TÌNH CẢM VĂ N HÓA NHO GIÁO TR O N G SÁ NG TÁC
CỦA TÁC GIA VĂN HỌC HIỆN ĐẠI V IỆ T NAM NGÔ TẤT TỐ
H oàng Khả H ưng (Huang Kexinỵ) '
Ngô Tất Tố là m ột trong những tác gia văn học nổi tiếng nhất của chủ nghĩa
hiện thực phê phán trong dòng chảy văn học sử V iệt N am , với những sáng tác
trước và sau những năm 30, 40 của thế kỷ XX bao gồm tiểu thuyết Tắt đèn,
phóng sự tiểu thuyết L eu chõng, phóng sự văn học Việc làng, Tập án cái đìrJĩ,
truyện ký lịch sử như Trong rừng nho, Vua Hàm N ghi vớ i việc kinh thành thất
thủ, Lịch sử Đề Thảm ,... Tất cả những tác phẩm này được viết dưới những g k
nhìn khác nhau trong bối cảnh văn hóa lịch sử đặc thù của xã hội V iệt N a n
dương thời, còn trước những phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động thì ngòi
bút của ông lại hết lời ngợi ca, còn trước cái xấu xa của xã hội thống trị thực dìn
phong kiến thì ngòi bút ấy cũng kịch liệt đả kích, phê phán, chính điều đó iã
mang lại rất nhiều ý nghĩa hiện thực xã hội vô cùng sâu sắc. N gô T ất Tố cìng
với các cây bút khác như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, N guyên H ồrg,
Nam Cao... đã thực sự là những người tiên phong trong việc khơi thông đòig
chảy của chủ nghĩa văn học hiện thực phê phán - m ột trong những trào lưu sáig
tác chiếm vị trí không nhỏ trong lịch sử phát triển của văn học V iệt Nam . Ngô
Tất Tố được coi là nhà văn hàng đầu của trào lưu hiện thực phê phán có ảih
hưởng và hiểu biết rất sâu sắc đối với văn hóa N ho giáo V iệt N am , ông k hô ig
chi có m ột thời gian tìm hiểu, nghiên cứu m ột cách bao quát toàn bộ văn hỏa
Nho giáo trong truyền thống văn hóa cổ Trung Quốc, m à còn lấy văn hóa Nho
giáo làm cảm hứng, đề tài cho hàng loạt tác phẩm văn học, đã phát triển tất cà
các diện mạo của văn hóa Nho giáo trong lòng xã hội thực dân phong kiến V ệt
Nam, thể hiện được tinh thần thái độ chú ý quan sát nghiêm ngặt, cao độ đối 'ớ i
văn hóa Nho giáo. Bài viết xuất phát từ góc độ nhận thức tương đồng trong văn
hóa truyền thống m ang tính ưu việt của Nho giáo để tiến hành luận giải nhữ ig
giá trị độc đáo trong sáng tác văn học của Ngô Tất Tố.
* Viện Văn học, Đại học Dân tộc Quảng Tây.
phát triển hưng thịnh nhất trong lịch sử, "Nho giáo hậu Lê hưng thịnh, đã giành lấy
địa vị độc tôn, trở thành tư tưởng chính thống chi phối toàn xã hội. Cho đến đầu và
giữa triều Nguyễn, Nho học vẫn giữ vị trí hưng thịnh. Từ thế kỷ XV đến giữa thế kỳ
XIX, Tam cương Ngũ thường của Nho giáo đã trở thành kim chỉ nam, sợi chỉ đỏ
xuyên suốt trong xã hội phong kiến Việt Nam"2.
Đến nửa cuối thế kỷ XIX, sau khi Việt Nam bị chủ nghĩa đế quốc Pháp xâm
lược, sự phát triển của N ho giáo ở Việt Nam cũng phải chịu sự áp chế. Thực dân
Pháp dã tăng cường sự thống trị đối với Việt Nam, năm 1897, đế quốc Pháp đã cho
xây đưng hàng loạt trường học Pháp - Việt ở tất cả các trung tâm thành phố lớn,
phát triển hộ thổng tiếng Pháp và chữ quốc ngữ, dần thu hẹp phạm vi sử dụng tiếng
1. Trầr Trọng Kim, Nho giáo (xuất bản lần đầu tiên năm 1930), tái bản năm 2003, Nxb Văn
học, Hà Nội, tr. 648.
