VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGHIÊM THỊ HỒ THU
VĂN XUÔI NGỌC GIAO TRONG TIẾN TRÌNH
VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9 22 01 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.GS Phong Lê
2. PGS.TS Lưu Khánh Thơ
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nghiên cứu của luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kì
công trình nào khác.
Tác giả luận án
Nghiêm Thị Hồ Thu
1.1. Văn học Việt Nam thế kỷ XX đã trải qua một thời kỳ vận động và phát
triển gắn liền với những thăng trầm của lịch sử dân tộc và đạt được nhiều thành tựu
rực rỡ. Đó là giai đoạn văn học dân tộc đứng trước hai yêu cầu là cách mạng hóa và
hiện đại hóa. Thực hiện được những yêu cầu đó, văn học thế kỷ XX đã tiếp tục đưa
nền văn học nước nhà vươn đến những tầm cao mới với một quy mô ngày càng
phong phú, đa dạng trong những năm cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI.
Sự phát triển của các trào lưu, xu hướng văn học, nhất là trong giai đoạn 1930-1945
đã đem đến những “mùa gặt” và tạc vào lịch sử văn chương Việt Nam “một thế hệ
vàng”. Làm nên diện mạo và khẳng định vị thế của văn học, yếu tố quan trọng và
tiên quyết đó chính là đội ngũ tác giả - lực lượng sáng tác. Vì vậy, nghiên cứu, tìm
hiểu, phát hiện những giá trị văn chương trong từng tác giả với hệ thống các tác
phẩm của họ luôn là việc làm cần thiết và hữu ích trong quá trình tiếp cận một nền
văn học.Việc đánh giá lại một số tác giả tiêu biểu của văn học hiện đại có đóng góp
cho tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam là điều cần thiết
1.2. Là một tác giả có vị trí quan trọng trong tòa soạn Tiểu thuyết thứ Bảy - tờ
báo phổ thông ra hàng tuần trong đời sống văn học trước 1945, Ngọc Giao là một
cây bút sung sức và quen thuộc với độc giả đương thời. Với một khối lượng tác
phẩm tương đối lớn và phong cách văn chương giàu mỹ cảm, hướng tới lý tưởng
nhân văn đậm chất trữ tình mà cũng giàu chất hiện thực, Ngọc Giao xứng đáng là
nhà văn hiện đại góp phần tạo dựng diện mạo văn học nước nhà thế kỷ XX, nhất là
giai đoạn 1930-1945 cũng như bộ phận văn học khu vực đô thị Hà Nội tạm chiếm
1947-1954. Do đó, sự nghiệp văn chương của nhà văn Ngọc Giao cần được tìm hiểu
và nghiên cứu nhằm làm sáng rõ hơn về một phong cách tác giả đã góp phần làm cho
văn học hiện đại Việt Nam thêm phong phú. Đó cũng là cơ sở để rút ra những nhận
định mang tính chất lý luận về một thời kỳ văn học, một giai đoạn văn học.
1.3. Mặc dù Ngọc Giao là một cây bút đã đem đến cho độc giả những giá trị
văn học không thể phủ nhận nhưng do cách nhìn nhận, sự đánh giá đôi khi còn chủ
quan, phiến diện, số phận văn chương Ngọc Giao đã phải trải qua nhiều thăng trầm,
sóng gió. Có một quá trình sáng tác xuyên suốt thế kỷ nhưng giai đoạn 1945 -1985
những đóng góp của ông hoàn toàn bị khuất lấp bởi những quy kết và phê phán khắc
mang tính khả thi.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến mục đích:
- Đặt văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại để
thấy được văn nghiệp của tác giả với những thành công và giới hạn cũng như bước
2
đầu có những đánh giá, nhận xét có hệ thống về đặc điểm văn chương, thế giới nghệ
thuật, vị trí, vai trò và đóng góp của nhà văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
- Nghiên cứu những phương diện cơ bản trong sự nghiệp sáng tác của Ngọc Giao
như: Hệ thống các tác phẩm và tìm hiểu các giai đoạn sáng tác, quan niệm văn
chương của nhà văn, đặc điểm các thể loại sáng tác chính là truyện ngắn, tiểu thuyết
và ký từ đó rút ra những đặc điểm cơ bản của văn xuôi Ngọc Giao trên các phương
diện cơ bản như: đề tài, thế giới nhân vật, người kể chuyện, ngôn ngữ, giọng điệu...
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Tập hợp, thống kê, phân loại các tác phẩm của Ngọc Giao theo giai
đoạn sáng tác và thể loại.
Thứ hai: Tìm hiểu tình hình chính trị, xã hội, những giao lưu, tiếp biến và tác
động của các yếu tố chủ quan và khách quan đến quá trình sáng tác và đặc trưng bút
pháp của nhà văn.
Thứ ba: Đi sâu phân tích lý giải các khía cạnh giá trị nội dung và nghệ thuật
của các tác phẩm văn học cụ thể để rút ra những nhận xét khái quát về từng thể loại
chính yếu trong từng giai đoạn sáng tác của tác giả nói riêng và đặc điểm văn xuôi
Ngọc Giao nói chung.
