LATS Ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn” trong tiếng Việt - Pdf 33


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
BỘTrường
GIÁO Đại
DỤC

học
SưĐÀO
phạmTẠO
Hà Nội
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH HỢP
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đặng Thị Hảo Tâm

Phản biện 1:ẨN
GS.TS.
Minh Toán
DỤBùi
Ý NIỆM
MIỀN “ĐỒ
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

ĂN”

TRONG TIẾNG VIỆT

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Văn Lộc
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Phản biện 1: PGS.TS. Phạm Văn Hảo

Đại học Sư phạm 10/2013)

3.

Nguyễn Thị Bích Hợp (2015), “Ẩn dụ thực thể có miền đích là ý niệm
“đồ ăn” trong tiếng Việt theo quan điểm Ngôn ngữ học tri nhận” (Hội
thảo Ngữ học toàn quốc, Đại học Sài Gòn 04/2015)

4.

Nguyễn Thị Bích Hợp (2015) “Ẩn dụ định hướng ý niệm “đồ ăn” trong
tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ số 6 (313).


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. “Con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới có
thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… được”. Đó là nhận định của
Ăng-ghen trong Điếu văn đọc trước mộ Các-Mác, trong đó “ăn” được xếp vào
nhu cầu bản thể đầu tiên của con người. Hơn thế, đồ ăn còn được chú ý đến trên
bình diện văn hóa tinh thần. Đỗ Hữu Châu trong [7] đã nêu quan điểm: văn hóa
khác nhau thì ngôn ngữ khác nhau, ngôn ngữ khác nhau thì ứng xử văn hóa
khác nhau và ẩn dụ là một bộ phận của văn hóa. Như vậy, quan điểm nhất quán
đã được khẳng định từ lâu là ẩm thực cũng như ngôn ngữ (cụ thể hơn là ẩn dụ)
đều có quan hệ mật thiết với văn hóa.
Theo quan niệm của Ngôn ngữ học tri nhận thế giới, “đồ ăn” là một trong
những miền nguồn cơ bản – được Kovecses xác định là “Cooking and Food” trong
[141]. Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” trong tiếng Việt trong sự đối sánh với ngôn
ngữ khác sẽ giúp thấy được những tương đồng và khác biệt về văn hóa, tư duy.
1.2. Ngôn ngữ phản ánh hiện qua lăng kính chủ quan, theo quan điểm của

dựng cấu trúc của miền, xác định và phân tích điển dạng thông qua phân tích khối
liệu và điều tra xã hội học.
- Khảo sát, nghiên cứu các miền ý niệm khác có quan hệ ẩn dụ với miền ý
niệm “đồ ăn”, xác lập hệ thống ánh xạ, nhận diện cơ chế ánh xạ và hòa trộn ý
niệm giữa các miền.
- Thống kê, phân loại, phân tích các ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” nổi bật.
- Chắt lọc và lí giải những giá trị văn hóa, bản sắc tư duy dân tộc qua ẩn dụ
ý niệm “đồ ăn”.
- So sánh, đối chiếu với tiếng Anh trong các trường hợp cần thiết: giá trị tri
nhận tương đương nhưng khác biệt về phương thức; hoặc phương thức tương tự
nhưng có ý nghĩa khác.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiện cứu của đề tài là toàn bộ nội hàm tri nhận, cấu trúc, đặc
trưng, cơ chế hoạt động và các vấn đề liên quan của hệ thống ẩn dụ ý niệm
miền “đồ ăn” trong tiếng Việt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là toàn bộ hệ thống ẩn dụ ý niệm “đồ ăn”
tiếng Việt từ truyền thống đến hiện đại, trong mối quan hệ tổng thể từ miền nguồn,
miền đích, hệ thống ánh xạ và các giá trị văn hóa, tư duy liên quan.
Đề tài chủ yếu tiến hành khảo sát ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” thông qua ngôn
ngữ tự nhiên, ca dao, tục ngữ, thành ngữ - nơi lưu giữ quan niệm sống, tri
thức văn hóa dân gian của người Việt; ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học
Việt Nam hiện đại, phim ảnh, báo chí đương thời để nhận diện ẩn dụ ý niệm
trong truyền thống cũng như trong đời sống hiện nay người Việt.
Ngữ liệu tiếng Anh dùng để đối chiếu trong luận án được trích xuất từ
kho Ngôn ngữ khối liệu Anh (British National Corpus), một công cụ tra cứu
văn bản tại website http://www.natcorp.ox.ac.uk/.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, miêu tả


1.1.
1.1.1.

