Nghiên cứu đặc điểm khu hệ Ếch nhái tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất biện pháp bảo tồn - Pdf 54

1

1

LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan bản luận văn này do chính tác giả thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Vũ Tiến Thịnh
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa
hề được công bố và sử dụng để bảo vệ một học hàm nào.
Các thông tin trích dẫn trong luận văn này được ghi rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Khôi


2

2

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của các
cá nhân, các cơ quan ban ngành. Nhân dịp này tôi xin tran thành bày tỏ lòng
cảm ơn đến:
-

PGS.TS. Vũ Tiến Thịnh, Phó trưởng phòng khoa sau đại học trường đại học
Lâm Nghiệp, giảng viên bộ môn động vật rừng trường đại học Lâm Nghiệp,



MỤC LỤC


4

4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BQL

Ban Quản lý

BVTV
CITES

Bảo vệ thực vật
Công ước Cites

ĐDSH

Đa dạng sinh học

ĐS
ĐSKT

Đồng Sơn
Đồng Sơn Kỳ Thượng


Sách đỏ Việt Nam

TL

Tài liệu

UBND

Ủy ban nhân dân


5

5

DANH MỤC CÁC BẢNG


6

6

DANH MỤC CÁC HÌNH


7

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên động vật rừng Việt Nam không những phong phú và đa
dạng mà còn có tính đặc hữu cao. Động vật trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới

phân tích các mẫu động vật, đoàn công tác đã đánh giá đây là khu vực đa
dạng về bò sát, Ếch nhái.Tuy nhiên, quá trình điều tra này chỉ diễn ra trong
một thời gian ngắn do vậy, việc nghiên cứu khu hệ Ếch nhái tại khu vực là
một trong những yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn cao về mặt khoa học
và bảo tồn. Chính vì vậy, tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên
cứu đặc điểm khu hệ Ếch nhái tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Đồng Sơn –
Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất biện pháp bảo tồn”
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để góp phần đề xuất những giải
pháp quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Đồng
Sơn - Kỳ Thượng một cách hiệu quả.


9

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái quát tình hình nghiên cứu Ếch nhái
1.1.1. Khái quát tình hình nghiên cứu Ếch nhái ở Việt Nam
Trước đây các công trình nghiên cứu thường gắn liền các loài bò sát,
Ếch nhái, ít công trình nghiên cứu Ếch nhái độc lập.
Theo Nguyễn Văn Sáng và cs. (2009), có thể chia lịch sử nghiên cứu
lưỡng cư bò sát thành 4 thời kỳ chính: thời kỳ trước năm 1954, thời kỳ từ
năm 1954 đến năm 1975, thời kỳ 1976 đến năm 1986 và thời kỳ từ năm 1987
đến nay.
1.1.1.1. Thời kỳ trước năm 1954
Tuệ Tĩnh (1623-1713) - nhà y học dân tộc, người đầu tiên đã ghi nhận
16 vị thuốc có nguồn gốc từ Ếch nhái và bò sát (Tuệ Tĩnh, 1972) [25]
Sau ông những nghiên cứu Ếch nhái, bò sát do người nước ngoài thực
hiện. Các kết quả nghiên cứu được xuất bản trên nhiều ấn phẩm khác nhau cả
trong nước và ngoài nước cho một khu vực hay chung cho cả vùng Đông

Bắc Việt Nam có 159 loài bò sát, 69 loài Ếch nhái (Trần Kiên và cs., 1981)
[28].
Địa điểm nghiên cứu cũng được mở rộng ra nhiều khu vực: Ba Bể, Chợ
Rã (Bắc Kạn), Hữu Lũng (Lạng Sơn), Cúc Phương (Ninh Bình), Thái
Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hòa Bình, Vĩnh Phú. Kết quả nghiên cứu
được công bố trên nhiều tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước. Hướng
nghiên cứu cũng mở rộng ra như nghiên cứu về sinh thái học Cá cóc, Thạch
sùng đuôi sần, Ếch đồng của ĐàoVăn Tiến, Lê Vũ Khôi (1965)[4].


