BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
LÊ THỊ KIỀU OANH
TỶ LỆ MẮC VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC BỊ THỪA CÂN, BÉO PHÌ
TẠI THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
CHUYÊN NGÀNH: NHI KHOA
MÃ SỐ: 8720106
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÁI NGUYÊN - NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
LÊ THỊ KIỀU OANH
TỶ LỆ MẮC VÀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, tôi đã
nhận được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ của các bạn đồng
nghiệp, sự động viên to lớn của gia đình và người thân.
Trước tiên, Tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy - Ban Giám hiệu, phòng
Đào tạo, Khoa Nhi Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Ban Giám đốc Sở
Y tế, Trung tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh Lạng Sơn, đã tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Phương Lan
vàPGS.TS. Phạm Trung Kiên, những người thầy tận tâm đã trực tiếp hướng
dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, từ khi bắt đầu thực hiện đến
khi luận văn được hoàn thành.
Tôi vô cùng cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn Nhi, cùng toàn thể giảng
viên trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt cho tôi những
kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Sở giáo dục, Phòng giáo dục
thành phố Lạng Sơn, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh và
các em học sinh trường tiểu học Chi lăng, Vĩnh Trại, đã tạo mọi điều kiện giúp
đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã
động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong những tháng ngày học tập, nghiên
cứu và hoàn thành khoá học này.
Một lần nữa xin được trân trọng cảm ơn!
Tác giả: Lê Thị Kiều Oanh
DANH MỤC CHỮ VIÊT TẮT
BMI
ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN ......................................................................... 3
1.1. Khái niệm thừa cân, béo phì .............................................................. 3
1.2. Tỷ lệ thừa cân, béo phì trên Thế giới và Việt Nam. .......................... 7
1.3. Chất lượng cuộc sống ở trẻ thừa cân, béo phì .................................. 11
1.4. Đặc điểm của đối tượng, địa điểm nghiên cứu ................................ 14
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......... 16
2.1. Đối tượng nghiên cứu....................................................................... 17
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.................................................... 17
2.3. Thiết kế nghiên cứu .......................................................................... 17
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu ................................................. 17
2.5. Các chỉ số, biến số trong nghiên cứu ............................................... 18
2.6. Thu thập số liệu và đánh giá ............................................................ 20
2.7. Các biện pháp khống chế sai số ....................................................... 25
2.8. Xử lý và phân tích số liệu ................................................................ 26
2.9. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu ............................................... 26
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................... 27
3.1. Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học thành phố Lạng Sơn
năm 2018................................................................................................. 27
3.2. Tình trạng chất lượng cuộc sống của trẻ thừa cân - béo phì lứa tuổi
tiểu học .................................................................................................... 33
Chương 4: BÀN LUẬN .......................................................................... 37
4.1. Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học thành phố Lạng Sơn năm
2018 ......................................................................................................... 37
4.2. Chất lượng cuộc sống của trẻ thừa cân - béo phì lứa tuổi tiểu học.. 43
KẾT LUẬN ............................................................................................. 49
KIẾN NGHỊ ............................................................................................ 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những thập kỷ qua, béo phì ở trẻ em lại đang là một trong những
mối quan tâm hàng đầu ở các quốc gia đã và đang phát triển, mà nguyên nhân
không chỉ do chế độ ăn uống thiếu khoa học (mất cân bằng với nhu cầu cơ thể)
mà còn do những yếu tố có liên quan (giảm hoạt động thể lực, stress, ô nhiễm
môi trường và cả những vấn đề xã hội...). Các nhà khoa học quan tâm đến béo
phì trẻ em vì đó là mối đe dọa lâu dài đến sức khỏe, tuổi thọ và kéo dài tình
trạng béo phì đến tuổi trưởng thành, sẽ làm gia tăng nguy cơ đối với các bệnh
mạn tính như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, tiểu đường, viêm xương khớp,
sỏi mật, gan nhiễm mỡ, và một số bệnh ung thư. Béo phì ở trẻ em còn làm
ngừng tăng trưởng sớm, dễ dẫn tới những ảnh hưởng nặng nề về tâm lý ở trẻ
như tự ti, nhút nhát, kém hòa đồng, học kém. Béo phì ở trẻ em có thể là nguồn
gốc thảm họa của sức khỏe trong tương lai [16], [68].
Theo WHO năm 2003 có khoảng 17,6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa
cân, béo phì (TCBP) thì đến năm 2010 con số đó đã lên tới 43 triệu trẻ (trong
đó có 35 triệu trẻ ở các nước đang phát triển), đến năm 2020 nếu bệnh này vẫn
tiếp tục không suy giảm thì sẽ có gần 60 triệu trẻ em bị TCBP. Không chỉ ở các
nước có thu nhập cao mà ngay tại các nước có thu nhập thấp và trung bình thì
tỷ lệ thừa cân, béo phì cũng tăng, nhất là ở các khu vực đô thị.