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Sơ lược về Ngôn ngữ học tri nhận và nghiên cứu ẩn dụ ý niệm

Trên thế giới, những nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm xuất hiện cùng với sự
hình thành của Ngôn ngữ học tri nhận những năm 70 của thế kỉ XX. Công trình
đầu tiên đánh dấu khuynh hướng này chính là Metaphors We Live By (Chúng ta
sống trong ẩn dụ) [149] của G. Lakoff và M. Johnson xuất bản năm 1980. Tác
giả khẳng định “Hệ thống ý niệm thông thường của chúng ta, dựa vào đó chúng ta
vừa suy nghĩ vừa hành động, chủ yếu có tính ẩn dụ trong bản chất”.
Các tác giả như G. Lakoff, M. Johnson, Z. Kovecses, G. Fauconnier, M.
Turner, C. Fillmore… đã đưa ra một số lí thuyết, khái niệm mới như nghiệm
thân, khung tri nhận, ẩn dụ ý niệm, ánh xạ, miền ý niệm, không gian tinh thần,
pha trộn ý niệm…
Các ứng dụng thực hành về ẩn dụ ý niệm về các đối tượng tri nhận như
cảm xúc [140], không-thời gian [155], tình dục [134]…thu được những kết quả
rộng khắp trên các lĩnh vực thi ca [143], [151], giáo dục [127], báo chí [141],
điện ảnh, chính trị [137] và đặc biệt là ngôn ngữ thường ngày; trong các ngôn
ngữ ngoài tiếng Anh, chẳng hạn như tiếng Ma-rốc [125], tiếng Trung [161]…
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy mối quan hệ mật thiết giữa ẩn
dụ ý niệm và văn hóa, trong sự ràng buộc giữa con người – ngôn ngữ – xã hội,


coi ẩn dụ ý niệm là cánh cửa tìm hiểu tâm trí, tư duy con người cũng như các

Trong khả năng bao quát của chúng tôi, ẩn dụ ý niệm “đồ ăn” trên thế
giới đã được quan tâm ở mức độ nhất định và gọi tên nhiều ẩn dụ thú vị.
1.1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nằm trong xu hướng bắc cầu từ Ngôn ngữ học truyền thống sang Ngôn
ngữ học tri nhận, luận văn [100] của Đinh Phương Thảo (2008) sau khi nghiên
cứu trường từ vựng thức ăn về hệ thống, cấu trúc, đặc điểm ngữ nghĩa đã dành
chương 3 đề cập tới một số ẩn dụ ý niệm liên quan đến thức ăn: THỜI GIAN
LÀ THỨC ĂN, CON NGƯỜI LÀ THỨC ĂN.
Luận văn [9] của Trần Thị Quế Chi (2011) cũng nhắc tới ẩn dụ ý niệm
liên quan đến ăn uống: TÌNH DỤC LÀ ĂN UỐNG.


Không đi theo lí thuyết tri nhận nhưng luận án [80] của Ngô Minh Nguyệt
có thể coi là công trình chuyên sâu nhất về đối tượng nghiên cứu ẩm thực. Tuy
nhiên, luận án này quá thiên về tiếng Hán; các tìm tòi và kết luận về tiếng Việt
còn ít.
1.1.3. Đánh giá chung
Đến nay ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu độc lập nào tập trung tìm
hiểu một cách thấu đáo, trọn vẹn về ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn”, những nghiên
cứu đã có là nền tảng cơ sở và là sự gợi mở để chúng tôi triển khai đề tài “Ẩn
dụ ý niệm miền "đồ ăn" trong tiếng Việt”.
1.2. Cơ sở lí thuyết
Ngôn ngữ học tri nhận là một trào lưu nghiên cứu đặt ngôn ngữ trong mối
quan hệ với tâm lí. Với sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước, các
vấn đề lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận ngày càng được phát triển và phổ biến
rộng rãi, nhiều khái niệm của khoa học tri nhận đã trở nên quen thuộc. Trong
khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề lí thuyết là cơ sở
trực tiếp cho quá trình nghiên cứu, các vấn đề khái quát căn bản, được coi là hệ
thống tri thức nền của khoa học tri nhận nói chung, Ngôn ngữ học tri nhận nói
riêng sẽ không được đề cập ở đây.