11

1.1.1.3. Thời kỳ 1975 - 1986
Sau khi đất nước thống nhất, cùng với sự phát triển kinh tế, nhiều
trường đại học, viện nghiên cứu mới được thành lập, công tác nghiên cứu cơ
bản trong đó có lưỡng cư cũng bắt đầu được chú ý. Mở đầu thời kỳ này là
chương trình khảo sát do Viện Sinh vật học thuộc Viện Khoa học Việt Nam tổ
chức từ ngày 5/3 đến ngày 12/5 năm 1977 ở miền Tây Nam bộ: Hà Tiên, Phú
Quốc, Côn Đảo, Mũi Gót, rừng U Minh, Rạch Giá, Tây Ninh. Sau đó hàng
loạt khảo sát của Viện Sinh vật học, Khoa Sinh vật của Trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Huế, Viện
Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Nghiên cứu biển Nha Trang ở nhiều địa
phương khác nhau như: Xuân Sơn (Phú Thọ), Mường Nhà và Mường Lói
(Điện Biên), vùng Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm
Đồng).
Trong giai đoạn này có 1 loài Ếch nhái và 5 loài thằn lằn mới được phát
hiện ở Việt Nam trong đó có 3 loài do Darevsky và Nguyễn Văn Sáng mô tả
(Nguyen et al., 2009)[22].
1.1.1.4. Thời kỳ từ năm 1987 đến nay
Sau thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu

Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Lê Nguyên Ngật và nhiều tác giả khác đã
nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo và thị trấn Tam Đảo, đến nay đã phát
hiện có 57 loài lưỡng cư, 124 loài bò sát []. Năm 1996, Lê Nguyên Ngật,
Nguyễn Văn Sáng ghi nhận 17 loài lưỡng cư, 42 loài bò sát ở rừng Cúc
Phương và ở Ngọc Linh (Kontum, 1997)[9]; Năm 1998, Ngô Đắc Chứng
nghiên cứu ở Nam Bình Trị Thiên có 28 loài lưỡng cư, 147 loài bò sát (Ngô
Đắc Chứng, 1998)[15]; Năm 1997, Hoàng Xuân Quang và cs. nghiên cứu ở
Tây Nam Nghệ An thống kê được 18 loài lưỡng cư, 38 loài bò sát[10]; điều


13

tra sự đa dạng và hiện trạng Ếch nhái, bò sát ở vùng núi Yên Tử trong thời
gian 2004 đến năm 2008 (Trần Thanh Tùng, 2008);….
Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc xuất bản cuốn Danh lục
Ếch nhái, bò sát Việt Nam với 82 loài Ếch nhái, 258 loài bò sát[20].
Orlov et al. (2002) tổng hợp và công bố danh sách các loài Ếch nhái, bò
sát của Việt Nam (phần I) ghi nhận 147 loài lưỡng cư. Năm 2005, Nguyễn
Văn Sáng và cs. công bố cuốn Danh lục Ếch nhái và bò sát Việt Nam đã ghi
nhận 116 loài bò sát thuộc 23 họ, 3 bộ và 135 loài lưỡng cư thuộc 9 họ, 3 bộ.
Năm 2009, Nguyen et al. đã thống kê được 186 loài Ếch nhái thuộc 10 họ, 3
bộ và 375 loài bò sát thuộc 24 họ ở Việt Nam[21,22].
Trong Hội thảo Quốc gia về Lưỡng cư và Bò sát ở Việt Nam lần thứ
nhất diễn ra năm 2009 tại Trường Đại học Sư phạm Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, các báo cáo khoa học về đánh giá khu hệ Ếch nhái như: Điều tra tại
KBTTN Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai năm 2008 - 2009 (Hồ Thu Cúc và cs.
2009) có 31 loài lưỡng cư thuộc 5 họ, 1 bộ và 61 loài bò sát thuộc 13 họ, 2
bộ; Đánh giá sự đa dạng Ếch nhái ở KBTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa năm
2008 (Lê Nguyên Ngật và cs. 2009) có 38 loài lưỡng cư thuộc 6 họ, 1 bộ và
53 loài bò sát thuộc 14 họ, 2 bộ; Thống kê thành phần loài Ếch nhái của
huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp từ năm 2008 đến 2009 (Hoàng Thị Nghiệp