2. Đồ Viễn Hòa, Việc mô phỏng tư tưởng Nho giáo và sự phát triển xã hội Ả Đông, Nam Ninh,
N xbN hân dân Quảng Tây, 9/2002, tr. 269.
959
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ
Hán, bởi vậy đã dần cắt đứt mối liên hệ giữa văn hóa Việt Nam và Trung Quốc.
Năm 1898 còn quy định sử dụng Pháp ngữ và Quốc ngữ để tiến hành thi Hương.
Năm 1906, thực dân Pháp lại tiến hành cải cách giáo dục ở 3 cấp, giúp địa vị Pháp
ngữ và Quốc ngữ tiến thêm một bước. Nho giáo Việt N am trong những năm đầu thể
kỷ XX có thể ví với hình ảnh "Nhật lạc Tây sơn" (M ặt trời lặn ở rặng núi phía Tây),
bởi ảnh hường của nó đối với kinh tế, chính trị ngày càng bị hạ thấp. Tuy nhiên, xét
đến cùng thì Nho giáo cũng đã tồn tại trong lịch sử Việt N am hơn hai nghìn năm, đã
thực sự trở thành một bộ phận hữu cơ trong truyền thống văn hóa Việt Nam, nó
hoàn toàn không thể n ít lui một cách triệt để khỏi vũ đài lịch sử. Do vậy, thực dân
1 9 9 3 ^ # 5 5 # J.
TÌNH CẢM VĂN HÓA NHO GIÁO TRONG SÁNG TÁC...
hoặc tất cả các đoạn, các câu là một trong những yêu cầu quan trọng nhất trong
kinh điển Nho gia, thầy giáo đều yêu cầu học sinh của mình học thuộc lòng tất cả
những thứ đó, bởi thế các sĩ tử thông qua tất cả những gì được luyện tập thông
thường đều nhất loạt nắm tương đối sâu sắc những điều cơ bản nhất của văn hóa
Nho giáo. Năm 1912, Ngô Tất Tố bắt đầu bước chân vào con đường khoa cử, năm
1925, ông lại tham gia và đỗ đầu kỳ khảo hạch toàn tinh Bắc Ninh, nên được gọi
là "đầu xứ Tổ", rồi thi Hương lần thứ hai, khoa Ất Mão, cũng là khoa thi Hương
cuối cùng ờ Bắc Kỳ. Ông qua được kỳ đệ nhất, nhưng hỏng ở kỳ đệ nhị, đệ tam.
Ngô Tất Tố trưởng thành trong môi trường giáo dục và văn hóa Nho giáo, tất cả
những yếu tố đó đã trở thành nguồn đề tài nghiên cứu và cảm hứng sáng tạo văn
chương của ông.
2.
Mối nhân duyên đặc biệt đối với văn hóa Nho giáo, tích cực nghiền cứu
văn hóa Nho giáo, lấy Nho giáo làm đề tài sáng tạo nghệ thuật
Trên văn đàn văn học Việt Nam những năm đầu thể kỷ XX, cùng với các tác
già chịu tác động của vãn hóa Nho giáo, nổi tiếng trong khoảng đầu những năm 20
có các tác giả như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá
Học, Tàn Đà, nhưng đến cuối những năm 20 lại dần dần lùi lại phía sau hậu trường
trên văn đàn, nhường lại chỗ cho các tác gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Tây học,
và các nhà Tây học dần chiếm vị trí thống trị trên bầu trời văn học, ví dụ như đầu
những năm 30 có các cây bút như: Nhất Linh, Khái Hưng, Tam Lang, Lan Khai,
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô
Hoài, Thạch L am ,... Trong số đó hoặc từ Pháp du học quay về, hoặc đã từng theo
học và tốt nghiệp ở các trường Pháp - Việt nổi tiếng. Tất cả đều chịu ảnh hưởng của
nền văn học phương Tây, mô phỏng các sáng tác của văn học phương Tây, sử dụng
đại Lý và Trần; tiếp đến ông còn tiến hành biên tập, khảo cứu từ tác giả đến tác
phẩm của toàn bộ nền văn học từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX, dịch và xuất bản
Thi văn bình chú, thể hiện tâm huyết vô cùng sâu sắc đối với Hán học và tinh thần
nuôi dưỡng văn học. Và thể hiện sự nuôi dưỡng văn hóa của Nho gia đã bám rễ rất
sâu vào nền văn hóa Việt Nam, là việc phê phán Nho giáo của Tràn Trọng Kim và
việc dịch Kinh dịch.