gồm nhiều nhóm ý niệm thuộc các phạm trù khác nhau và tồn tại các điển dạng.
1.2.3.2. Miền nguồn, miền đích
Miền nguồn (source domain) và miền đích (target domain) là thuật ngữ
quy chiếu tới các miền ý niệm trong cấu trúc ẩn dụ ý niệm. Miền nguồn thường
cụ thể, trực quan, dễ nhận biết; miền đích có xu hướng trừu tượng, khó xác
định, mới mẻ với nhận thức hoặc kinh nghiệm.
Miền ý niệm có tính độc lập tương đối, còn miền nguồn-đích gắn chặt với
ẩn dụ ý niệm.
1.2.3.3. Ánh xạ
Ánh xạ (mapping) là sự phóng chiếu giữa những yếu tố của miền nguồn
và những yếu tố tương ứng của miền đích. Bản chất của ánh xạ là cố định, đơn
tuyến và cục bộ. Cơ chế của ánh xạ là được kích hoạt căn cứ vào cơ thể,kinh
nghiệm và tri thức.
Thuyết pha trộn ý niệm là một cách nhìn khác hơn về ánh xạ. Đó là sự
tích hợp của bốn không gian tinh thần với quan hệ ánh xạ đa chiều.
1.2.4. Điển mẫu
Điển mẫu (prototype) là khái niệm gắn với phạm trù tri nhận và sự phạm
trù hóa. Đó là thành viên điển hình, ở vị trí trung tâm của phạm trù, đó là thí dụ
tốt nhất, nổi bật nhất.
1.2.5. Mô hình tri nhận
Mô hình tri nhận (cognitive model) những cách thức chung để ý niệm hóa
thế giới khách quan.
Có bốn kiểu mô hình tri nhận:
- Mô hình mệnh đề.
- Mô hình sơ đồ hình ảnh.
- Mô hình ẩn dụ.
- Mô hình hoán dụ.
1.2.6. Pha trộn ý niệm
Pha trộn ý niệm là sự tích hợp của bốn không gian tinh thần (không gian
chung, không gian nhập 1 – 2, không gian pha trộn) với quan hệ ánh xạ đa

tôi tiến hành khảo sát, đối chiếu hai từ điển [85], [121] và hệ thống hóa được
910 đơn vị biểu thị phương diện khác nhau của miền “đồ ăn”; chia thành 5
nhóm: Thực thể, Đặc điểm, Đồ dùng, Hoạt động, Cảm giác, cảm nhận.
Giữa chúng cũng có mối liên hệ mật thiết theo kiểu kết chuỗi, do sự kích
thích của thành tố trung tâm nhóm này tới thành tố trung tâm của nhóm kia.
2.2.2.2. Điển mẫu
Điển dạng là thành viên điển hình một tập hợp, đó là thí dụ tốt nhất.
Thông qua khoanh vùng ngữ liệu và điều tra xã hội học, 5 điển dạng của
miền ý niệm “đồ ăn” được xác định là: Cơm, Mặn, Bát, Ăn, Đói.
2.2.3. Cấu trúc hình bóng-hình nền của miền ý niệm “đồ ăn”
Hình nền rộng nhất, chủ đạo trong sự tạo thành các ý niệm “đồ ăn” chính
là nền “đồ ăn”. Các ý niệm tạo hình bóng trên nền này có “món ăn”, các nguyên
liệu “lương thực”, “thực phẩm”, “gia vị”. Các vùng nền “tính chất”, “mùi vị”,
“đặc điểm” có sự giao thoa với hình nền “đồ ăn”. Hai vùng nối tiếp vào biên
giới của nền đồ ăn là “hoạt động với đồ ăn” (cơ sở của ý niệm về “chế biến”,
“thưởng thức” đồ ăn) , “vật dụng liên quan đến đồ ăn” (bao gồm các ý niệm về
vật dụng “chế biến”, “bày biện”, “thưởng thức”). Cuối cùng là vùng “con
người”, là nơi để các ý niệm về “con người”, “cảm giác”, “trạng thái” liên quan
đến món ăn đổ bóng lên.
2.3. Mô hình tri nhận miền ý niệm “món ăn”