Thứ tư: Khẳng định những nét đặc trưng trong nội dung và nghệ thuật tác
phẩm Ngọc Giao. Đánh giá về phong cách và vị trí, đóng góp của nhà văn trong tiến
trình vận động của lịch sử văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ XX.
thống, toàn diện, thống nhất để thực hiện quá trình đánh giá, định vị tác giả trong tiến
trình vận động và phát triển của văn học.
Ngoài ra, chúng tôi kết hợp vận dụng các phương pháp, thao tác khác khi cần
thiết như phương pháp loại hình, thao tác thống kê – phân loại... và các lý thuyết có
liên quan như: lí thuyết tự sự học, thuyết hiện sinh, văn hóa học, phê bình sinh thái,
nữ quyền luận, hậu thực dân...
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án là công trình khoa học nghiên cứu một cách hệ thống đặc điểm văn
xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại.
- Kế thừa kết quả nghiên cứu của những nhà nghiên cứu đi trước, luận án tiếp tục
chỉ ra và làm rõ quan niệm nghệ thuật của nhà văn, những giá trị nổi bật, những
dấu ấn sáng tạo và đóng góp, vị trí của văn xuôi Ngọc Giao trong nền văn học
Việt Nam hiện đại.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lí luận
- Luận án góp phần đánh giá đầy đủ và toàn diện hơn về đặc điểm, thành tựu văn xuôi
Ngọc Giao nói chung và phong cách Ngọc Giao nói riêng trong dòng chảy văn học
Việt Nam hiện đại.
4
- Luận án là minh chứng cho những đóng góp của nhà văn Ngọc Giao với nền văn
xuôi Việt Nam hiện đại và cũng là những bổ khuyết cho việc nghiên cứu về một tác
giả trong một giai đoạn văn học còn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận án góp phần phục dựng chân dung văn học tác giả Ngọc Giao và có thêm cơ sở
cho những ghi nhận về đóng góp của Ngọc Giao với nền văn học Việt Nam hiện đại.
- Luận án cũng là tài liệu tham khảo phục vụ công tác học tập, giảng dạy, nghiên cứu
cho sinh viên, giáo viên và các nhà nghiên cứu về văn học Việt Nam hiện đại.
nhằm thể hiện trình độ, đặc điểm hoặc ngầm ý nói đến những giá trị và cái mới trong
tương quan so sánh với cái trước đó. Để xác định một phạm trù nào đó là hiện đại
hay không, thông thường "hiện đại" được xác định qua hai tiêu chí thời gian và trình
độ phát triển. Đối với khoa học nhân văn nói chung và văn học nói riêng, tính hiện
đại có thể xuất hiện ngay từ trong những giá trị truyền thống. Mặt khác, theo Trần
Đình Sử, "tính hiện đại là sự thay đổi hệ hình tư duy, hệ thống giá trị, sự hình thành
một giai đoạn văn hóa mới trong đời sống dân tộc và nhân loại, tùy theo bối cảnh của
mỗi nền văn hóa mà tính hiện đại có nội dung khác nhau" [154; 255- 256]. Đi liền
với khái niệm hiện đại là tính hiện đại. Tính hiện đại gắn với độ mở của tư duy và có
thể là những dự phóng của thời đại. Và theo đó, nói đến hiện đại cũng là nói đến cái
mới, cái khác với cái cũ. Đó cũng là những nhân tố cách mạng, kết tinh, thúc đẩy sự
phát triển của lịch sử.
*Vấn đề phân kì văn học hiện đại Việt Nam
Vấn đề phân kì văn học Việt Nam thế kỷ XX là vấn đề khá phức tạp bởi có nhiều
ý kiến khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau. Đó vẫn là vấn đề còn có những
điểm chưa được các nhà nghiên cứu đồng thuận và vẫn tiếp tục nghiên cứu. Song
nhìn tổng thể, các nhà nghiên cứu đều cho rằng tiến trình văn học Việt Nam là sự
tiếp nối từ văn học cổ trung đại đến hiện đại và hậu hiện đại.
6
Nhìn tiến trình văn học theo trục thời gian, về mốc thời gian bắt đầu của văn học
cận đại và văn học hiện đại có nhiều ý kiến khác nhau. Nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ
Chi cho rằng: văn học cận đại từ 1907 đến 1945, văn học hiện đại tính từ sau 1945.
Theo nhà nghiên cứu Phong Lê, giai đoạn văn học cận đại rất mờ nhạt và có tính
trung chuyển giữa văn học trung đại và hiện đại. Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ lại
cho rằng văn học hiện đại bắt đầu từ 1862 đến 1945. Các tác giả Trần Đình Hượu và
Lê Trí Dũng lại cho giai đoạn 1900 - 1930 là giai đoạn giao thời, sau 1930 là văn học
hiện đại. Các tác giả của một số giáo trình văn học ở miền Bắc cũng phần lớn cho
góp phần hiện đại hóa văn học. Nhiều nhà văn, nhà thơ đã nhận thấy những gò bó và
bế tắc bởi những quy phạm của văn học trung đại và họ đã tiếp nhận những yếu tố
hiện đại từ phương Tây nhưng không hoàn toàn đánh mất bản sắc văn hóa Việt.
