HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THẾ ANH
ĐÁNH GIÁ VÀ TUYỂN CHỌN GIỐNG ĐẬU XANH
THÍCH HỢP TRONG ĐIỀU KIỆN NƯỚC TRỜI VÀ XÂY DỰNG
CÁC BIỆN PHÁP CANH TÁC ĐẬU XANH THÍCH HỢP
CHO VÙNG ĐẤT CÁT VEN BIỂN TỈNH THANH HOÁ
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số:
9 62 01 10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Vũ Đình Hòa
TS. Nguyễn Thị Chinh
Phản biện 1:
PGS.TS. Hà Thị Thanh Bình
Hội Sinh học Việt Nam
Phản biện 2:
chủ yếu đang sử dụng giống đậu xanh địa phương lâu đời (đậu tằm), năng suất thấp
chưa phù hợp cho vùng đất cát ven biển nơi tiềm năng đất đai còn khá lớn.
Bên cạnh đó, đậu xanh chỉ được xem là cây trồng thứ yếu, ít được quan tâm
về các điều kiện canh tác nên năng suất thấp. Mặc dù là cây họ đậu, có khả năng cố
định đạm, nhưng đậu xanh vẫn cần bón bổ sung đạm, lân và kali để hình thành và
cải thiện năng suất (Malik et al., 2003). Trong điều kiện đất cát ven biển, bón phân
đạm sớm có thể kích thích sinh trưởng và thúc đẩy sự hình thành các cơ quan sinh
dưỡng ở thời kỳ sinh trưởng ban đầu, đặc biệt trên đất nghèo vi khuẩn cố định
đạm. Tuy nhiên, bón tập trung lượng phân cùng lúc đối với đất nghèo hữu cơ như
đất cát có thể dẫn đến mất mát do thấm (Nyamangara et al., 2003). Kết quả phân
tích đất cho thấy, đất cát ven biển Thanh Hóa nghèo chất hữu cơ, nghèo đạm và
kali tổng số. Đặc biệt đất cát giữ nước kém và sự thấm chất dinh dưỡng mạnh hơn,
do đó, sử dụng phân bón với liều lượng hợp lý, bón phân nhiều lần và bón vào thời
kỳ sinh trưởng phù hợp là rất cần thiết để nâng cao năng suất đậu xanh trên đất cát.
Để góp phần vào việc mở rộng diện tích, hình thành vùng sản xuất hàng hoá
tập trung cho cây đậu xanh trên vùng đất cát nói chung và đất cát ven biển nói riêng
tại tỉnh Thanh Hóa, thì việc tuyển chọn những giống đậu xanh có nhiều đặc điểm tốt,
có thời gian sinh trưởng ngắn, chịu thâm canh, năng suất khá, phổ thích nghi rộng và
kỹ thuật canh tác phù hợp là rất cần thiết.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Xác định được một số giống đậu xanh và các biện pháp canh tác thích hợp
cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện canh tác nước trời ở vụ Hè
trên vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hóa.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được yếu tố hạn chế chính trong sản xuất đậu xanh trên vùng đất
cát biển tỉnh Thanh Hóa.
- Đánh giá các giống đậu xanh về khả năng chịu hạn trong điều kiện gây hạn
nhân tạo; đánh giá năng suất và tính ổn định năng suất của các giống trên điều kiện
đồng ruộng.
vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hóa, gồm: 1) Thiếu bộ giống có năng suất cao,
chịu điều kiện canh tác nhờ nước trời, ngắn ngày; 2) Quy trình canh tác đậu xanh
phù hợp với điều kiện sinh thái, thời tiết và thổ nhưỡng của vùng đất cát ven biển
chưa hoàn thiện; 3) Đất canh tác đậu xanh là đất nghèo chất hữu cơ, đạm tổng số
và đạm dễ tiêu trong khi đó lượng mưa phân bố không đều trong quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây đậu xanh.
- Tuyển chọn được hai giống đậu xanh ĐX16 và ĐX208 thích hợp với vùng
đất cát ven biển tỉnh Thanh Hoá. Giống ĐX208 có thời gian sinh trưởng trong vụ
Xuân và Hè tương ứng là 68 và 63 ngày, năng suất tương ứng là 12,8 và 15,9 tạ/ha.
Giống ĐX16 có thời gian sinh trưởng rất ngắn (61 ngày trong vụ Xuân và 56 ngày
trong vụ Hè), năng suất vụ Xuân đạt 12,2 tạ/ha và vụ Hè đạt 15,2 tạ/ha rất thích hợp
trong cơ cấu luân canh cây trồng của địa phương.