2.3.1. Mô hình mệnh đề
Mô hình mệnh đề là cấu trúc tri thức về quan hệ giữa ý niệm với ý niệm,
được biểu hiện bằng mệnh đề ngôn ngữ. Một số mô hình mệnh đề tiêu biểu về
miền ý niệm “đồ ăn”.
(1) Mệnh đề bộc lộ chức năng
- Cơm tẻ là mẹ ruột
- Quà ngon chả giò, quà no bánh đúc.
(2) Mệnh đề khái quát đặc điểm

2.3.4. Mô hình hoán dụ


Mô hình hoán dụ là mô hình cấu trúc lại trên cơ sở một mô hình khác
thuộc cùng một miền ý niệm dựa trên hiệu lực điển dạng của thực thể.
Ví dụ: ăn cơm là ăn cơm cùng các loại thức ăn khác, tương tự như nấu
cơm, mâm cơm, bữa cơm… Đây là một hoán dụ BỘ PHẬN THAY THẾ CHO
CHỈNH THỂ.
- Cơm
- Canh
- Xào
- Kho
- v.v…
(1) Các thành tố của chỉnh thể

Hoán dụ

Cơm
(- Canh
- Xào
- Kho
- v.v…)
(2) Bộ phận thay thế cho chỉnh thể

Hình 2.3.4a. Mô hình tri nhận hoán dụ “cơm”

Tiểu kết


Chương 3

8 – (Nhạc cụ)
nhỏ
7 – (Mụn) sần

GIA ĐÌNH

4A – Lập gia đình

4

6 – Chuyện hàng ngày

4B – Quan hệ vợ chồng

5 – Thuốc phiện

Hình 3.1.1. Mô hình tỏa tia
của “Cơm”

4C – Vợ/chồng

3.1.2. Mô hình tỏa tia của “Ăn”
3B- Tiêu thụ

3C- Thụ hưởng

2C- Đồ dùng khi ăn 3A- Thu nạp

3D- Hứng chịu
3E- Giành đoạt

Tương đương
6
Thực hiện

4B- Hòa hợp

LAN
RA

5A- Làm tiêu hao
5A- Mở rộng phạm vi

Hình 3.1.2. Mô hình tỏa tia của “Ăn”


3.1.3. Mô hình tỏa tia của “Mặn”
2A- Nhiều muối
2B- Tham lam vật chất

2

Quan hệ thân xác
4

CAO HƠN BÌNH THƯỜNG

1
MẶN

2C- Tình cảm sâu đậm

2

1

SỰ THIẾU THỐN

ĐÓI

2B- Thiếu những thứ thiết yếu

Hình 3.1.5. Mô hình tỏa tia của “Đói”

Nhận xét: Những đặc điểm các điển mẫu có thể coi là đặc điểm chung của
năm nhóm ý niệm trong miền“đồ ăn”, các xu hướng vận động của ý niệm cũng
định hướng cho việc nghiên cứu: tìm hiểu các miền nguồn làm cơ sở tri nhận cho
các miền đích “đồ ăn” có tính trực quan thấp (“mùi vị” là một ví dụ), tìm hiểu sự
ánh xạ từ các miền nguồn “đồ ăn” tới các miền đích đã được khoanh vùng thông
qua các nghĩa phái sinh trong các mô hình tỏa tia (tiền bạc, con người…).


3.2. Ánh xạ ẩn dụ giữa miền ý niệm “đồ ăn” với các miền ý niệm khác
3.2.1. Miền ý niệm “đồ ăn” là miền đích
3.2.1.1. Ánh xạ từ miền nguồn thực thể tới miền ý niệm “đồ ăn”
“Thực thể” là cái có sự tồn tại độc lập, là cái có thật, có thể nhận biết
bằng giác quan, là cái tự mình xác định vị thế hoặc hoạt động trong thực tại,
không phải phụ thuộc vào cái gì khác.
Các đối tượng thuộc miền hoạt động, mùi vị, cảm giác được tạo một hình
ảnh tượng trưng trong tâm trí con người, và các đặc điểm khác của thực thể cũng
theo đó ánh xạ tới và được biểu hiện cụ thể trong các phát ngôn, giao tiếp. Có
một hình dạng giúp cho sự nhận diện đối tượng (thấy ngon, thấy thơm), đo đếm