Trần Trọng Kim - một học giả có tiếng của Việt Nam năm 1932 đã cho xuất
bản bộ sách nghiên cứu nổi tiếng trong lịch sử Việt N am - Nho giáo, sau khi xuất
bản, Nho giảo đã thực sự gây tiếng vang lớn và khẳng định tên tuổi của Trần Trọng
Kim trong bối cảnh văn hóa đương thời, ông tuyên bố "Dân An Nam đều phải thắp
hương mà đọc"1. Tuy nhiên, sau khi Ngô Tất Tố đọc xong, phát hiện thấy cuốn sách
còn tồn tại nhiều sai sót, năm 1940 ông đã cho đăng bài tiểu luận dài Phê phản cuốn
Nho giáo của Trần Trọng K im , tiến hành bình giá, vạch trần một cách khoa học
những vấn đề còn tồn đọng trong Nho giáo của Trần Trọng Kim. Tác giả cho rằng,
khuyết điểm lớn nhất tồn tại trong Nho giảo của Trần Trọng Kim chính là tài liệu
dẫn dùng không nghiêm ngặt, chặt chẽ, ông phân biệt các tài liệu dẫn ngôn luận của
Khổng Từ từ Khổng Tử gia ngữ, Thư kinh, Le kinh, Dịch kinh, Xuân thu, Đ ại học,
Trung dung, Mạnh Tử, Luận ngữ ,... Mặc dù Ngô Tất Tổ nhìn thấy và chi ra "Trong
bấy nhiêu sách, trừ ra mấy cuốn Luận ngữ, Mạnh Tử, Kinh Xuân Thu và Kinh Thi,
còn thì đều là những sách đáng ngờ, hoặc không thể tin"2, nhưng Trần Trong Kim
tuyệt nhiên không xem xét khảo sát đánh giá lại, dẫn đến làm tăng thêm mối nghi
ngờ cho cuốn sách, tạo thành nhiều thiếu sót, nhầm lẫn. Do vậy, Ngô Tất Tố càng
khẳng định luận chứng của mình về những tài liệu được dẫn là "đáng hoài nghi,
hoặc không đáng tin cậy", bằng những phán đoán minh chứng có sức thuyết phục
mang tính khoa học của chính mình; tiếp đó Ngô Tất Tố còn chỉ ra trong nội dung
1, 2. Ngô Tất Tố, Phê phán cuốn Nho giáo cùa Trần Trọng Kim , Hà Nội, Nxb Mai Lĩnh, 1940.
962
TlNH CẢM VẢN HÓA NHO GIÁO TRONG SÁNG TÁC...
Trong lịch sử văn học Việt Nam những năm 30, 40 của thế kỷ XX, lấy văn hóa
Nỉho giáo làm đề tài sáng tác, niĩoại trừ Ngô Tất Tố ra, còn có Bút nghiên (1942),
Níhà Nho (1943) và Thanh đạm của Nguyễn Công Hoan. N hưng những tác phẩm
N gô Tất Tổ viết xoay quanh văn hóa Nho giáo không những có số lượng nhiều
nhất, thể tài bao quát rộng, mà tư tường cũng sâu sắc hon. Những tiểu thuyết cùa
ô n g có Tắt đèn, Leu chõng, phóng sự văn học có Việc làng, Tập án cái Đình, tiểu
1. Ngô Tất Tố, Sđd.
2. Ngô Tất Tố, Ngô Tất Tố toàn tập, tập 2, Hà Nội, Nxb Văn học. Hà Nội, 1996.
963
VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỬ TƯ
thuyết lịch sử cỏ Trong rừng nho, Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thù, Lịch
sử Đề Thảm,... đều xuất phát từ các góc độ phát triển khác nhau của xã hội để phản
ảnh bầu không khí văn hóa Nho giáo đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.