Nhưng do đặc điểm văn hóa và tâm lý mỗi dân tộc khác nhau, quá trình hiện đại hóa,
phương Tây hóa cũng tạo nên những đứt gãy văn hóa, đứt gãy quan niệm, tư duy và
văn tự. Theo nhiều nhà nghiên cứu, đến năm 1945 văn học Việt Nam đã cơ bản hoàn
tất quá trình hiện đại hóa. Quá trình hiện đại hóa theo đó diễn ra trong ba chặng: Từ
đầu thế kỷ XX đến 1920, những năm 20, từ 1930-1945. Theo nhà nghiên cứu
Nguyễn Đăng Điệp và một số ý kiến khác, "đến năm 1945, đúng là văn học Việt
Nam đã nằm trong quỹ đạo nghệ thuật hiện đại, nhưng quá trình hiện đại hóa văn học
dân tộc vẫn tiếp tục diễn ra trong suốt thế kỷ XX" [42; 21]. Vì vậy, quá trình hiện đại
hóa diễn ra theo ba chặng. Chặng 1: Từ đầu thế kỷ XX đến 1945 gắn liền với sự giao
lưu văn hóa Pháp và phương Tây. Chặng 2 từ 1945 đến 1985 gắn với sự giao lưu văn
hóa Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa diễn ra chủ yếu ở miền Bắc
và giao lưu, tiếp nhận văn hóa phương Tây, lối sống Mỹ ở miền Nam. Chặng 3 từ
1986 đến nay gắn với quá trình dịch chuyển, giao lưu toàn diện, quy mô, sâu sắc hơn
với văn học thế giới. Như vậy, "đầu thế kỷ XX, hiện đại hóa chủ yếu đồng nghĩa với
phương Tây hóa, Pháp hóa. Từ sau 1945, hiện đại hóa đã trở nên đa dạng hơn và sự
đa dạng ấy càng trở nên rõ nét từ sau 1986 khi Việt Nam xác lập nền kinh tế thị
trường và tham gia hội nhập thế giới đa phương"[42; 24]. Từ nội hàm khái niệm
"hiện đại hóa", hiện đại hóa văn học là quá trình tiến đến tính hiện đại của văn học
với những gì mới mẻ, hợp thời, có tính chất tinh xảo và mang tính thời đại mới. Bản
chất của hiện đại hóa chính là sự đổi mới văn học. Và vì vậy, bắt đầu đổi mới theo
hướng hiện đại từ đầu thế kỷ XX cho đến nay văn học Việt Nam đã và đang được
hiện đại hóa trong suốt tiến trình văn học qua những chặng khác nhau và mang
những đặc trưng khác nhau đưa nền văn học Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy
chung của văn học thế giới. Mỗi chặng đường hiện đại hóa gắn liền với đặc điểm lịch
sử, xã hội và những mối giao lưu văn hóa khác nhau tạo nên những khu biệt và đặc
Nền kinh tế thị trường bắt đầu hình thành từ đầu thế kỉ XX đã kích thích văn học
phát triển theo hướng hiện đại. Văn chương viết ra không chỉ để giải trí, tiêu sầu mà
trở thành hàng hóa, nhà văn là nhà sản xuất, viết văn trở thành một nghề, người đọc
văn chương là người tiêu thụ sản phẩm. Theo đó giá trị tác phẩm văn chương gắn
liền với tiền tệ. Đó là điểm khác biệt với văn học trung đại. Cũng từ đó một thị
trường văn hóa và văn học được hình thành.Và xuất bản, báo chí vừa là nguồn cung
vừa kích thích tiêu thụ. Đó cũng là cơ sở để mở rộng thị trường văn học và thúc đẩy
sự phát triển của văn học. Gắn với sự phát triển của thị trường, cảm quan đô thị trong
văn học cũng trở thành tiêu chí giúp ta phân biệt văn học trung đại và văn học hiện
đại. Ý thức về đô thị và kinh tế thị trường trong văn học hiện đại đã trở thành thường
trực trong xã hội hiện đại chứ không chỉ dừng ở mức độ cá biệt như trong văn học
trung đại. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, miền Bắc không tồn
tại kinh tế thị trường. Những năm 1954 - 1975, miền Nam tuy có thị trường nhưng
báo chí và xuất bản tư nhân chưa thực sự là lực lượng vật chất thực sự như tính chất
vốn có của nó. Sau khoảng giữa những năm 80 của thế kỷ XX, do hệ quả của công
cuộc Đổi mới sau đó một thời gian nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa được xác lập. Theo đó, hoạt động xuất bản được mở rộng và các công ty
truyền thông phát triển. Thị trường văn học sôi động, cởi mở, đa dạng hơn với nhiều
9
loại hình và có sự phân hóa mạnh mẽ. Đó cũng là cơ hội và thách thức cho người
sáng tác cùng sự tồn tại của tác phẩm văn học.
