LUẬN VĂN LUẬT HỌC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI - Pdf 54

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ SA

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ SA

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số
:
838.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng
Ngãi ...........................................................................................................................35
2.3. Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế ............................................................44
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH
QUẢNG NGÃI ........................................................................................................52
3.1. Quan điểm tăng cường công tác thực hành quyền công tố của VKSND
huyện Mộ Đức trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ..................................52
3.2. Các giải pháp tăng cường công tác hành quyền công tố của VKSND huyện
Mộ Đức trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thời gian tới ........................57
KẾT LUẬN ..............................................................................................................75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật Hình sự

CB, CC

Cán bộ, công chức

CQĐT

Cơ quan điều tra

ĐTV


VKSNDTC

Viện kiểm sát nhân dân tối cao


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Thống kê số vụ án/bị cáo bị truy tố được đưa ra xét xử giai đoạn 20112017 và 6/2018 ..........................................................................................................39
Bảng 2.2. Thống kê số vụ án/bị cáo bị truy tố được đưa ra xét xử giai đoạn 20112017 ...........................................................................................................................41
Bảng 2.3. Thống kê số vụ án/bị can Tòa trả hồ sơ điều tra bổ sung .........................43


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hành quyền công tố của VKSND là một dạng thực hành quyền lực nhà
nước trong lĩnh vực tư pháp. Không có cá nhân, cơ quan nhà nước nào có thể thay
thế VKSND trong việc truy tố kẻ phạm tội ra trước Toà. Thực hành quyền công tố
của VKSND nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát
hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm
tội, không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con
người, quyền công dân trái luật. Với vị trí, vai trò quan trọng đó, Đảng ta đã dành
sự quan tâm lớn đến công tác thực hành quyền công tố của VKSND như: Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 01/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng
tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ: "Nâng cao chất lượng công
tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người
bào chữa và những người tham gia tố tụng khác…". Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm tốt chức năng công
tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị
về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định: “Trước mắt, viện kiểm

của công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức và công dân, với trách nhiệm là một công
chức trong ngành, công tác ở một địa bàn cụ thể, học viên đã chọn đề tài: “Thực
hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện
Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật hình sự là cần
thiết về lý luận cũng như thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua tìm hiểu về vấn đề này, tác giả nhận thấy, có khá nhiều công trình khoa
học đề cập đến vấn đề này, bước đầu tập hợp được một số công trình tiêu biểu sau:
- Luận án tiến sĩ Luật học, “Quyền công tố ở Việt Nam” của Lê Thị Tuyết Hoa,
(2005) [16]. Đã đề cập đến những vấn đề lý luận về vấn đề quyền công tố ở một số
nước trên thế giới và trong TTHS ở Việt Nam và thực trạng tổ chức thực hành
2


quyền công tố trong TTHS ở Việt Nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật về hoạt động công tố ở trước Tòa án.
- Luận văn thạc sỹ Luật hình sự, “Nâng cao chất lượng thực hành quyền
công tố của Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta”
của Lương Thúy Hà (2012) [13]. Đã đề cập đến một số vấn đề lý luận về thực hành
quyền công tố của VKSND, pháp luật về thực hành quyền công tố của VKSND cấp
huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng thực hành quyền công tố của VKSND cấp huyện.
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Chức năng thực hành quyền công tố của Viện
kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông)” của Lê
Thanh Hưng (2015) [17]. Đã đề cập một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố
trong TTHS. Đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố ở địa bản tỉnh Đăk Nông
và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố.
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”, của

biên, Nxb Tư Pháp 2013; Sách,“Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2015”, Nxb Chính trị quốc gia của Lê Hữu Thể; Bài viết: Một số vấn đề lý
luận cơ bản về quyền công tố của tác giả Lê Cảm trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số
6/2000; Một số vấn đề về quyền công tố của tác giả Trần Văn Độ trên Tạp chí Luật
học, Số 3/2001; Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta
hiện nay của tác giả Đỗ Văn Đương, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 79/2006);
Viện kiểm sát hay Viện công tố của tác giả Nguyễn Thái Phúc, Tạp chí Khoa học
Pháp luật, số 2/2007.
Các công trình nghiên cứu trên với những cách tiếp cận khác nhau, đã làm rõ
một số vấn đề liên quan trực tiếp và gián tiếp đến các vấn đề lý luận, thực tiễn cũng
như định hướng, giải pháp giải quyết vấn đề liên quan đến đề tài. Một số công trình
nghiên cứu đã tập trung vào nội dung thực hành quyền công tố của VKSND trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại một số địa phương cụ thể, và đề xuất các
giải pháp gắn liền với điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương đó. Các kết quả nêu
trên sẽ được tác giả tiếp tục kế thừa có chọn lọc, vận dụng hợp lý vào các nội dung
cụ thể của luận văn. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy, thực hành quyền công tố của
4


VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cần tiếp tục được làm rõ thêm
một số vấn đề, đặc biệt là trong quá trình thực thi Bộ luật Hình sự 2015 và Bộ luật
Tố tụng hình sự 2015, cũng như yêu cầu thực hiện chiến lược cải cách tư pháp hiện
nay. Do vậy, việc nghiên cứu về công tác thực hành quyền công tố trong hoạt động
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi là rất cần thiết, trên
cơ sở đó sẽ đưa ra các giải pháp để tiếp tục tăng cường hoạt động này nhằm đáp ứng
được yêu cầu của địa phương và tiến trình cải cách tư pháp hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất giải pháp tăng cường công tác thực hành quyền công tố trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi

Luận văn kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu và sử dụng ở mức độ
khác nhau trong những nội dung khác nhau như: Phương pháp phân tích - tổng
hợp; Phương pháp luật học so sánh; Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển
hình, khảo sát thực tiễn; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp lịch sử.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố
của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Nhận thức được những kết quả đạt được, hạn chế yếu kém trong thực hành
quyền công tố của VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quyền công tố
của VKSND cấp huyện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan có thẩm
quyền trong việc xây dựng, hoạch định chính sách khi xem xét sửa đổi, bổ sung các
quy định liên quan đến công tác thực hành quyền công tố của VKSND, là nguồn tư
liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và các
địa phương khác, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành kiểm
sát trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ liên quan đến vấn đề này.

6


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố của trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

đình chỉ) vụ án.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, hiện nay khái niệm xét xử sơ thẩm có nhiều
cách tiếp cận khác nhau. Từ điển Luật học giải thích: “xét xử sơ thẩm là lần đầu
tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền” [30, tr.870]. Theo đó,
phạm vi rộng xét xử sơ thẩm bao gồm các vụ án dân sự, hình sự, hành chính...
8


điểm quan trọng nhất ở đây là đã thể hiện được đặc trưng của xét xử sơ thẩm là
“lần đầu tiên” đưa vụ án ra xét xử và do “một Tòa án có thẩm quyền” thực hiện,
tuy nhiên, hạn chế là chưa phân định sự khác biệt và đặc trưng riêng của việc xét
xử sơ thẩm các vụ án, trong đó có việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự - một
trong những hoạt động được coi là trung tâm của hoạt động tố tụng hình sự, bởi lẽ
nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất trong tố tụng hình sự là “không ai bị coi là có
tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật”, do đó, có thể nói hoạt động truy tố của VKS hướng tới việc tạo căn cứ
cho hoạt động xét xử, bản án và các quyết định của Tòa án là căn cứ pháp lý để tiến
hành hoạt động thi hành án, biến việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội của các
cơ quan tiến hành tố tụng phát huy tác dụng trên thực tế [23, tr.58].
Như vậy, có thể khái quát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo
của quá trình tố tụng hình sự mà Tòa án được giao thẩm quyền, sau khi nghiên cứu
hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai tại phiên tòa, nhằm
xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội hay
không để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà VKS
đã truy tố. Từ phân tích trên, có thể nhận thấy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có
những đặc trưng cơ bản như sau: i) là một giai đoạn tố tụng hình sự có tính chất bắt
buộc; ii) là xét xử lần đầu vụ án, do đó vụ án được đưa ra giải quyết công khai
với sự có mặt đầy đủ các người tham gia tố tụng; iii) có kết quả là một bản án,
quyết định công minh, có căn cứ và đúng pháp luật; iv) góp phần vào việc xử lý
triệt để và dứt điểm vụ án hình sự, qua đó, giảm thiểu tối đa tình trạng giải quyết

nhất định trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn luật định để phục vụ việc thực hiện
chức năng chung của bộ máy nhà nước. Hiến pháp năm 2013, Điều 109 quy định:
“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư
pháp”. Trên cơ sở đó, tại Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã làm rõ đặc
trưng chức năng của VKSND thể hiện trên hai phương diện: i) “Thực hành quyền
công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện
việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [19]. Có thể khẳng định, VKS thực hành
10


quyền công tố ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, trong đó có chức năng
thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; ii) “Kiểm
sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp
pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư
pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc
giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt
động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật” [19]. Đây
là một chức năng mang tính đặc thù của hệ thống cơ quan VKS ở Việt Nam, trong
đó có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp đối với việc giải quyết vụ án hình sự
trong giai đoạn sơ thẩm.
Như vậy, trên phương diện pháp luật thực định, chức năng thực hành quyền
công tố (về bản chất là chức năng buộc tội của Nhà nước) được giao cho VKS các
cấp thực hiện trong tố tụng hình sự, từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và thực
hành công tố tại các phiên toà xét xử vụ án hình sự, trong giai đoạn này VKSND,
KSV thay mặt nhà nước thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát

đời gắn liền với nền dân chủ tư sản và hình thành từ cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ thứ
XIV, khi Nhà nước phong kiến tan rã, với học thuyết tam quyền phân lập trong tổ
chức và thực hiện quyền lực Nhà nước đã dẫn đến tách hệ thống Tòa án ra khỏi hệ
thống cơ quan hành pháp và hình thành nhánh quyền lực thứ ba là quyền xét xử.
Cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật, quyền công tố mới xuất hiện với tính
chất là buộc tội trước Tòa án khi Tòa án xét xử các tội phạm hình sự. Như vậy,
quyền công tố là một quyền độc lập tồn tại song song với quyền xét xử của Tòa án;
ii) quyền công tố ra đời gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, do đó
quyền công tố tồn tại trong tất cả các Nhà nước từ Nhà nước chiếm hữu nô lệ đến
Nhà nước ngày nay. Quyền công tố ban đầu chỉ mang tính xã hội và dần phát triển
và đòi hỏi phải có một cơ quan nhà nước thực hiện đó là Cơ quan công tố hoặc
VKS, tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất về vấn đề này. Ở Việt Nam, tác giả
đồng tình rằng thuật ngữ "công tố", "quyền công tố" đã xuất hiện từ thời Pháp thuộc
12


và tiếp tục được sử dụng trong khá nhiều văn bản pháp luật, chủ yếu là các sắc lệnh
vào giai đoạn đầu của chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa với tên gọi là Viện
Công tố. Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Đề án của Hội đồng Chính
phủ về việc thành lập hệ thống Viện Công tố và đến năm 1960 mới chuyển thành
VKSND [7, tr.581]. Trong tiến trình thực hiện cải cách bộ máy nhà nước, cải cách
hoạt động tư pháp, khi đề cập đến chức năng của VKSND thì khái niệm "công tố",
"quyền công tố" lại được các nhà nước nghiên cứu đề cập nhiều hơn.
Khát quát các công trình nghiên cứu về vấn đề này, tác giả đồng tình với một
số quan điểm là sự khác nhau chủ yếu tập trung vào các nhóm các cơ bản sau:
Thứ nhất: công tố không phải là chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là hình
thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chỉ có trong giai đoạn
xét xử các vụ án hình sự, tức là khi kiểm sát việc xét xử các vụ án hình sự thì KSV
thực hành quyền công tố để buộc tội bị cáo tại phiên tòa [31, tr85-86], quan điểm
này phổ biến từ những năm trước đây và cũng là quan điểm cơ bản của một số nhà

tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND hiện nay ở nước ta. Xét trong điều
kiện cụ thể đó, quan điểm thứ tư về quyền công tố còn cho phép chúng ta xác định
đúng đắn các vấn đề sau đây: i) quyền công tố là quyền của Nhà nước được giao
cho VKS; ii) quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự, không tồn tại
trong lĩnh vực tố tụng dân sự và tố tụng hành chính; iii) nội dung của quyền công tố
là truy cứu TNHS và buộc tội đối với người phạm tội; iv) quyền công tố gắn liền
với một tội phạm cụ thể; v) phạm vi của quyền công tố được bắt đầu từ khi có hành
vi phạm tội xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên trên thực
tế hoạt động thực hiện quyền công tố bắt đầu kể từ khi tiếp nhận xử lý tố giác, tin
báo về tội phạm và kết thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định có hiệu lực thi hành.
Từ sự phân tích nêu trên, tác giả đồng tình với một số nhà khoa học, có thể hiểu:
Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm truy tố, người phạm tội ra trước Tòa án
để xét xử và thực hiện sự buộc tội người đó trước phiên tòa nhằm bảo đảm quyền
con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện theo quy
định củba Hiến pháp và pháp luật.
Trên cơ sở phân tích quyền công tố ở nước ta hiện nay, có thể khẳng định
14


chủ thể thực hiện quyền công tố chỉ có thể là VKSND, ngoài cơ quan này không có
một chủ thể nào có thể thực hiện chức năng đó. Trên phương diện luật thực định,
vấn đề này đã được Bộ luật TTHS 2015 quy định rõ: “Viện kiểm sát thực hành
quyền công tố…trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm
pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm
tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh...”
[6]. Như vậy, hoạt động thực hành quyền công tố của VKS nhằm truy cứu TNHS,
quyết định việc buộc tội, quyết định việc hạn chế các quyền công dân như bắt, tạm
giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác. Thực hành quyền công tố được
thực hiện bằng hành vi tố tụng và quyết định tố tụng mang tính công khai theo đúng