thập cẩm trong đầu, nghiên cứu chay, món ăn tinh thần (món ăn~ tư tưởng,


sản phẩm tư tưởng); xào ý tưởng, tiêu hóa lí luận (hoạt động ~ tư duy); giả
thuyết ngon ăn, bài học khó nhằn (đặc điểm~ tư tưởng); đói chữ, ngán lí
thuyết (cảm giác~ sản phẩm tinh thần…
3.2.2.3. Ánh xạ từ miền nguồn “đồ ăn” tới các miền đích “tự nhiên, xã hội”
Hiện thực tự nhiên và xã hội bao gồm tất cả những yếu tố thực thể và phi
thực thể, trực quan và trừu tượng, tồn tại trong thời gian hoặc không gian, hoặc
cả không-thời gian… Sự xác lập hệ thống ánh xạ này dựa trên sự tương đồng về
hướng của các chiếu xạ từ miền “đồ ăn” tới các ý niệm thuộc miền tự nhiên, xã
hội. Chẳng hạn, các sự vật tự nhiên, xã hội đều có thể được nhìn nhận thông
qua các thực thể thuộc ý niệm “đồ ăn”: cà bát, mận cơm, quả mâm xôi, bông so
đũa, đậu đũa, vùng lòng chảo…/bánh xe, mũ nồi, mâm pháo, đĩa hát…
3.3. Pha trộn miền ý niệm “đồ ăn” với các miền ý niệm khác
3.3.1. Mô hình ẩn dụ ba miền không gian pha trộn
Các cấu trúc ý niệm kép thường đem lại một ý niệm hoàn toàn mới, là
kiểu “dồn nén” ý niệm trong một không gian tinh thần pha trộn như các ý niệm
kép có liên quan tới miền “đồ ăn”. Về mặt ngôn ngữ, các cấu trúc này có thể ở
dạng danh từ-danh từ (cơm bụi, da bánh mật), hay danh từ-tính từ (tin sốt dẻo)
hay danh từ-động từ (bánh vẽ, đậu lướt ván); hoặc động từ-động từ (ngủ
nướng), tính từ-danh từ (đứt bữa), động từ-danh từ (muối mặt)…
3.3.2. Mô hình ẩn dụ bốn miền không gian pha trộn
Miền ý niệm “đồ ăn” có sự hoạt động pha trộn ý niệm theo mô hình 4
miền như (nấu cháo điện thoại, chế biến gỗ) hoặc các thành ngữ ẩn dụ (vợ
chồng như đũa có đôi; bát đũa xô nhau; rổ rá cạp lại…).
3.3.3. Mô hình ẩn dụ phức hợp
Các mô hình pha trộn nhiều khi cũng chỉ tồn tại ở dạng khái quát, các ẩn
dụ thực tiễn luôn phong phú, đa dạng hơn nhiều như sự xuất hiện của các mô
hình phức hợp liên quan đến ẩn dụ ý niệm “đồ ăn”: ẩn dụ - hoán dụ, ẩn dụ trùng

3.4.2.2. Kinh nghiệm thuộc lĩnh vực tâm lí
Kinh nghiệm thuộc lĩnh vực tâm lí là những trải nghiệm về tinh thần như
cảm giác, ý chí, tình cảm, nhận thức… Cơ chế ánh xạ dựa trên kinh nghiệm tâm
lí là những tương ứng giữa miền nguồn với miền đích, kết nối các trải nghiệm
tinh thần đó.
- Rằng hay thì thật là hay/ Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào
- Thuộc như cháo chảy
3.4.2.3. Kinh nghiệm thuộc lĩnh vực văn hóa
Văn hóa là thực tiễn được sáng tạo bởi con người, do con người tạo ra và
chi phối lối sống, nếp nghĩ của các cộng đồng cùng chia sẻ những giá trị văn
hóa. Điều này có quan hệ chặt chẽ với thế giới tinh thần của con người, chẳng
hạn người Việt Nam và người Hàn Quốc, Trung Quốc đều có thói quen ăn thịt
chó, nhưng chỉ có người Việt mới có quan niệm về “số vận” (đen-đỏ) gắn với
món ăn này. Cơ chế ánh xạ dựa trên kinh nghiệm văn hóa được thể hiện rất
phong phú, đa dạng.
- Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
- Đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành
3.4.3. Cơ chế ánh xạ ẩn dụ dựa vào cơ thể
Với quan niệm “Dĩ nhân vi trung”, con người được lấy làm thước đo thế
giới, đương nhiên, cơ chế ánh xạ không thể tách rời yếu tố cơ thể. Đặc điểm cơ
thể được sử dụng làm căn cứ ánh xạ bao gồm cả cấu tạo cơ thể và các trải
nghiệm sinh lí.
Cấu tạo cơ thể người là căn cứ quan trọng cho các ánh xạ không gian. Với
người Việt, các định hướng gắn với đặc điểm cơ thể rất rõ: đầu ~ trên, chân ~
dưới… Các ánh xạ được kích thích dựa trên cơ chế này hầu hết là ánh xạ định
hướng: “Ăn trên ngồi trốc” hoặc “Lên mâm lên bát”.