Biểu hiện cơ bản phân biệt văn học hiện đại và văn học trung đại là sự hiện đại về
thi pháp nghệ thuật. Thi pháp văn học hiện đại hoàn toàn thoát khỏi những nét quy
phạm của văn học trung đại. Về quan niệm nghệ thuật, văn học hiện đại gắn liền với
cảm quan cá nhân, khuyến khích sự sáng tạo chứ không còn hướng đến mục đích cao
nhất là giáo huấn, tải đạo, nói chí, phi ngã. Tư duy nghệ thuật trung đại tuân theo
những quy phạm nghệ thuật có sẵn, nghiêm ngặt, nguyên tắc. Tư duy nghệ thuật hiện
Hoạt động dịch thuật là phương thức phổ biến và lưu truyền văn hóa hữu hiệu.
Các tác phẩm văn học Trung Hoa, Pháp, phương Tây được dịch ra Quốc ngữ đã cung
cấp những hiểu biết mới cho người đọc và góp phần hoàn chỉnh thể loại, đổi mới
ngôn ngữ, mở rộng kiến thức văn chương cho đội ngũ sáng tác và độc giả. Sự tiếp
nhận các văn bản dịch thuật góp phần tích cực cho quá trình hiện đại hóa văn học.
Lý luận và phê bình văn học là hoạt động góp phần hoàn thiện diện mạo hiện đại
cho văn học dân tộc. Sự tự ý thức về văn học bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XX
thông qua tiếp xúc với những yếu tố văn hóa, văn học phương Tây đã giúp cho mầm
mống của lý luận, phê bình văn học mới xuất hiện. Từ những công trình có tính chất
mở đầu như Khảo cứu về tiểu thuyết (1919) của Phạm Quỳnh, các bài báo tranh luận
về Truyện Kiều, về thơ Mới, tranh luận giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và
nghệ thuật vị nhân sinh... đưa đến sự xuất hiện một đội ngũ lý luận, phê bình tài
năng. Bộ môn lý luận, phê bình văn học hiện đại đã được xác lập khiến cho đời sống
văn chương ngày càng sôi động với các tác giả tiêu biểu như: Dương Quảng Hàm,
Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Trương Tửu, Trần Thanh Mại, Đinh Gia Trinh, Đặng
Thai Mai... Từ sau 1945, lý luận, phê bình văn học ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Do đó, các lý thuyết phê bình mới cùng thực tiễn sáng tác được cập nhật và có sự tác
động hai chiều góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học. Giai đoạn 1945 - 1954,
lý luận, phê bình ở miền Bắc tập trung nghiên cứu lý luận Mác - Lenin về văn học
nghệ thuật, đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng, coi trọng mối quan hệ giữa văn
học nghệ thuật và chính trị. Hoạt động lý luận, phê bình một mặt nỗ lực hướng đến
chuyên môn mặt khác phải gắn với yêu cầu phục vụ cách mạng. Giai đoạn 1954 1975, lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam sôi nổi và phong phú, chịu ảnh
hưởng và giao lưu với văn hóa Mỹ và phương Tây. Một số tư tưởng lý thuyết mới đã
được du nhập như thuyết hiện sinh, phân tâm học, cấu trúc luận... Sau 1975, đặc biệt
là sau 1986, lý luận phê bình văn học phát triển ngày càng phong phú trong xu thế
hội nhập toàn cầu. Nhiều trường phái, lý thuyết mới được giới thiệu như: thi pháp
học, kí hiệu học, cấu trúc luận, phân tâm học, văn hóa học, nữ quyền luận, phê bình
sinh thái, lý thuyết diễn ngôn, hậu thực dân...Đó là cơ sở cho nhiều hướng nghiên
cứu, tiếp cận văn học và cũng là động lực cho các xu hướng sáng tác văn học.
trẻ mới được đào tạo ở trường Tây đã tạo cho văn học 1900-1930 một dấu ấn giao
thời giữa hình thức cũ và nội dung mới, nội dung cũ và hình thức mới, nội dung và
hình thức vừa cũ vừa mới. Trong giai đoạn chuyển đổi hệ hình văn học này, cái cũ có
xu hướng ngày càng ít đi và dần được thay thế bằng cái mới.