Việt Nam là nước đang phát triển, tỉ lệ TCBP đang gia tăng. Theo Viện
Dinh dưỡng Quốc gia (2000 và 2010), tỷ lệ TCBP ở trẻ dưới 5 tuổi tăng từ 2,5%
lên 5,6%, trong đó khu vực thành thị tăng từ 0,86% lên 6,5% và khu vực nông
thôn từ 0,5% lên 4,2% [4], [6].
Ở các quốc gia phát triển, đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về TCBP và
chất lượng cuộc sống (CLCS) liên quan sức khỏe của trẻ em và được sử dụng
là một trong các tiêu chuẩn đánh giá về tình trạng sức khỏe.
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Khái niệm thừa cân, béo phì
1.1.1. Định nghĩa
Theo WHO thừa cân là tình trạng cân nặng cơ thể vượt quá cân nặng
"nên có" so với chiều cao. Béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không
bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ
[69],[70].
1.1.2. Phương pháp đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em
Trong nghiên cứu cộng đồng người ta thường sử dụng các chỉ tiêu cân
nặng, chiều cao, bề dày lớp mỡ dưới da để đánh giá tình trạng TCBP.
- Năm 1995 WHO đưa ra cách đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em như sau:
+ Đối với trẻ dưới 5 tuổi và trẻ từ 5 - 9 tuổi:
Thừa cân: Cân nặng/Chiều cao > +2SD
Béo phì: Cân nặng/Chiều cao > +2SD và bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam
đầu, dưới xương bả vai đều 90th percentile.
+ Đối với trẻ 10 - 19 tuổi: Dùng chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi và
giới để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho lứa tuổi này.
Cân nặng (kg)
BMI =
(Chiều cao)2 (m)
- Thừa cân: khi BMI là < 85th đến < 95 th percentile.
- Béo phì: khi BMI 95th percentile và bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam
đầu, dưới xương bả vai đều 90th percentile.
4
- Từ khi chuẩn tăng trưởng mới của WHO được áp dụng, tình trạng dinh
dưỡng ở lứa tuổi 2 - 20 tuổi được đánh giá dựa trên chỉ số BMI theo tuổi. Theo
kinh nguyệt không đều, thường gặp các u nang buồng trứng kèm theo.
- Béo phì trong thiểu năng sinh dục.
- Béo phì do các bệnh về não: Do tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn
thương sọ não, phẫu thuật thần kinh. Các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng
trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sức thèm ăn, tăng insulin thứ phát nên
thường kèm theo béo phì [18], [68].
1.1.3.2. Phân loại béo phìtheo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì
- Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): Là loại BP có tăng số
lượng và kích thước tế bào mỡ.
- Béo phì bắt đầu ở người lớn: Là loại BP có tăng kích thước tế bào mỡ
còn số lượng tế bào mỡ thì bình thường.
- Béo phì xuất hiện sớm: Là loại BP xuất hiện trước 5 tuổi.
7
- Béo phì xuất hiện muộn: Là loại BP xuất hiện sau 5 tuổi.
Các giai đoạn thường xuất hiện BP là thời kỳ nhũ nhi, 5 tuổi, 7 tuổi và
vị thành niên (tuổi tiền dậy thì và dậy thì). Béo phì ở các thời kỳ này làm tăng
nguy cơ của béo phì trường diễn và các biến chứng khác [20], [71].
1.1.3.3. Phân loại béo phìtheo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu
- Béo bụng (béo trung tâm, béo phần trên, béo hình quả táo, béo kiểu đàn
ông - thể Android): Là dạng BP có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng.
- Béo đùi (béo ngoại vi, béo phần thấp, béo hình quả lê, béo kiểu đàn bà
- thể Gynoid): Là loại BP có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng mông và đùi [18].
1.1.3.4. Một số phân loại béo phì khác
Béo phì do sử dụng thuốc: Sử dụng corticoit liều cao và kéo dài, dùng
estrogen, deparkin có thể gây béo phì.