- Xác định được biện pháp canh tác tổng hợp đậu xanh cho vùng đất cát ven
biển tỉnh Thanh Hoá cho hai giống đậu xanh ĐX16 và ĐX208 cho năng suất và hiệu
quả kinh tế cao. Đối với giống ĐX16, thời vụ Hè thu thích hợp từ 10-24/06 hàng
năm, mật độ từ 20-25 cây/m2 và liều lượng bón 40kg N + 60kg P2O5 + 40kg K2O
được bón thúc lần 2 sớm hơn vào thời kỳ 1-2 lá thật và 4-5 lá thật. Đối với giống
2
trung ngày ĐX208, thời vụ từ 13-20/06 hàng năm với mật độ trồng 15-20 cây/m2,
liều lượng phân bón 40kg N + 60kg P2O5 + 40kg K2O và bón thúc 2 lần thời kỳ 1-2
lá thật và 6-7 lá thật.
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những dẫn liệu khoa học trong việc đánh giá
khả năng chịu hạn, đặc tính nông sinh học của các giống đậu xanh cũng như các
biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp để đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao trên
vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hóa.
đầy đủ các axit amin không thay thế và tương đối phù hợp với tiêu chuẩn dinh
dưỡng dành cho trẻ em được tổ chức Nông lương và y tế thế giới đưa ra (Khatik et
al., 2007).
3
Hạt đậu xanh được chế biến thành rất nhiều sản phẩm khác nhau như làm giò,
bánh đậu xanh, đồ xôi, nấu chè, làm miến, làm giá, chế biến bột dinh dưỡng...
(Đường Hồng Dật, 2006).
2.2. NHU CẦU VỀ ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH CỦA CÂY ĐẬU XANH
Đậu xanh là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và nhiệt đới của vùng Trung
, nên khả năng thích ứng với nhiệt độ dao động trong phạm vi rộng từ 16-360C.
Các thời kỳ sinh trưởng phát triển của đậu xanh nhìn chung mẫn cảm với chế độ
chiếu sáng. Hầu hết các giống đậu xanh đều mẫn cảm với phản ứng số lượng (phản
ứng với ngày ngắn). Đậu xanh thích hợp nhất với môi trường pH đạt giá trị trung
tính (6,2-7,2) (Oplinger et al., 1990). Tuy là cây họ đậu, có khả năng cố định đạm
khí trời nhưng đậu xanh vẫn cần bón bổ sung đạm, lân và kali để hình thành và cải
thiện năng suất (Malik et al., 2003). Trong thực tế, liều lượng, sự phối hợp NPK,
thời điểm và số lần bón phụ thuộc nhiều vào loại đất và thành phần cơ giới của đất
(Nguyễn Quốc Khương và cs., 2014). Trên đất thịt pha cát khi bón liều lượng 90kg
N và 120kg P2O5 (Sadeghipour et al., 2010) hoặc bón 90kg K2O trên nền 50-75kg N
và P2O5 (Hussain, 2011) cho 1ha năng suất đậu xanh đạt cao nhất, trong khi đó với
điều kiện đất sét đạt năng suất cao nhất khi bón 70kg N/ha (Azadi et al., 2013).
Trong điều kiện đất cát ven biển, bón phân đạm sớm có thể kích thích sinh trưởng
và thúc đẩy sự hình thành các cơ quan sinh dưỡng ở thời kỳ sinh trưởng ban đầu,
đặc biệt trên đất nghèo vi khuẩn cố định đạm.
2.3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT ĐẬU XANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
Diện tích đậu xanh thế giới trên 6 triệu héc ta (Nair et al., 2014), trong đó
90% ở châu , sản lượng đậu xanh toàn cầu là 3 triệu tấn. Trong đó, Ấn Độ là
quốc gia sản xuất đậu xanh lớn nhất, theo sau là Trung Quốc, Pakistan và
AVRDC. Trong chương trình nghiên cứu này có 497 mẫu đã được sử dụng cho việc
đánh giá kiểu sinh trưởng, 651 mẫu cho việc đánh giá đặc điểm hạt và 590 mẫu cho
việc đánh giá sự đa dạng protein. Hầu hết các mẫu giống này đều được cung cấp bởi
các ngân hàng gen của AVRDC, Trường Đại học Tokyo và Viện Tài nguyên Cây
trồng Quốc gia Nhật Bản. Thời vụ gieo trồng đậu xanh phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố như điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng, cơ cấu cây trồng, giống...