Sang thời kì 1930-1945, văn học đã phát triển khẩn trương mau lẹ theo hướng
hiện đại hóa trên các lĩnh vực của đời sống văn học: Quan niệm nghệ thuật thay đổi,
văn học trở thành lĩnh vực chuyên biệt, không còn quá chú trọng tính đạo lý giáo
huấn mà trở thành phương tiện tự biểu hiện của nhà văn, để nhận thức và khám phá
thế giới, đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ và nhận thức của công chúng. Lực lượng sáng tác
ngày càng đông đảo và tiến bộ nhất là tác giả trí thức Tây học. Phương tiện sáng tác
được thay đổi từ chữ Hán, Nôm sang chữ Quốc ngữ. Ngôn từ văn học bớt hẳn tính
ước lệ tượng trưng, gần hơn với đời sống có khả năng diễn đạt tinh tế mọi phương
diện đời sống và con người. Câu văn xuôi mới hình thành nhưng phát triển nhanh
chóng và đạt đến trình độ hiện đại với những phong cách độc đáo. Thơ chuyển mạnh
từ điệu ngâm sang điệu nói, diễn đạt tinh tế sáng tạo cái tôi trữ tình. Phương thức lưu
12
hành ngày càng nhanh chóng, tiện lợi với sự ra đời của nhiều nhà xuất bản, nhà in.
Công chúng văn học ngày càng đông đảo mở rộng tới các tầng lớp thị dân. Và đặc
biệt là sự biến đổi về thi pháp sáng tác để thoát ra khỏi phạm trù văn học trung đại
phá vỡ tính quy phạm, sùng cổ, ước lệ, tượng trưng, phi ngã. Văn học mở ra nhiều
khả năng mới trong khám phá nghệ thuật. Quá trình hiện đại hóa diễn ra trên mọi thể
loại và phát triển mau lẹ trên các thể loại văn xuôi như tiểu thuyết, truyện ngắn,
phóng sự, ký... Thơ hiện đại hóa sâu sắc với phong trào Thơ Mới, xuất hiện những
thể loại mới như kịch nói, phê bình văn học... Trong một thời gian ngắn, văn học đã
đạt được nhiều thành tựu rực rỡ với nhiều khuynh hướng, trào lưu sáng tác, nhiều cá
tính sáng tạo nở rộ. Tiêu biểu là khuynh hướng văn học lãng mạn với phong trào văn
xuôi Tự lực văn đoàn và phong trào thơ Mới; khuynh hướng văn học hiện thực với
phương Tây và văn hóa Pháp đã tạo nên một sự chuyển đổi toàn diện trong đời sống
văn học từ đội ngũ sáng tác đến tư duy nghệ thuật, thi pháp văn học... Và đặc biệt
những người làm nên diện mạo mới của văn học hiện đại là đội ngũ các nhà văn, nhà
thơ mới với phong cách đa dạng, số lượng không ngừng phát triển. Trên cơ sở đó, sự
xuất hiện của các nhóm phái văn học với những tôn chỉ, hướng đi, hoạt động khác
nhau đã góp phần làm nên bức tranh sinh động của nền văn học Việt Nam giai đoạn
1930-1945. Đó là các nhóm văn học bao gồm tập hợp một số nhà văn, nhà thơ, phê
bình khảo cứu... hoạt động trong lĩnh vực văn học cùng làm việc với nhau với một
mục đích, tư tưởng chung nhằm đưa ra những hướng đi mới cho hoạt động văn học.
Với những đặc thù riêng khác với nhóm văn học đã có ở văn học trung đại, sau năm
1932, có nhiều nhóm văn học được thành lập như: Tự lực văn đoàn (1933), Xuân
Thu nhã tập (1939), Hàn Thuyên (1941), Thanh Nghị ( 1941), Tri Tân (1941)...và
nhóm Tân Dân (1934). Các nhóm văn học này đều có những đặc điểm riêng mang
dấu ấn của nhóm và thời đại với những đóng góp tích cực tới tư tưởng, văn hóa, xã
hội. Các nhóm phái cũng đều có nhà xuất bản và các sách, tạp chí được phát hành
với những đặc trưng riêng của từng nhóm. Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi chỉ
giới thiệu về nhóm Tân Dân bởi đây là nhóm văn học gắn liền với quá trình hiện đại
hóa văn học giai đoạn này và có liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu là nhà
văn Ngọc Giao - thành viên của Tiểu thuyết thứ Bảy và cũng là cây bút quen thuộc
trên các ấn phẩm của Tân Dân.
Nhóm Tân Dân còn được gọi dưới các tên khác như nhóm Tiểu thuyết thứ Bảy
và Tạp chí Tao Đàn, nhóm Ích Hữu, nhóm Phổ thông bán nguyệt san. Đó là nhóm gồm
các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình hoạt động văn hóa nghệ thuật tập hợp xung quanh
Nhà xuất bản Tân Dân với các ấn phẩm báo và tạp chí: Tiểu thuyết thứ Bảy, Phổ thông
bán nguyệt san, Ích Hữu, Tao Đàn, Truyền bá và các tủ sách Tao Đàn, tủ sách Những
tác phẩm hay. Trong đối trọng với nhóm Tự lực văn đoàn, Tân Dân có sự mở rộng và
phát triển với rất nhiều cơ quan ngôn luận và quy tụ được nhiều cây bút nổi tiếng với
nhiều dấu ấn sáng tạo khác nhau. Dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của ông chủ báo Vũ Đình
Long tài năng và tâm huyết, năm 1934, xuất bản phẩm đầu tiên của Tân Dân ra đời là
Tiểu thuyết thứ Bảy và dần mở rộng, phát triển với 5 tờ báo và tạp chí nổi tiếng cùng hai
nghệ thuật nhưng các tác phẩm thời kỳ này đã phản ánh diện mạo của nền văn học
trong buổi đầu độc lập và tiếp tục đối diện với những cam go thử thách mới của
chiến tranh. Thời kì 1945 - 1954, gắn với cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc,
tình thế cài răng lược của cuộc chiến đấu dẫn đến hình thành hai bộ phận văn học.