Ánh xạ có sinh lí học dựa trên sự liên hệ giữa những cảm giác sinh lí của
cơ thể với đồ ăn và cảm giác sinh lí của cơ thể với các đối tượng khác(Ví dụ:

(Thạch Lam)
c. CẢM GIÁC VỚI ĐỒ ĂN LÀ THỰC THỂ
Cảm giác về đồ ăn mang tính chủ quan, nhờ ẩn dụ thực thể, người Việt có thể
tri nhận về cảm giác đó như những vật xác định, sinh động, gần gũi, dễ nhận diện
(thấy đói, thấy no, thấy thèm, thấy chán…) và có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống.
- Đói cào ruột
- Mẹo đánh gục cơn đói khi giảm béo.
- Chán ăn kéo dài gây suy nhược cơ thể.
* Đáng chú ý, với quan niệm con người cũng là thực thể, ẩn dụ ý niệm thực thể
chính là bậc trên của nhân hóa, hay nhân hóa là một tiểu loại tiêu biểu nhất của
ẩn dụ thực thể.
4.1.1.2. Ẩn dụ vật chất ý niệm “đồ ăn” trong tiếng Việt
a. HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN “ĐỒ ĂN” LÀ CHẤT LỎNG
Hoạt động liên quan đến đồ ăn chỉ tồn tại trên trục thời gian, không thể tri
giác bằng mắt, không phải là vật chất. Trong tri nhận của người Việt, ý niệm
này đã được bản thể hóa như một dạng chất lỏng:


- Các ông cứ chìm trong ăn nhậu chả mấy mà rước bệnh vào thân.
- Anh giám đốc mới nổi bắt đầu bị tiệc tùng cuốn đi liên miên.
b. MÙI VỊ ĐỒ ĂN LÀ CHẤT LỎNG, CHẤT KHÍ
Mùi vị của đồ ăn cũng là một ý niệm trừu tượng, khó nắm bắt mặc dù có
thể tri giác bằng giác quan (khứu giác, vị giác). Trong tiếng Việt, bằng ẩn dụ ý
niệm, mùi vị được cấu tạo bằng những “chất” nhất định: chất lỏng và chất khí.
- Phố gì chỉ mắt liếc ngang/Cũng nghe vị ngọt chứa chan miệng rồi?
- Chén vừng vừa rang xong bốc mùi thơm phưng phức
c. CẢM GIÁC VỀ ĐỒ ĂN LÀ CHẤT LỎNG
Cảm giác về đồ ăn được tri nhận như các thực thể một cách tượng trưng,
Các đặc tính của chất lỏng thường được sử dụng để vật chất hóa cảm giác mà
không cần có một hình dạng cụ thể như: lan, chìm, đầy…



Nam)