Thời vụ gieo trồng thích hợp là một trong các tác nhân tạo điều kiện cho đậu
xanh đạt được năng suất tối ưu (Shanmugasundaran et al., 2004). Thời vụ gieo
trồng đậu xanh khác nhau giữa các nước, thậm chí khác nhau giữa các vùng khí
hậu trong mỗi nước (Lawn and Ahn, 1985). Ở Việt Nam, thời vụ gieo đối với đậu
xanh tuỳ thuộc vào vùng sinh thái. Đối với các tỉnh miền Bắc trong vụ Xuân gieo
trong tháng 3, từ phía Nam Thanh Hoá trở vào ấm hơn nên có thể gieo từ cuối
tháng 2 để tránh gió lào tháng 4. Vụ Hè nên gieo đậu xanh từ đầu đến giữa tháng 5,
vụ Thu Đông tốt nhất là trong tháng 8 (Lê Khả Tường, 2000; Đồng Văn Đại,
1997).
Ở Ấn độ, đậu xanh trồng trong mùa khô (mùa Hè) mật độ thích hợp là (50
2
cây/m (khoảng cách gieo là 20 cm x 10 cm) còn trong mùa mưa mật độ gieo thích
hợp là 33 cây/m2 (khoảng cách 30 cm x 10 cm) (Ahlawat and Rana, 2002). Tại
Bangladesh, trong mùa mưa thời tiết thuận lợi cho sự sinh trưởng phát triển của
cây đậu xanh do đó gieo với khoảng cách 30 cm x 10 cm cho năng suất hạt cao hơn
so với khoảng cách 20 cm x 20 cm hoặc 40 cm x 30 cm (Kabir and Sarkar, 2008).
Ở Pakistan, khoảng cách giữa các hàng là 20cm thì đậu xanh đạt năng suất cao
nhất. Ở Philippines, khoảng cách giữa hàng được khuyến cáo là 50-70cm. Phạm
Văn Thiều (1999) khuyến cáo mật độ gieo theo đặc điểm sinh trưởng của giống
đậu xanh. Những giống thấp cây, ít cành cần được gieo dày 40-50 cây/m2, nhưng
những giống cây cao, nhiều cành cần được trồng thưa hơn 30-40 cây/m2. Hầu hết
các giống đậu xanh mới có tiềm năng năng suất cao đều sinh trưởng, phát triển
thích hợp ở mật độ 25 - 30 cây/m2. Khi trồng với mật độ quá thưa hoặc quá dày
đều cho năng suất thấp hơn (Đường Hồng Dật, 2006).
có khả năng chủ động nguồn nước tưới (Vũ Ngọc Thắng và cs., 2011). Đánh giá
khả năng chịu hạn của 2 giống đậu xanh ĐX22 và ĐXVN5 ở 3 thời kỳ bắt đầu ra
hoa, ra hoa rộ, quả vào chắc trong điều kiện chậu vại, sử dụng đất phù sa sông
Hồng không được bồi hàng năm cho thấy nếu hạn ở thời kỳ bắt đầu ra hoa cây có
khả năng phục hồi tốt hơn và ảnh hưởng giảm năng suất nhẹ hơn ở các giai đoạn
sau (Vũ Ngọc Thắng và cs., 2012). Sự suy giảm năng suất mạnh nhất khi thiếu
nước ở thời kỳ quả mẩy, giống ĐX22 có khả năng chịu hạn tốt hơn giống ĐXVN5.
Kết quả nghiên cứu này đã góp phần xác định phương pháp đánh giá khả năng chịu
hạn của đậu xanh phù hợp với điều kiện nghiên cứu ở nước ta.
Thách thức lớn với các nhà chọn giống đậu xanh là tạo được giống có khả
năng chịu hạn, có năng suất cao trong điều kiện khô hạn (Naresh et al., 2013). Tại
Philippines, Indonesia và Ấn Độ đã xác định được các giống có tên là BPI Mg7,
Merpati, SML-668 và Pusa Vishal. Đây là những nguồn gen kháng hạn nhưng
đồng thời cũng có tiềm năng năng suất cao với 1.300-1.500 kg/ha, tăng >20% so
với các giống địa phương trong vùng nước trời. Ở Việt Nam, các giống đậu xanh
được công nhận là có khả năng chịu hạn khá bao gồm T135, KPS1, V123 và
KPS1, ĐX14 (Nguyễn Ngọc Quất, 2008).
6
2.6. THỜI TIẾT, KHÍ HẬU, ĐẤT CÁT VEN BIỂN VÀ HIỆN TRẠNG SẢN
XUẤT ĐẬU XANH TẠI THANH HÓA
Hoá có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C - 240C, tổng
nhiệt độ năm vào khoảng 8.5000C - 8.7000C. Độ ẩm trung bình các tháng hàng
năm khoảng 85%. Lượng mưa trung bình năm từ 1.456,6 - 1.762,6 mm, nhưng
phân bố rất không đều giữa hai mùa và lớn dần từ Bắc vào Nam và từ Tây sang
Đông. Tổng số giờ nắng bình quân trong năm từ 1.600 - 1.800 giờ (Trung tâm Khí
tượng thủy văn Thanh Hóa, 2012).