Lều chõng và Trong rừng nho là hai bộ tiểu thuyết trực tiếp được văn hóa
khoa cử Nho gia gợi cảm hứng sáng tác, tác phẩm đã tái hiện chân thực chế độ giáo
dục mục nát của chế độ khoa cử dưới triều Nguyễn V iệt Nam. Leu chõng đã vận
dụng vốn sống phong phú, sâu sắc, bút pháp kí sự, Ngô Tất Tố đã miêu tả một cách
chân thực toàn bộ quá trình thi cử của chế độ khoa cử phong kiến Việt Nam. Tác
giả dùng Đào Vân Hạc tham gia vào khoa thi làm đầu mối, toàn bộ quá trình thi cử
Việt Nam từ thi Hương, thi Hội, thi Đình đều xoay quanh nhân vật chủ chốt này.
Tác phẩm không những miêu tả một cách tỉ mỉ con đường học vấn khắc khổ, gian
nan, lận đận, giống như con đường trèo núi rất vất vả phải kinh qua hết thác nọ đến
ghềnh kia, lấy sự mừng rỡ trong giờ phút thành công và tâm trạng thống khổ trong
giây phút thất bại của họ, mà ông còn miêu tả một loạt các trình tự phức tạp từ phát
đề, làm bài, bình quyển; từ đó vạch trần sự hắc ám và bảo thủ trong chế độ khoa cử,
đã thể hiện chủ đề sâu sắc của xã hội; hơn nữa, tác giả còn đặt quá trình thi cử đó
được phong diện đạo đức của xã hội Nho học; các tiểu thuyết lịch sử như Vua Hàm
Nghi với việc kinh thành thất thủ, Lịch sử Đề Thám, thì lại trực tiếp miêu tả lại
những biểu hiện về phẩm chất tinh thần Nho gia "Xả thân vì nghĩa" của các tướng sĩ
ái quốc hợp thành từ các phần tử tri thức Nho gia trong "Phong trào c ầ n Vương".
Có thể nói, trong các tác gia Việt Nam những năm 30, 40 của thế kỷ XX, chi
cỏ Ngô Tất Tổ là người dành nhiều tâm huyết nhất để nghiên cứu vãn hóa Nho gia,
và trong những tác phẩm của ông, bất luận là tiểu thuyết hiện thực, phóng sự tiểu
thuyết hay tiểu thuyết lịch sử đều mang đậm dấu ẩn của văn hóa Nho gia, đều thể
hiện tình cảm đặc biệt của chính tác giả dành cho văn hóa N ho gia.
3.
Phơi bày sự phong phú, đa dạng của hiện thực xã hội Việt Nam, thể
hiện nhận thức tích cực đối với tinh hoa văn hóa Nho gia
Ngô Tất Tổ dưới ảnh hưởng của tư tưởng hiện đại phương Tây, đã thức tỉnh
nhận thức khi so sánh với bàn chất văn hóa Nho gia, trong phóng sự văn học Lều
chõng, Việc làng, ông đã phê phán gay gắt sức lây lan, ảnh hưởng và phồn thịnh của
văn hóa Nho gia trong tác phẩm; và đồng thời đối mặt với hiện thực đen tối của xã
hội Việt Nam dưới sự thống trị của đế quốc Pháp, Ngô Tất Tố đã tận dụng những
điểm tích cực trong tư tường văn hóa Nho gia để tiến hành phê phán sự vô tình, vô
nhân đạo của hiện thực xã hội, thể hiện những nhận thức tích cực cùa tác giả đối với
những ưu điểm của văn hóa Nho giáo.
3.1.