án hình sự
Thực chất giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng
hình sự tiếp theo giai đoạn truy tố, đây là giai đoạn bao gồm hai phần cơ bản chuẩn
bị xét xử và xét xử tại phiên tòa. Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm
sát xét xử vụ án hình sự khẳng định, tùy theo tính chất và nội dung vụ án mà VKS
phối hợp với Tòa án để chuẩn bị các nội dung sau: phương án giải quyết; thời gian,
địa điểm xét xử; những người cần triệu tập đến phiên tòa; thông tin về sức khoẻ,
tâm lý của bị can, bị cáo; việc tuyên truyền và những vấn đề khác có liên quan đến
việc xét xử vụ án. Đối với vụ án phức tạp, thì có thể mời lãnh đạo các cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng và một số cơ quan hữu quan khác tham dự” [32, tr.5].
Từ việc phân tích giai đoạn xét xử sơ thẩm, quyền công tố, thực hành quyền
công tố và việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, tác giả
đồng tình với quan điểm của một số tác giải trình bày tại công trình [26, tr.10] và
[22, tr.9] như sau: thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự là hoạt động của VKSND trong TTHS để thực hiện việc buộc tội của Nhà
nước đối với người phạm tội nhằm đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và
bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa. Từ cách tiếp cận trên, khi đề cập đến khái niệm
thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cần chú ý
một số điểm cơ bản sau: i) Về đặc điểm: được thực hiện bởi cơ quan duy nhất là
VKS trong tố tụng hình sự; là việc truy tố bị can ra trước Tòa án, trên cơ sở kết quả
điều tra, thu thập chứng cứ và chứng minh được người phạm tội ở các giai đoạn
16


trước đó; là việc buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa bằng các phương
thức được pháp luật quy định, đây là đặc điểm quan trọng nhất vì nó thể hiện đầy đủ
nhất quyền năng của VKS tại phiên tòa được thực hiện thông qua người đại diện
của VKS là Kiểm sát viên. ii) Về đối tượng: là hành vi phạm tội và người phạm tội.
iii) Về phạm vi: là thời điểm bắt đầu của giai đoạn xét xử sơ thẩm, tức là từ khi
VKS chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án và kết thúc bằng bản án hoặc quyết định có

quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, VKS trên
phải thông báo cho VKS cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ
thẩm vụ án để cử KSV tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định
truy tố, VKS cấp trên ra quyết định phân công cho VKS cấp dưới thực hành quyền
công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng,
VKS cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng
quy định của Bộ luật TTHS.
1.2. Nội dung, quy trình thực hành quyền công tố của VKS trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo quy định pháp luật ở nước ta hiện nay, nội dung và quy trình thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tập trung vào các nội
dung.
1.2.1. Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn,
quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa
Cáo trạng là văn bản pháp lý do VKS lập để truy tố người phạm tội ra trước
Tòa án, đây là hoạt động đầu tiên của việc thực hành quyền công tố tại phiên tòa
nhằm công khai hành vi phạm tội của bị cáo và cũng là cơ sở để Tòa án tiến hành
hoạt động xét hỏi. Thông thường, KSV công bố Cáo trạng đã được chuyển cùng hồ
sơ vụ án, tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, khi có sự thay đổi nhận thức,
đánh giá chứng cứ hoặc trên những phát sinh mới trong quá trình chuẩn bị xét xử,
nếu cần thiết thì KSV trình bày ý kiến bổ sung nhưng ý kiến bổ sung không được
làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Tại phiên toà, nếu có căn cứ rút một phần hay toàn
bộ quyết định truy tố, có tình tiết mới theo hướng có lợi cho bị cáo và làm thay đổi
quyết định truy tố hoặc đường lối xử lý đã được lãnh đạo cho ý kiến, thì KSV quyết
định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình, sau phiên toà KSV phải báo
18


cáo ngay với lãnh đạo đơn vị. Trường hợp tình tiết mới đưa ra tại phiên toà có đủ
căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì KSV đề nghị HĐXX hoãn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status