- […] đợi dầu nóng thì cho hành tím vào phi lên […] (555 món ăn Việt

Ngược lại, đồ ăn đã chế biến nếu không được sử dụng ngay sẽ bị mất
ngon hay ôi, thiu, được tri nhận gắn với định hướng “xuống”: nguội đi, ôi đi,
thiu đi, hỏng đi, vữa ra, rữa đi…
b. ĐỒ ĂN TỐT LÀ LÊN
Theo quan niệm của người Việt, đồ ăn là thứ giá trị, đem lại cho con
người sức khỏe về thể chất, cảm giác thỏa mãn các giác quan, là biểu tượng của
sự no đủ, từ đó ta có ẩn dụ ĐỒ ĂN TỐT LÀ LÊN.
- Trứng cá hồi là món ăn thượng hạng.
- Thời xưa, chuối ngự Nam Định là sản vật cung tiến.
Tương tự, đồ dùng tốt, quý là hướng lên còn đồ dùng thường, xấu thì
hướng xuống:
- Đũa mốc chòi mâm son.
- Ai ơi! đừng phụ bát đàn/ Nâng niu bát sứ vỡ tan có ngày…
Một điều đáng lưu ý, đồ ăn ngon/ bổ/ quý hơn thì xếp hạng trên, đồ ăn
kém hơn thì xếp hạng dưới, nhưng trên thang độ đánh giá tất cả đều nằm ở phía
dương tính, phía tích cực. Các món ăn “xoàng” nhất cũng là món ăn bình dân,
đồ ăn thường ngày… chứ không có gì thấp kém, bỏ đi.
c. ĐẬM MÙI VỊ LÀ LÊN, NHẠT MÙI VỊ LÀ XUỐNG
ẩn dụ định hướng ĐẬM MÙI VỊ LÀ LÊN, NHẠT MÙI VỊ LÀ XUỐNG, là
một ẩn dụ phái sinh của NHIỀU HƠN LÀ LÊN, ÍT HƠN LÀ XUỐNG. Những ví
dụ thường gặp của ẩn dụ này như: ngọt lên, cay nồng, nhạt đi, loãng ra…
- Phơi ngoài nắng, nước cứ bốc hơi, nên tương từ từ mặn lên (Cách làm
tương cổ truyền).
- Cứ nghĩ đến cốm thôi, người ta cũng đã thấy ngát lên mùi thơm dịu

4.1.3.2. CON NGƯỜI LÀ ĐỒ ĂN
Miền ý niệm “đồ ăn” cũng được huy động hầu hết các tiểu vùng để giúp
cấu trúc hóa các ý niệm liên quan đến con người. Công thức tư duy tổng quát
nhất của ẩn dụ này đó là CON NGƯỜI LÀ ĐỒ ĂN.
- Hắn đúng là một đối thủ khó nhằn.
- Sếp sẽ luộc hết mấy đứa cứng đầu.
Ẩn dụ phái sinh từ công thức tư duy tổng quát trên là CON NGƯỜI LÀ
VẬT DỤNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỒ ĂN:
- So bó đũa, chọn cột cờ
- Tiếc thay chiếc đọi bịt vàng/ Đem ra đong cám lỡ làng duyên em
Các ẩn dụ bậc dưới là:
a. NGOẠI HÌNH CỦA CON NGƯỜI LÀ HÌNH THỨC ĐỒ ĂN
- Da bánh mật.
- Eo bánh mì.
- Gió xuân tốc dải yếm đào/ Anh trông thấy oản anh vào thắp hương
* NGƯỜI CÓ NGOẠI HÌNH ĐẸP LÀ ĐỒ ĂN NGON:
- Nhìn em kia ngon quá!
- Trông ngọt nước như thế sao mà nhịn được.
* NGOẠI HÌNH ĐẸP LÀ “DINH DƯỠNG” CHO THỊ GIÁC:
- Cô em ấy trông ngon mắt đấy!
- No mắt với chân dài trong “Đêm nhan sắc”.
* NGOẠI HÌNH CON NGƯỜI LÀ VẬT DỤNG LIÊN QUAN ĐẾN MÓN ĂN.
- Chân vòng kiềng
- Đít lồng bàn
b. TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI LÀ ĐỒ ĂN
Ẩn dụ này cấu trúc hóa tất cả các trạng thái của con người thành đồ ăn,
kéo theo là các hoạt động, cảm giác về đồ ăn chính là hoạt động tinh thần, cảm
giác tinh thần.
(b1) TÌNH CẢM CỦA CON NGƯỜI LÀ ĐỒ ĂN
- Nhà vách nát, mưa luồn gió tạt/Nhớ đến mình chua chát lòng qua