Trong báo cáo Hội thảo quốc gia về lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam lần
thứ II tổ chức tại Đại học Vinh (Nghệ An, 2012), có một số báo cáo về đa
dạng khu hệ Ếch nhái, bò sát : Nghiên cứu thành phần loài bò sát và Ếch nhái
ở Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa (Phạm Thế Cường và cs, 2012)[28]
với 70 loài được ghi nhận trong đó có 38 loài bò sát và 32 loài Ếch nhái;
Nghiên cứu sự đa dạng thành phần loài Ếch nhái, bò sát ở khu dự trữ sinh


15

quyển Tây Nghệ An (Hoàng Ngọc Thảo và nnk, 2012)[11] ghi nhận 144 loài
Ếch nhái, bò sát thuộc 24 họ, 5 bộ;….
Bên cạnh đó có rất nhiều loài mới được mô tả và nhiều loài mới được
ghi nhận từ năm 2010 trở lại đây như loài Leptolalax bidopensis (Rowley et
al., 2011); Theloderma palliatum và T.nebulsum (Rowley et al.,2011);
Gracixalus quangi (Rowley et al.,2011); Leptobrachium leucops (Stuart et al.,
2011); Ichthyophis nguyenorum (Nishikawa, 2012); Leptolalax firthi (Rowley
et al.,2012)...
Bên cạnh các nghiên cứu về phân loại học, nhiều công trình nghiên cứu
đã được công bố về quan hệ di truyền tiến hóa cũng hỗ trợ cho việc sắp xếp
và hệ thống lại các loài ếch nhái, bò sát ở Việt Nam. Hàng loạt các loài thuộc
một số giống như Philautus được chuyển sang giống Gracixalus và
Theloderma (Rowley et al., 2011; Orlov et al., 2012).
Về các loài quý hiếm: Năm 1992, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường xuất bản Sách Đỏ Việt Nam (Phần Động vật) trong đó liệt kê 43 loài
bò sát và 11 loài lưỡng cư bị đe dọa. Năm 2000, Sách Đỏ Việt Nam được tái
bản có chỉnh sửa và bổ sung đã thống kê 43 loài bò sát và 11 loài lưỡng cư.
Mới đây nhất, Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 đã ghi nhận 40 loài bò sát và 13
loài Ếch nhái bị đe dọa ở Việt Nam[1].
Cho đến nay đã có 9 chuyên khảo về Ếch nhái và bò sát việt Nam được


17

Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu
2.1.1. Mục tiêu chung
Góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại
KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng tỉnh Quảng Ninh.
2.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tính đa dạng loài và giá trị của các loài Ếch nhái tại KBTN
Đồng Sơn - Kỳ Thượng.
- Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn cho khu vực nghiên cứu.
2.2. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loài Ếch nhái tại KBTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại KBTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng, tỉnh Quảng
Ninh.
2.2.3. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu của đề tài từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2016, trong
đó:
- Thời gian thu thập tài liệu và khảo sát thực địa: tháng 4 năm 2016
- Thời gian điều tra thực địa: tháng 6 - tháng 7 năm 2016
- Xử lý số liệu và hoàn thiện luận văn: tháng 8 - tháng 9 năm 2016
2.3. Nội dung nghiên cứu


18


thu thập thông tin, chúng tôi đã sử

dụng tranh ảnh chuẩn về hình thái bên ngoài của các loài. Với hình thức các
câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu về những đặc điểm dễ nhận dạng của loài. Gặp gỡ
người dân địa phương hay đi rừng để thu thập thông tin về các loài động vật
có mặt ở địa phương và tìm hiểu về nơi ở, tập tính hoạt động, thành phần thức
ăn, sinh cảnh, phân bố theo độ cao, thành phần và số lượng các loài động vật
bị đánh bắt cũng như ý nghĩa kinh tế của các loài đó.
Toàn bộ thông tin thu thập được ghi chép đầy đủ vào phiếu phỏng vấn
(Mẫu biểu 01) và các thông tin từ nguồn khác được ghi vào sổ ghi chép thực
địa.
Mẫu biểu 01: Phiếu phỏng vấn
Ngày ..…. tháng .… năm 20 ….
Tên người được phỏng vấn:.................................. Tuổi.......... Dân tộc..............
Địa chỉ : Bản ..... Xóm ............ Xã ...................... Huyện .................................
Tên loài
TT

Địa điểm

Tên địa

Tên phổ

phương

thông

1

Mẫu biểu 02: Điều tra theo tuyến
Ngày..…. tháng.… năm 201

Thời tiết..................................