Béo có khối nạc tăng so với chiều cao và tuổi: Trẻ BP có khối nạc tăng
so với tuổi thường có chiều cao cao hơn chiều cao trung bình, thường là trẻ béo
1980, 16% năm 2000 và 17,8% năm 2006. Với tốc độ tăng này thì đến năm
2020 cứ 4 trẻ em thì có 1 em có nguy cơ bị thừa cân [79]. Ở Mexico41,8%, ở
Brazil 22,1%, 22% ở Ấn Độ và 19,3% ởArgentina [75]. Tại Mexico, vào năm
2006 cuộc điều tra của Bộ Y tế thấy gần 10% trẻ 15 tuổi béo phì và 33% thừa
cân hoặc béo phì. Ở Achentina, các nhà điều tra đã đo chiều cao và cân nặng
của 1.688 trẻ em tuổi 10 - 11 tuổi, họ nhận thấy có 35% trẻ bị thừa cân hoặc
béo phì và khoảng 4% trẻ bị nhẹ cân [70]. Dựa trên dữ liệu 2007 - 2008 từ 13
nước (Bỉ, Bulgaria, Cyprus,Cộng Hòa Sec, Ireland, Ý, Latvia, Lithuania, Malta,
Na Uy, Bồ Đào Nha, Slovania, Thụy Điển) nhận thấy rằng 24% trẻ em châu
Âu lứa tuổi 6 - 9 tuổi là thừa cân [41].
Đại dịch TCBP không chỉ của riêng các nước phát triển mà đang có xu
hướng tăng cao ở cả các nước đang phát triển, tỷ lệ trẻ TCBP ở Châu Phi tăng
từ 4% trong năm 1990 lên đến 8,5% trong năm 2010, còn tại các nước Châu Á
mức tăng tương ứng là từ 3,2% đến 4,9% [69].
9
Hiện nay, béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứ hai
trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á và được xem như là một trong
những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và Y tế. Nghiên cứu của Amin và
cộng sự tại một số trường tiểu học ở Al Hassa, Ả Rập cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo
phì của học sinh là 14,2%.Tại Ấn Độ, nghiên cứu lớn nhất, gồm 40.000 trẻ ở lứa
tuổi 8 -18 tuổi ở khu vực đô thị, thấy 14% trẻ bị thừa cân hoặc béo phì, ước tính
khoảng 15 triệu trẻ ở thành thị bị thừa cân hoặc béo phì [52], [58].
Tại Nhật Bản (1996 -2000) tỷ lệ TCBP ở lứa tuổi 6 - 14 tuổi là 16,2%
(nam) và 14,3% (nữ). Tại Trung Quốc, trong vòng 20 năm qua, các nghiên cứu
đã cho thấy sự gia tăng đáng kể trong béo phì ở thanh thiếu niên 8 -18 tuổi:
Năm 1985, chỉ có 2% trẻ trai và 1% trẻ gái bị thừa cân hoặc béo phì. Đến năm
2005, có khoảng 14% trẻ trai và 9% trẻ gái bị thừa cân hoặc béo phì (có tổng
21 triệu trẻ). Một nghiên cứu tổng hợp khác của Trung Quốc năm 2009 về
Tỷ lệ TCBP
2002
2,2%
2008
8,3%
[21]
2003
7,9%
[18]
Hà Nội
2009
12,9%
[8]
Buôn Ma Thuột
2004
2012
31,5%
[13]
TP Đà Nẵng ( tiểu học
2014
55,3%
[19]
2014
37,3%
[19]
2016
23,4%
[35]
Trần Văn Ơn)
TP Đà Nẵng ( tiểu học
Nguyễn Phan Vinh)
TP Bắc Ninh
Chất lượng cuộc sống là một khái niệm đã được nghiên cứu trong nhiều
lĩnh vực khác nhau: y học, kinh tế và chính trị học, triết học, tâm lý, xã hội học.
Khái niệm được đề xuất bởi WHO năm 1994: "CLCS là nhận thức mà cá nhân
có được trong đời sống của mình, trong bối cảnh văn hoá, và hệ thống giá trị
mà cá nhân sống, trong mối tương tác với những mục tiêu, những mong muốn,
những chuẩn mực và những mối quan tâm. Đó là một khái niệm rộng phụ thuộc
vào hệ thống phức hợp của trạng thái sức khoẻ thể chất, trạng thái tâm lý hay
12
mức độ độc lập, những mối quan hệ xã hội và môi trường sống của mỗi cá
nhân". Sức khỏe, một yếu tố quan trọng của CLCS thì lâu nay thể chất được
biết đến nhiều nhất, tâm thần biết ít hơn còn môi trường sống (xã hội và thiên
nhiên) thì chẳng được quan tâm trong việc chăm sóc sức khỏe người dân, đó là
một thiếu sót lớn. CLCS là một chủ đề đã được nghiên cứu sâu với đối tượng
người lớn, nhưng đối với trẻ em, đây là một chủ đề nghiên cứu còn rất mới mẻ
[78].