phận của con người cũng được cấu trúc lại trên cơ sở miền nguồn này. Món ăn,
cách thức ăn cũng là một biểu tượng của địa vị xã hội.
- Ăn mày đòi xôi gấc.
- Chàng ơi giận thiếp làm chi/ Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng.
* HOÀN CẢNH CỦA CON NGƯỜI LÀ TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỒ ĂN, ĐỒ DÙNG.
- Tiếc thay hạt gạo tám xoan/ Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà
- Tiếc cho con tôm rằn nấu với ngọn rau má
* QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI LÀ QUAN HỆ GIỮA CÁC ĐỒ ĂN, ĐỒ DÙNG
- Cơm tấm ăn với cá kho/Chồng xấu vợ xấu những lo mà gầy
- Cơm trắng ăn với chả chim/Chồng đẹp vợ đẹp những nhìn mà no
d. PHẨM CHẤT CỦA CON NGƯỜI LÀ ĐỒ ĂN
Phẩm chất con người thường được cấu trúc bằng các ý niệm chỉ tính chất,
mùi vị của đồ ăn, hoặc qua các đồ dùng, vật dụng trong nấu nướng và ăn uống.
- Giọng chua như giấm/mẻ


- Lanh chanh như hành không muối
- Ăn không biết trở đầu đũa
4.1.3.3. CUỘC ĐỜI LÀ BỮA ĂN
Cuộc đời rộng lớn và phức tạp, khó nhìn nhận từ một góc độ duy nhất,
bởi vậy, các công cụ tri nhận được huy động để cấu trúc hóa ý niệm này rất
nhiều. Ẩn dụ sử dụng miền nguồn “đồ ăn” cũng rất thường gặp trong trường
hợp này, cấu trúc ánh xạ này tạo thành ẩn dụ CUỘC ĐỜI LÀ BỮA ĂN
a. ĐẶC ĐIỂM CUỘC ĐỜI LÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỒ ĂN
Những đặc điểm của đồ ăn về mùi vị, trạng thái của đồ ăn có thể đem đến cho
con người các trạnh thái, cảm nhận giống như những trải nghiệm về cuộc sống.
- Cuộc đời là những chiếc bánh ngọt ngào
- Láo nháo như cháo với cơm
b. SỰ VẬT, HIỆN TƯỢNG KHÁCH QUAN LÀ ĐỒ ĂN
b1. Thời tiết



- Mấy việc lông gà vỏ tỏi chẳng ai chịu nhúng tay vào
c2. THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG LÀ TIẾN HÀNH CHẾ BIẾN
- Sắp đến lượt mình lên thớt rồi
- Công thức chiến thắng đã sẵn sàng, chỉ còn chờ các cầu thủ xung trận.
c3. PHƯƠNG TIỆN HOẠT ĐỘNG LÀ ĐỒ DÙNG TRONG CHẾ BIẾN
- Mổ gà dao trâu
- Cháo đổ mặt mâm
c4. CÁCH THỨC HOẠT ĐỘNG LÀ CÁCH CHẾ BIẾN
- Toàn nghe hơi nồi chõ thì giải quyết được gì.
- Cuốn sách của ông giáo sư ấy đã bị đồng nghiệp luộc lại, bây giờ
nghiên cứu kiểu ăn xổi nhiều lắm rồi.
c5. LÀM CHO TỐT ĐẸP HƠN LÀ THÊM GIA VỊ
- Cần thêm muối cho kịch bản này.
- Ba cái thể loại cổ tích ngày nay chủ yếu là thêm mắm dặm muối thôi.
c6. ỨNG XỬ TRONG HOẠT ĐỘNG LÀ THAO TÁC CHẾ BIẾN
- Thừa bát gạt xuống mâm
- Giận cá chém thớt
c7. CÔNG VIỆC KHÓ KHĂN LÀ CHẾ BIẾN BỊ CẢN TRỞ
- Phi vụ này không dễ mà nuốt trôi
- Lại bị đứa nào đâm bị thóc, chọc bị gạo rồi
c8. CÔNG VIỆC THUẬN LỢI LÀ CÓ ĐỒ ĂN SẴN
- Neymar được đồng đội chuyền một đường như dọn cỗ
- Mấy bộ phim giải trí cứ vơ tạm mấy kịch bản mì ăn liền là xong.
c9. CÓ KẾT QUẢ LÀ HOÀN THÀNH MÓN ĂN
- Đúng là một vụ ngon ăn
- Không biết có nên cơm cháo gì không hay là toi cơm cả lượt.
c10. THU NHẬN KẾT QUẢ LÀ THƯỞNG THỨC MÓN ĂN
- Tận hưởng hương vị chiến thắng cùng bia X.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status