Thanh Hoá có 8 nhóm đất chính với 20 loại đất khác nhau; trong đó, Nhóm
7
- Đánh giá khả năng chịu hạn của các giống đậu xanh trong điều kiện nhân
tạo.
- Đánh giá và tuyển chọn giống đậu xanh thích hợp với vùng đất ven biển
tỉnh Thanh Hóa.
- Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác (thời vụ gieo; mật độ trồng;
thời điểm bón và lượng phân bón) thích hợp cho giống đậu xanh triển vọng
(ĐX208 và ĐX16).
- Xây dựng mô hình trình diễn cho giống đậu xanh triển vọng được tuyển
chọn tại tỉnh Thanh Hóa.
3.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng sản xuất đậu xanh ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa
thông qua thu thập số liệu từ các Sở ban ngành và điều tra nông dân.
- Đánh giá khả năng chịu hạn của 12 giống đậu xanh trong phòng thí nghiệm
bằng dung dịch thẩm thấu - polyethilene glycol 6000 (Dutta and Bera, 2008). Các
chỉ tiêu theo dõi gồm: Tỷ lệ nảy mầm (%); khối lượng thân mầm, rễ mầm (g);
chiều dài rễ, chiều dài mầm (cm). Hạt được coi là nảy mầm khi chiều dài mầm và
rễ mầm đạt từ 0,5cm trở lên.
- Đánh giá khả năng chịu hạn của 12 giống đậu xanh ở điều kiện nhà có mái
che được bố trí theo kiểu ô chính-ô phụ với 4 mức hạn (ô chính) và 12 giống (ô
phụ), với 3 lần lặp lại. Ảnh hưởng của hạn được đánh giá ở 3 thời kỳ: Thời kỳ bắt
đầu ra hoa, thời kỳ ra hoa rộ và thời kỳ quả mẩy. Tiến hành đánh giá các chỉ tiêu chí:
Phản ứng héo, mức độ héo, thời gian phục hồi, mức độ phục hồi và chiều cao cây.
- Đánh giá khả năng chịu hạn của 12 giống đậu xanh trong điều kiện gây hạn
nhân tạo trong nhà có mái che được thiết kế theo kiểu ô chính-ô phụ với hai mức
hạn là ô chính và giống là ô phụ. Diện tích ô thí nghiệm là 4m2, mật độ trồng 25
cây/m2. Bón phân đầy đủ theo khuyến cáo cho đậu xanh. Các chỉ tiêu theo dõi
gồm: Thời gian từ mọc - ra hoa và tổng thời gian sinh trưởng; Chiều cao cây, số lá,
huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa và Tĩnh Gia
Ở huyện Nga Sơn, lúa và cói là hai cây trồng chủ lực với diện tích lớn nhất.
Tiếp đến là cây ngô và cây lạc. Diện tích cây đậu xanh không có trong danh mục
niên giám thống kê của huyện, tuy nhiên qua điều tra phỏng vấn năm 2011, diện
tích trồng đậu xanh ước tính khoảng 250 ha, năng suất 1,27 tấn/ha, đạt sản lượng
317,5 tấn.
Tại Hoằng Hoá, lúa và ngô cũng là cây trồng chính, xếp thứ 3 là cây lạc với
diện tích 1.763,9 ha, năng suất đạt 2,2 tấn/ha, cao hơn năng suất bình quân chung
của tỉnh Thanh Hoá và gần bằng năng suất bình quân của cả nước. Diện tích vừng
đạt 250 ha, năng suất 1,2 tấn/ha và đậu xanh diện tích đạt 200 ha, năng suất 1,23
tấn/ha.
Ở huyện Tĩnh Gia các cây trồng chính gồm lúa, lạc, khoai lang, vừng, đậu đỗ
khác và rau. Lúa là cây trồng chủ lực với diện tích lúa cả năm là 10.874,3 ha, năng
suất đạt 4,6 tấn/ha, đáp ứng được nhu cầu cơ bản về lương thực cho người dân trong
huyện. Lạc là cây trồng diện tích đứng thứ 2 sau cây lúa với diện tích trồng cả năm
5.465 ha, năng suất đạt 1,56 tấn/ha. Cây đậu xanh mặc dù chưa được quan tâm, nhưng
nông dân trong huyện vẫn trồng với diện tích đạt trên 460 ha và năng suất bình quân
0,98 tấn/ha.