Upton và cộng sự, năm 2008 đã đưa ra một khái niệm về CLCS của trẻ
em như sau:“CLCS của trẻ tương ứng với mức độ hài lòng của trẻ trong nhiều
lĩnh vực khác nhau của đời sống của nó bao gồm sự thoải mái về mặt thể chất,
xã hội, kinh tế, và tâm lý”.Các công cụ đánh giá CLCS trẻ em đã khai thác các
lĩnh vực về tâm lý (bao gồm các cảm xúc, sự có mặt của cảm xúc tích cực), thể
chất (bao gồm sự khoẻ mạnh về thể chất và các chức năng), và mối quan hệ xã
hội (số lượng và chất lượng mạng lưới các mối quan hệ mà từng cá nhân tương
tác), ngoại trừlĩnh vực về sự thoải mái về vật chất, tinh thầnvà tôn giáo [36],
[43], [65]. Mặt khác, nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, những lĩnh vực cấu
thành CLCS của trẻem khác biệt rất nhiều với CLCS của người lớn [76], [78].
Một số tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ gia đình, mối quan
hệbạn bè và môi trường học đường, hay sự độc lập và không phụ thuộc trong
đời sống của trẻ em [43].
so với trẻ không bị TCBP [56].Năm 2013, Lin CYvà cộng sự chỉ ra rằng trẻ béo
phì ở cộng đồng cho thấy CLCS thấp hơn so với trẻ bình thường [57]. Trong
nghiên cứu của Sahar A. Khairy a và CS thực hiện trên 111 trẻ em từ 6 đến12
tuổi) chỉ ra rằng tổng điểm CLCS ở trẻ em TCBP thấp hơn trẻ bình thường [65].
Một nghiên cứu khác của F Khodaverdi và CS nghiên cứu:"Mối quan hệ giữa
béo phì và CLCS trong trường học "ở trẻ 9-11 tuổi tại Iran năm 2007", thực hiện
đánh giá điểm CLCS ở 240 trẻ em (120 bé trai) với tuổi trung bình 10 (từ 9 11tuổi), tỷ lệ trẻ thừa cân là 13,8% và 14,6% trẻ bị béo phì. Điểm CLCS do trẻ
14
tự trả lời cho thấy trẻ béo phì có tổng số điểm CLCS (79,30 ± 12,74) thấp hơn
trẻ bình thường (85,34 ± 11,7) với P
Nam - Trung Quốc 18 km; cách Hữu Nghị Quan 15 km và Đồng Đăng 13 km
về phía đông bắc. Có diện tích khoảng 78.11 km²với 8 đơn vị hành chính gồm
05 phường, 03 xã. Là đô thị loại III trực thuộc tỉnh. Dân số là 93.015 người
(theo niên giám thống kê năm 2015) với nhiều dân tộc anh em, trong đó dân
tộc Kinh chiếm tỷ lệ 44% dân số; dân tộc thiểu số chiếm 56% dân số. Thành
phố Lạng Sơn có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc
phòng an ninh trên địa bàn tỉnh cũng như cả nước, là nơi giao lưu buôn bán sầm
uất, nằm trong hành lang kinh tế tuyến Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải
Phòng, là đầu mối quan trọng để sản xuất hàng hóa và giao lưu kinh tế trong
16
nước và quốc tế. GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 60,6 triệu đồng, thu
ngân sách trên địa bàn năm 2015 là 192,3 tỷ đồng. Trên địa bàn thành phố có
10 trường tiểu học với 222 lớp và có 8330 học sinh.
Với đặc thù kinh tế vùng cửa khẩu, tốc độ đô thị hóa và phát triển nhanh
của nền kinh tế đã ảnh hưởng rất lớn đến lối sống và thói quen ăn uống của
người dân. Điều này có một tác động có ý nghĩa tới tình trạng dinh dưỡng và
sức khỏe của quần thể dân cư, đặc biệt là ở khu vực thành phố ở tỉnh Lạng Sơn.
Trong khi mức sống được cải thiện, điều kiện kinh tế hộ gia đình tại trung tâm
thành phố thường khá giả có đầy đủ các tiện nghi sinh hoạt đắt tiền như máy
tính, điện thoại, tivi, máy điều hòa nhiệt độ.. Mặt khác, trẻ em thành phố thường
phải học thêm nhiều, dễ mệt mỏi, lại ít có thời gian cho hoạt động thể lực, nên
cách giải trí nhanh nhất là xem vô tuyến, chơi điện tử, nằm nghe nhạc … đều
là các hoạt động tĩnh. Bên cạnh đó, các thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh
giàu đạm, béo được bày bán tràn lan ngoài đường phố cũng được các em học
sinh sử dụng thường xuyên.
Trong 10 năm qua chưa có nghiên cứu cập nhật về TCBP ở TP Lạng Sơn
và hiện nay chưa có nghiên cứu CLCS ở trẻ TCBP. Đây là bằng chứng giúp
các nhà quản lý có kế hoạch kiểm soát TCBP và nâng cao CLCS ở lứa tuổi tiểu