Tuyến số: ............. Tọa độ điểm đầu: ............. Tọa độ điểm cuối:…….….…
Người điều tra: …… Thời gian bắt đầu:…....... Thời gian kết thúc:.…………
TT Sinh
cảnh

Thời Tên loài
gian

Số
lượng

Giới Khoản Dấu hiệu Hoạt

Ghi

tính g cách

chú

nhận
biết

1
2
3

Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng thuộc địa giới hành
chính huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh bao gồm 5 xã: Đồng Sơn, Đồng
Lâm, Kỳ Thượng, Vũ Oai, Hoà Bình. Tọa độ địa lý:
Từ 1070 00 ’ 30 ’’ đến 107 0 14 ’ 00’’ vĩ độ Bắc.
Từ 210 04 ’ 00 ’’ đến 21 0 11’ 00 ’’ kinh độ Đông.
- Phía Đông giáp xã Dương Huy, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
- Phía Tây giáp xã Sơn Dương huyện Hoành Bồ.
- Phía Nam giáp xã Thống Nhất huyện Hoành Bồ.


23

Hình 3.1. Vị Trí KBTTN ĐS - KT trong tỉnh Quảng Ninh

Phạm vi ranh giới
- Phía Bắc: Ranh giới KBT bắt đầu từ đỉnh ngọn Mo cao 852,5 m theo
ranh giới giữa hai huyện Hoành Bồ và huyện Ba Chẽ đến đỉnh 562,5 m. Từ
đỉnh 562,5 m theo hướng Tây Bắc cắt qua khe Phương lên đỉnh 341,3 m, tiếp
tục theo dông hướng Bắc đến ngã ba suối lớn chảy về khe Phương. Từ ngã ba
suối lớn lên đỉnh 280,6 m theo dông hướng Tây đến đỉnh 480,3 m, từ đỉnh
480,3 m theo dông hướng Tây Bắc cắt qua khe Luông lên đỉnh đèo Dài 597,3
m tiếp tục theo dông hướng Tây cắt qua đỉnh 444,1 m dọc dông lên đỉnh núi
khe O.
- Phía Tây: Từ đỉnh núi khe O theo hướng Tây Nam đến ngã ba suối
chính lên dông theo hướng Tây Nam qua đỉnh 578,4 m đến đỉnh 457,2 m đi
theo khe đến ngã ba nhỏ theo dông hướng Đông Nam lên đỉnh khe Ru 566,9
m, từ đỉnh khe Ru theo đường phân thuỷ giữa hai khe Đồng Quặng và khe Cài
đến đỉnh 574,4 m trên đường ranh giới giữa hai xã Đồng Lâm và Sơn Dương.
Phía Nam: Từ đỉnh 547,4 m theo đường dông qua đỉnh 583,0 m, theo

Tây Bắc - Đông Nam.
- Hệ thống dông và núi trong KBT có một số đỉnh cao vượt trội. Đáng
chú ý là đỉnh Thiên Sơn 1090m. Dông núi chạy từ khe Ru 826m qua đèo Kinh
694m, Đồng Trà 889m, Am Váp 1051m tới ngọn Mo 852.5m đã chia KBT
thành hai lưu vực, phía Bắc nước chảy về sông Ba Chẽ, phía Nam nước tập
trung chảy về sông Man rồi chảy ra Bắc Cửa Lục và thoát ra vịnh Hạ Long.
Độ cao tuyệt đối không quá cao nhưng độ chênh cao trong vùng khá
lớn lên tới hàng ngàn mét. Địa hình trong khu vực bị chia cắt mạnh bởi nhiều
dông núi nhỏ và khe suối, độ dốc trung bình 20 - 25 0 nhiều nơi có độ dốc tới
30 - 400 xen kẽ đôi chỗ có độ dốc 50 - 600 rất hiểm trở.
Hai lưu vực sông chính trong khu vực là Ba Chẽ và Sông Man có nhiều
khe suối sâu, dốc bắt nguồn từ chân núi Am Váp, Thiên Sơn đã góp phần chia
cắt địa hình khu vực.
3.1.3. Địa chất và thổ nhưỡng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status