Bộ phận chủ đạo với một đội ngũ lớn viết ở vùng tự do và chiến khu Việt Bắc. Một
bộ phận nhỏ sáng tác ở vùng địch hậu trong đó có Hà Nội và Sài Gòn là hai địa bàn
quan trọng. Bộ phận văn học công khai và không công khai ở Hà Nội tạm chiếm vẫn
tồn tại trong bối cảnh lịch sử mới đầy cam go, khốc liệt nhưng phong phú với nhiều
giá trị nhân văn. Các tác giả tiêu biểu của bộ phận này là Vũ Hoàng Chương, Lê Văn
Trương, Nguyễn Cao Củng, Sơn Nam, Nguyễn Tường Phượng, Lê Văn Hòe, Lê
Đình Chân, Sao Mai, Hoàng Công Khanh, Nguyễn Bắc, Vũ Bằng, Ngọc Giao, Giang
Quân, Băng Hồ, Thế Phong, Băng Sơn, Nam Xương, Tuyết Lan, Mộng Sơn... Trong
điều kiện kinh tế khó khăn, chế độ kiểm duyệt gắt gao, các văn nghệ sĩ đã phải cố
15
gắng hết sức để đời sống đỡ chật vật, bắt kịp với cuộc sống mới, chịu nhiều cực nhục để
tồn tại chứng minh cho tấm lòng thanh sạch và cho ra đời những tác phẩm có ý nghĩa.
Sự đấu tranh làm thế nào để trong bối cảnh đầy bất trắc vẫn có thể sống và viết không
trái với lương tâm, hướng về kháng chiến và nhân dân nhưng vẫn giữ được mình không
bị nhà cầm quyền gây khó dễ là nỗi ưu tư lớn của mỗi nhà văn giai đoạn này. Không ít
văn nghệ sĩ Hà Nội thời tạm chiếm đã bị bắt giam vào Hỏa Lò nhưng các tác giả vẫn
vượt lên chính mình kiên cường, nhân hậu, tài hoa với những tác phẩm mang đậm tinh
thần dân tộc, đạo đức và nhân văn để lại một gia tài đáng kể cho văn chương Hà Nội
những năm 1947-1954. Trong số đó, Ngọc Giao cũng là cây bút tiêu biểu can đảm và
nhẫn nại, nhân hậu và dũng cảm đương đầu với bối cảnh xã hội mới để sống và sáng tác
nhiều tác phẩm mang tính thời sự, hiện đại và xúc động. Ông trở thành nhà văn có
phong cách và lối viết táo bạo đem đến cho độc giả những suy tư mới về con người và
lịch sử xã hội với những chuyển biến thi pháp trong sự thống nhất quan niệm nghệ thuật
tộc thể hiện sự dấn thân, dũng cảm để sáng tác những tác phẩm giàu chất hiện thực, giá
trị nhân văn và hiện thực với những cách tân, sáng tạo.
Với sứ mạng lịch sử của mình, văn học 1945-1975 mang đặc điểm của một nền
văn học đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản nhằm phục vụ chính trị, cổ vũ chiến
đấu. Đó là nền văn học hướng về đại chúng, đại chúng vừa là đối tượng phản ánh vừa là
công chúng văn học và là nguồn bổ sung cho lực lượng sáng tác. Nền văn học mang
cảm hứng sử thi và khuynh hướng lãng mạn, trữ tình là liều thuốc tinh thần định hướng
toàn dân tộc đoàn kết quyết tâm đánh thắng kẻ thù, tin tưởng ở tương lai tốt đẹp.
Sự nghiệp cách mạng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta giai
đoạn này đòi hỏi nền văn học nước ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư
tưởng và vì vậy việc giao lưu, học tập kinh nghiệm sáng tác với văn học Xô Viết và
các nước xã hội chủ nghĩa được ưu tiên. Các sáng tác và công trình lí luận văn học
Nga Xô Viết và các nước xã hội chủ nghĩa được dịch sang tiếng Việt và trở thành
hình mẫu cho các nhà văn Việt Nam. Văn học Nga Xô Viết với ở mức độ nhất định
được tiếp nhận gắn liền với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Phương pháp sáng tác
hiện thực xã hội chủ nghĩa được nhiều nhà văn hưởng ứng.
Ở miền Nam, văn học đô thị chịu ảnh hưởng của tư tưởng triết học, mỹ học và
văn học hiện sinh của phương Tây. Những lí thuyết mới này đã chi phối đến văn học
với một cách nhìn khác văn học ở miền Bắc. Mặc dù thời gian tiếp cận chưa nhiều và
sâu sắc nhưng nó cũng đã ít nhiều tác động đến thực tiễn sáng tác và lí luận, phê bình
văn học với những dấu ấn manh nha, khác lạ và trở lại trong văn học sau 1986.
