả “ý niệm” lẫn “vùng
tri nhận”. Cùng một sự vật khách quan có thể là những hình bóng khác nhau trên
những hình nền khác nhau, tạo nên hai ý niệm khác nhau. So sánh da, đầu, máu,
chân với bì, thủ, tiết, chân giò sẽ thấy cả hai nhóm đều chỉ chung sự vật thực tế
nhưng nhóm 1 tạo hình bóng trên vùng tri nhận bộ phận cơ thể động vật, còn nhóm
2 tạo hình bóng trên nền thực phẩm.


22


• Mỗi ánh xạ là một tập hợp cố định các tương ứng bản thể giữa các thực
thể trong một miền nguồn và các thực thể trong một miền đích.


23

• Khi các tương ứng cố định đó được kích hoạt, các ánh xạ có thể phóng
chiếu mô hình suy luận miền nguồn lên mô hình suy luận miền đích.
• Ánh xạ ẩn dụ tuân theo nguyên lí bất biến: Những cấu trúc lược đồ hình
ảnh của miền nguồn được phóng chiếu lên miền đích theo cách phù hợp với cấu
trúc cố hữu của miền đích.
• Các ánh xạ không phải bất kì, mà căn cứ vào cơ thể và kinh nghiệm hàng
ngày và tri thức.
• Một hệ thống ý niệm chứa hàng ngàn ánh xạ ẩn dụ quy ước, tạo thành một
tiểu hệ thống cấu trúc chặt chẽ của hệ thống ý niệm.
• Có hai loại ánh xạ: ánh xạ ý niệm và ánh xạ hình ảnh; cả hai đều tuân
theo nguyên lí bất biến.” ii [tr.39]
Như vậy, Ngôn ngữ học tri nhận phân biệt ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ ngôn ngữ
(linguistics metaphor). Theo đó, ẩn dụ ngôn ngữ chỉ là các biểu thức ẩn dụ, là dạng
cụ thể của ẩn dụ tri nhận – vốn trừu tượng và khái quát. Các biểu thức ẩn dụ có thể
rất đa dạng nhưng nếu nó chỉ được ánh xạ từ một miền nguồn duy nhất tới một
miền đích tương ứng thì đó chỉ là một ẩn dụ ý niệm.
Trong mối quan hệ với so sánh (simile), ẩn dụ theo quan điểm truyền thống
là một dạng riêng biệt. Nhưng Ngôn ngữ học tri nhận có cách nhìn nhận khác.
Lakoff và Turner cho rằng cách xác định ẩn dụ, so sánh bằng cấu trúc cú pháp (A là
B; A như B) là phản ánh sai bản chất của ẩn dụ. Bản chất ẩn dụ là tri nhận một ý
niệm thông qua một ý niệm khác, như vậy hai cấu trúc trên đều cho thấy sự kết nối
giữa hai miền ý niệm, chỉ có điều như mang hiệu lực yếu hơn. Nói cách khác, so
sánh là ẩn dụ ở thể yếu.
Có thể khái quát về mặt ngôn ngữ, ẩn dụ được đánh dấu bằng cấu trúc A

loại ẩn dụ ý niệm chính: ẩn dụ cấu trúc; ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng.
- Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors) là loại ẩn dụ trong đó “ một ý niệm
được cấu trúc (một cách) ẩn dụ thông qua một ý niệm khác ” (one concept is
metaphorically structured in terms of another) [149;tr.15]. Kiểu ẩn dụ này thường
sử dụng kết quả của biểu trưng hóa trong sự liên tưởng, giúp người ta hiểu ý niệm
đích B (thường trừu tượng) thông qua các cấu trúc ý niệm nguồn A (cụ thể hơn).
- Ẩn dụ định hướng (Orientational metaphors) không cấu trúc ý niệm thông
qua một ý niệm khác mà tổ chức cả một hệ thống ý niệm trong mối tương quan với
nhau, “nó tổ chức một hệ thống toàn thể các ý niệm đối với một hệ thống khác […]
liên quan tới sự định hướng không gian: lên-xuống, trong-ngoài, trước-sau, trên-


25

dưới, nông-sâu, trung tâm-ngoại vi.” (organizes a whole system of concepts with
respect to one another […] most of them have to do with spatial orientation: updown, in-out, front-back, on-off, deep-shallow, central-peripheral) [149;tr.15].
- Ẩn dụ bản thể (Ontological metaphors) cung cấp cấu trúc tri nhận ít hơn
nhiều so với ẩn dụ cấu trúc , là “những cách thức nhìn nhận các sự kiện, các hoạt
động, cảm xúc, ý tưởng, v.v, như các vật thể và các chất” (ways of viewing events,
activities, emotions, ideas, etc., as entities and substances) [149;tr.26] – một
phương thức giúp con người phân loại, tách biệt, tập hợp, suy luận... về những đối
tượng khó nhận biết trong thực tại.
Ẩn dụ ý niệm cũng mang tính hệ thống như ý niệm. Một ý niệm có thể dùng để
tri nhận cho một ý niệm khác trừu tượng hơn, nhưng bản thân nó lại có thể cần được ý
niệm hóa bởi một miền nguồn khác. Nó là cơ chế quan trọng mà thông qua đó chúng
ta có thể thực hiện những lập luận phức tạp, tạo nên sự liên tục về tri nhận.
1.2.3. Miền, miền nguồn, miền đích và ánh xạ
1.2.3.1. Miền
Miền (domain) là một khái niệm quen thuộc trong đời sống (ví dụ: miền
xuôi, miền trung…) cũng như các ngành khoa học: toán học (ví dụ: polygonal


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status