Tổ cảo những hành vi tàn bạo, vô nhân đạo của bọn thống trị thực dãn
phong kiến, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người p h ụ nữ tao động Việt
Nam. Từ đỏ, tích cực khẳng định li tưởng "Nhân nghĩa " của Nho gia
"Nhân" là hạt nhân cùa văn hóa Nho gia, trong sáng tác của mình, Ngô Tất Tố
hoặc vô tình hoặc cố ý đã lấy chữ "nhân" để cân nhắc, đánh giá đời sống hiện thực
xã hội. Một mặt phê phán sự vô nhân tỉnh trong hiện thực xã hội của giai cấp địa
chù và bọn thống trị thực dân phong kiến thiếu đi sự chính nhân, nhân đạo, một mặt
lại phát triển một cách có ý thức những phẩm chất cao quý của người phụ nữ lao
vật chính - chị Dậu hiện lên trước mắt người đọc là người phụ nữ đại diện cho
những người phụ nữ thủy chung, giữ nguyên những truyền thống văn hóa tốt đẹp
của Nho giáo. Chị Dậu là một người phụ nữ hiền dịu, lương thiện, cần cù, dũng
cảm, nghĩa tình, luôn đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, gánh vác trách nhiệm
việc nhà cho người chồng luôn đau ốm. Trong tiểu thuyết chủng ta thấy, do trong
nhà liên tiếp có hai người thân mất đi, lại thêm người chồng luôn bệnh tật đau ốm ,
nên chị Dậu trở thành một trong những hộ nghèo nhất. Trong hoàn cảnh khó khăn,
vất vả đó, chị Dậu vẫn thể hiện phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ nông thôn V iệt
Nam, đó là trước khó khăn chị không thể buông xuôi, mà dũng cảm đứng lên gánh
vác tất cả trách nhiệm trong nhà, chị làm việc quần quật cả ngày, chăm sóc ngưcri
chồng đau ốm và ba con nhỏ dại, nhưng chị không một lời oán thán; để có tiền nộ'p
sưu cho chồng, chị chạy đôn chạy đáo vay tiền cho chồng, nhẫn nhục chịu dựng; khi
chồng bị đánh, chị đã dũng cảm đứng dậy, xin được thay chồng chịu tội; khi khôn g
thể nhẫn nại thêm được nữa, chị đã vùng dậy phản kháng chổng trả lại hai tên sai
nha, thể hiện sự kiên cường, quả cảm kỳ lạ... nhưng sau cùng, chị lại giải thích biện
minh hành động của mình với bà cụ hàng xóm: "Cháu cũng biết rằng đàn bà hàn h
1. Nguyễn Tuân (1962), Lời nói đầu trong tiểu thuyết"Tắt đèn", Nxb Văn học, Hà Nội.
9 66
t In h c ả m v ả n h ó a n h o g i á o t r o n g s á n g t á c
...
hung như thế là hư thân lắm, chứ không hay gì. Nhuvg mà chúng nó đè én chúng
cháu tệ quả, cháu đã cổ nhịn mà không nhịn được. Cụ tính nhà cháu đau ốm như
thế, mà cà hai đứa cứ xông vào đánh thì phỏng còn gì là người! Vì thế cháu phải
liều với chủng nó". Trong câu nói của chị Dậu thể hiện phẩm chất lương thiện luôn
tồn tại trong chị; nhung sau cùng đó chính là phẩm chất Nho giáo luôn tiềm ẩn
trong con người chị, trước những cám giỗ của đồng tiền m à tên Tri phủ đại nhân và
1. Hà Minh Đức (1999), Văn học Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội.
967
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ
những tay sai m ẫn cán, công cụ đàn áp nhân dân của chủ nghĩa đế quốc Pháp, ra
sức bóc lột, đàn áp nhân dân, khiến cuộc sống của người dân vốn đã rất khó khăn
lại càng bị đẩy sâu xuống đáy bùn xã hội với nỗi thống khổ "m ột cổ hai tròng";
một tuyến khác là những người phụ nữ luôn bảo lưu những giá trị tốt đẹp của
văn hóa Nho gia, luôn hiền hậu đức hạnh, chịu thương chịu khó, sáng trong như
ngọc. Đặt hai tuyến nhân vật cạnh nhau như vậy, tác giả đã khẳng định những
phẩm chất tốt đẹp của truyền thống Nho giáo luôn tồn tại và được những người
phụ nữ Việt Nam gìn giữ cận thận, đồng thời phê phán gay gắt những hành vi
độc ác của quan lại thực dân phong kiến, thể hiện m ột cách khúc khuỷu sự khẳng
định của đạo đức truyền thống Nho gia và ước vọng về m ột xã hội N ho giáo giàu
lòng "nhân ái".