Với nhà văn Ngọc Giao, đây là giai đoạn cầm bút đầy sóng gió nhưng cũng là
giai đoạn nhà văn có những bứt phá và vận động trong tư tưởng và bút pháp sáng tác.
Không hoàn toàn đi theo tiếng gọi của cách mạng như các nhà văn Nam Cao, Nguyễn
Tuân, Tô Hoài... nhưng văn chương Ngọc Giao giai đoạn này vẫn là tiếng nói yêu nước
thầm kín với những khám phá trong quá trình tự vận động hiện đại hóa văn học. Từ thể
loại đến ngôn ngữ, giọng điệu, nội dung hiện thực được nói đến trong tác phẩm của ông
đều chứng minh cho những đóng góp tích cực của Ngọc Giao với vị trí của một nhà văn
sống ở vùng tạm chiếm giai đoạn 1947-1954. Với cái nhìn ít nhiều có tính chất hiện
sinh, tác phẩm của Ngọc Giao giai đoạn này đã dũng cảm tái hiện lại những góc khuất
phong cách của mỗi nhà văn. Từ sau những năm 1990, văn học trở về với đời sống
thường nhật và ngày càng ý thức hơn về đổi mới nghệ thuật. Thơ thời kì này đi sâu
khai thác bản thể con người. Văn xuôi nổi lên hai mảng đáng chú ý với nhiều ấn
tượng là hồi kí- tự truyện và tiểu thuyết lịch sử. Tiểu thuyết được viết với những cách
tân thể nghiệm sáng tạo mới.
Như vậy, tồn tại và phát triển trong điều kiện lịch sử khác trước, văn học Việt
Nam sau 1985 mang những đặc điểm phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ và bối cảnh xã
hội mới phù hợp quy luật khách quan. Nền văn học đang vận động theo hướng dân
chủ hóa. Văn học không chỉ là tiếng nói chung mà còn là tiếng nói của mỗi cá nhân.
Văn học không những là vũ khí tinh thần để đấu tranh xã hội mà còn được nhấn
mạnh ở sức khám phá thực tại, thức tỉnh ý thức về sự thực, vai trò dự báo và dự cảm.
18
Đó cũng là một phương tiện cần thiết để tự biểu hiện tư tưởng, quan niệm, chính kiến
của người nghệ sĩ về xã hội và con người. Nhà văn vừa là nhà tư tưởng, nhà hoạt
động xã hội có tác dụng định hướng tư tưởng, khơi gợi cho người đọc những vấn đề
để cùng đọc, suy ngẫm và đồng sáng tạo. Hiện thực phản ánh ngày càng mở rộng và
toàn diện. Hiện thực ấy không chỉ là hiện thực cách mạng với những biến cố của lịch
sử và cộng đồng mà còn là hiện thực đời thường với những mối quan hệ phức tạp,
cuộc đời đa sự, đa đoan, thế giới nội tâm, số phận các nhân vật với muôn mặt phong
phú và bí ẩn. Hiện thực đa dạng ấy đã mở ra chiều kích vô tận để văn học chiếm lĩnh
và khám phá. Các phong cách sáng tác nở rộ, nhà văn được bộc lộ hết mình cá tính
sáng tạo và vận dụng những yếu tố trường phái nghệ thuật hiện đại phương Tây.
Theo đó, tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân là nền tảng tư tưởng và
cảm hứng chủ đạo của văn học giai đoạn này. Con người trở thành đối tượng khám
phá chủ yếu, vừa là đích đến của văn học vừa là hệ quy chiếu, thước đo giá trị cho
mọi vấn đề xã hội. Con người được nhìn nhận trong mối quan hệ đa chiều, với nhiều
bình diện và tầng bậc với những giá trị đa diện, lưỡng phân, phức tạp. Văn học
sinh. Mặc dù chỉ còn hòa nhập và tiếp tục sáng tác trong khoảng 10 năm khi tuổi đã
cao sức đã yếu nhưng sự xuất hiện của nhà văn cùng các tác phẩm của ông vẫn cho
thấy một sự nhanh nhạy, cập nhật của một lối viết không quá xa lạ, thậm chí còn
cung cấp cho người đọc những tiếp nhận xúc động bất ngờ về những gì nhà văn
chiêm nghiệm, lưu giữ và truyền đạt trong mỗi tác phẩm.
Như vậy, trong khoảng thời gian từ đầu thế kỉ XX đến nay, văn học Việt Nam đã
không ngừng vận động và biến chuyển trên đường hội nhập với nền văn học thế giới.
Giai đoạn đầu thế kỉ XX văn học bắt đầu bước vào quỹ đạo của văn học hiện đại và tiếp
tục mở rộng, phát triển mạnh mẽ hơn trong các cuộc giao lưu văn hóa ở cuối thế kỉ.
Trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam sự xuất hiện và đóng góp của mỗi tác
giả ở mỗi chặng đường là điều kiện cần thiết và cũng là minh chứng cho sự vận động và
thay đổi của công cuộc hiện đại hóa văn học. Với Ngọc Giao, nhà văn có hành trình
sáng tác trong gần như trọn vẹn thế kỉ XX, những dấu ấn trong sáng tác của ông trong
hai chặng đầu hiện đại hóa văn học và sự trở lại trong thời gian ngắn ở giai đoạn ba cũng
đủ cho thấy đời văn của ông gắn với diễn trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác giả Ngọc Giao
Tổng hợp tình hình nghiên cứu trong nước về sự nghiệp văn chương của nhà văn
Ngọc Giao, theo tài liệu đến nay chúng tôi thu thập được, hiện chưa có một công trình
nào nghiên cứu đầy đủ, hệ thống, cụ thể và dày dặn về sự nghiệp văn chương của ông.
Thậm chí, số người biết và viết về Ngọc Giao còn ít. Phần lớn đó là những bài nhận định
mang tính chất phác thảo khái quát về cuộc đời và sự nghiệp hoặc những lời giới thiệu
ngắn gọn về nhà văn hoặc giới thiệu tác phẩm của Ngọc Giao trong các lần xuất bản.
Chúng tôi chia việc nghiên cứu tác giả Ngọc Giao ra các giai đoạn sau:
1.2.1 Giai đoạn trước 1945
Sau khi xuất hiện trên văn đàn với nhiều tác phẩm được đăng trên Tiểu thuyết
thứ Bảy và các tờ báo, tạp chí khác cùng thời như: Tao đàn, Ngọ báo, Ích Hữu,
Truyền bá, Cậu ấm cô chiêu..., độc giả đã dần quen thuộc và dành một sự ưu ái nhất
định với tác giả Ngọc Giao. Đặc biệt, sau khi ba tập truyện ngắn Một đêm vui (1936),
Phấn hương (1939) và Cô gái làng Sơn Hạ (1942) được xuất bản, Ngọc Giao đã trở
thành một trong những nhà văn hiện đại góp phần phong phú thêm cho dòng văn
Tuy nhiên trong bài viết này, Vũ Ngọc Phan cũng chỉ ra những sự chưa đồng tình về
tư tưởng hoài niệm, bi quan khi viết về những cái chết và cách diễn đạt đôi khi quá
gọt giũa làm mất tự nhiên trong truyện ngắn Ngọc Giao. Trong công trình nghiên
cứu sớm này, có lẽ cũng do diện bao quát rộng rãi đời sống văn học hiện đại mới
hình thành,Vũ Ngọc Phan mới phác qua mà chưa đánh giá hết những giá trị nghệ
thuật và giá trị tư tưởng sự nghiệp văn chương của Ngọc Giao.
Như vậy, nhìn một cách khái quát, các bài viết đánh giá, nhận xét trước 1945
đã có những ghi nhận về tính nhân văn, giàu chất trữ tình và hiện thực trong tác
phẩm của Ngọc Giao ở chặng đường đầu sáng tác.
21
1.2.2 Giai đoạn 1945 - 1985
Trong bối cảnh đất nước phải đối diện với hai cuộc kháng chiến trường kỳ
cứu nước, văn học trước 1945 - 1975 hướng đến mục tiêu cao cả là phục vụ cách
mạng. Quan niệm tư tưởng và nghệ thuật cũng như cách nhìn nhận đánh giá tác
phẩm văn học và vị trí, đóng góp của nhà văn chịu sự chi phối, ảnh hưởng của lập
trường tư tưởng cách mạng hướng đến mục đích văn học trực tiếp phục vụ cho sự
nghiệp đấu tranh cách mạng. Với thực tế sống và viết của Ngọc Giao giai đoạn này,
dù luôn hướng về lẽ phải với tình thương người sâu sắc, lòng yêu nước thầm kín
nhưng do quan điểm, lập trường của thời kì lịch sử bấy giờ, nhà văn Ngọc Giao cùng
tác phẩm của ông không dễ gì được chấp nhận và phải chịu nhiều dư luận trái chiều.
Số ít ý kiến ghi nhận những giá trị tác phẩm Ngọc Giao giai đoạn này là lời
giới thiệu tiểu thuyết Đất. Bài giới thiệu của nhà văn Tam Lang về tiểu thuyết Đất
khi tác phẩm được in năm 1950 tại nhà xuất bản Cây thông, Hà Nội có viết:“ Đất, ở
đây, trong những dòng chữ bỏng cháy này sẽ tiết ra, sẽ dựng lên cả một cuộc đời gai
lửa, nghẹn uất của những con người mong được sống, thiết tha sống, thấy lẽ sống chỉ
khi nào họ được bám vào đất, ghì chặt lấy đất. Bạn đọc đi, để được gửi lòng mình
vào lòng Đất Việt muôn thuở mạnh”[58,2]. Bài viết này chủ yếu đánh giá ngắn gọn