3.2.
K h í tiết dân tộc và tinh thần cổng hiến hết mình của nhăn vật anh hùng
cho lịch sử Việt Nam, th ể hiện những nhận thức tích cực trong nhăn cách lý
tưởng Nho gia
Việt Nam trong lịch sử là một quốc gia nhược tiểu, để chống lại sự xâm lược
của bên ngoài, giữ vững nền độc lập của dân tộc, ý thức trước nguy cơ dân tộc của
nhân dân Việt Nam vô cùng mãnh liệt, tư tưởng N ho gia "Xả thân vì nghĩa", "hi
sinh vì nghĩa" luôn được đề cao, là nhận thức phổ biến của xã hội V iệt Nam khi
đó. Trong thế kỷ XX, nhân dân Việt Nam đã phản kháng mãnh liệt trước sự xâm
lược của đế quốc thực dân Pháp. Bắt đầu từ năm 1885, "khởi nghĩa c ầ n Vương"
bùng phát, tiếp sau đó là hàng loạt những cuộc đấu tranh yêu nước kháng Pháp
không ngừng nổ ra. Năm 1905, "Hội duy tân" được thành lập bởi các chí sĩ yêu
nước, sau đó mở rộng ra thành "Phong trào Đông Du" và phong trào "Đông Kinh
trong vòng mười mấy năm ở khu vực từ Bắc Ninh, Phúc yên, Thái Nguyên đến
Tuyên Quang. Tác giả đứng từ góc độ truyền thống văn hóa Nho giáo để ngợi ca
người anh hùng là những tráng sĩ nơi rừng xanh có khí phách ngang tàng, có chí vẫy
vùng trời biển, là vị lãnh tụ nông dân đứng lên chống lại bọn thống trị thực dân
Pháp và những "kẻ cướp, phần tử phiến loạn", thể hiện sự cảm kích của tác giả đổi
với những vị anh hùng này; cuốn tiểu thuyết lịch sử Gia đình tổng trấn Lê Văn
Duyệt cũng đã miêu tả những tình tiết đau thương của nghĩa quân Tây Sơn trước sự
xâm lược của kẻ địch, ngợi ca tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường của quân
Tây Sơn, lên án tội "rước giặc về cướp nước" của vương triều nhà Nguyễn. Học giả
Mai Hương của Việt Nam cho rằng: "Gia đình tổng trấn Lê Văn Duyệt cùng với
những tiểu thuyết lịch sử khác của ông đã thể hiện khá rõ tinh thần yêu nước của
nhà Nho tiến bọ Ngô Tất T ổ"1.
3.3.
Khắc họa hình tượng nhăn vật trong xã hội N ho giảo Việt N am qua tác
phẩm "Trong rừng Nho", từ hai phương diện chính - phản, tác giả th ể hiện sự
chú ỷ tích cực nuôi dưỡng nhân cách của Nho gia
Trong rừng Nho là một bộ tiểu thuyết lịch sử lấy đề tài từ bà chúa thơ Nôm
nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ XVIII - nữ sĩ Hồ Xuân Hương, tác giả đã miêu
tả xoay quanh cuộc đời đầy truyền kì, huyền thoại của Hồ Xuân Hương, khắc họa
lên các sắc cạnh của nhân vật trong xã hội rừng nho, đả kích những phần tử trí thức
Nho gia ác độc, giả nhân giả nghĩa, "thùng rỗng kêu to", phê phán bản chất văn hóa
lạc hậu của Nho gia, đồng thời lại ngợi ca phẩm chất cao thượng, chính trực của các
trí thức Nho gia, thể hiện thái độ tích cực của tác giả đối với sự nuôi dưỡng nhân
cách của Nho gia.
Văn hóa Nho gia có vai trò rất quan trọng ừong việc nuôi dưỡng nhân cách của
các trí thức, ước muốn con người có thể thông qua việc tu dưỡng nhân cách của
chính mình để thực hiện lí tưởng lớn của xã hội, đó là "tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ", trở thành một trong những nhân vật "thánh hiền" của triều đình, đất nước. Qua
Trong rùng Nho, tác giả đã từ hai mặt chính - phản để phát triển các phương diện