4.1.2. Thực trạng sản xuất đậu xanh ở huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa và Tĩnh Gia
4.1.2.1. Diện tích và cơ cấu diện tích trồng đậu xanh ở các huyện điều tra
Kết quả điều tra cho thấy cây đậu xanh ít được quan tâm, nông dân còn thiếu
hiểu biết về giống, biện pháp canh tác. Ngoại trừ xã Hoằng Đồng, huyện Hoằng
Hoá, cây đậu xanh vụ Hè được trồng trên diện tích 60 ha, chiếm 86% diện tích đất
trồng màu, năng suất bình quân trên 1,2 tấn/ha. Sản phẩm đậu xanh dễ bán ngoài
thị trường. Ở huyện Tĩnh Gia, xã Thanh Sơn hàng năm cũng có khoảng 50 ha đậu
xanh, trồng chủ yếu trên đất sau khi thu hoạch lạc, phần đất cao trồng vừng, khu
đất màu thấp trồng đậu xanh, năng suất đậu xanh ở đây cũng khá cao từ 1,1-1,2
tấn/ha. Xã Hải Nhân, đậu xanh được trồng trong vụ Xuân khoảng 15 ha, năng suất
9
298,0
440,0
126,8
Diện tích đậu
xanh (ha)
Không xác định
30,0
60,0
2,0
50
40
10
% Diện tích đậu
xanh so với đất màu
41,0
86,0
1,33
16,78
9,0
7,9
Ghi chú: (-) không có số liệu thống kê
4.1.2.2. Hiện trạng sử dụng giống đậu xanh tại địa phương
Tất cả 150 hộ điều tra của 3 xã (Nga Hải, Nga Văn, Nga Yên) ở Nga Sơn
đều không biết rõ tên giống hiện đang trồng tại địa phương. Nông dân chỉ quen gọi
là đậu tằm và cũng không biết giống đã trồng tại địa phương từ bao giờ. Chỉ có 01
hộ/150 biết giống đang sử dụng P18 nhưng không hiểu nguồn gốc từ đâu. Kết quả
năng suất rất thấp và hiệu quả kinh tế không cao.
Kỹ thuật canh tác đậu xanh tại các địa phương điều tra còn mang tính kinh
nghiệm. Nông dân chưa quan tâm đến việc bón bổ sung phân đạm, lân và kali, mật độ
trồng dày. Việc phòng trừ sâu bệnh chưa kịp thời trong khi đậu xanh rất mẫn cảm với
các loại sâu bệnh nên chất lượng hạt giảm, gây khó khăn cho việc chế biến và làm giảm
năng suất tới 20-40% nếu không phòng trừ kịp thời.
Ở các huyện vùng ven biển Thanh Hoá, cây đậu xanh được trồng trong vụ hè
là chính (cuối tháng 5, đầu tháng 6), với phương thức trồng thuần. Tuy nhiên, vào
thời điểm thu hoạch vào khoảng giữa tháng 8 hoặc cuối tháng 8 thường hay có
mưa lớn làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm của những lần thu
hái sau do nấm mốc và thối hạt gây nên.
Cây đậu xanh được xem là cây trồng phụ nên chưa có đầu tư nghiên cứu
cũng như ứng dụng giống và biện pháp kỹ thuật thích hợp để dần dần hình thành
lên vùng sản xuất tập trung. Hơn nữa, giá đầu ra sản phẩm không ổn định. Sản
phẩm làm ra nông dân tự bán ngoài chợ, giá cả bấp bênh. Đây cũng là yếu tố hạn
chế khiến nông dân lo ngại, chưa mạnh dạn để sản xuất trên diện rộng.
4.1.4. Khả năng phát triển sản xuất đậu xanh trên vùng đất cát ven biển tỉnh
Thanh Hoá
Nguồn lợi tự nhiên: Vùng ven biển Thanh Hoá chạy dọc từ Nga Sơn đến
Tĩnh Gia có diện tích đất tự nhiên là 120.261,8ha, trong đó đất cát biển là
22.511.2ha, chiếm 18,71% tổng diện tích đất tự nhiên. Đây là quỹ đất khá lớn để
có thể phát triển cây vừng và cây đậu xanh.
Tiến bộ kỹ thuật về giống: Nhiều giống đậu xanh mới được chọn tạo có thời
gian sinh trưởng ngắn, chín tập trung với năng suất khá (12-14 tạ/ha) như: ĐXVN5, ĐX208, VN93-1, ĐX16, ĐX17 rất phù hợp với cơ cấu cây trồng và điều kiện
thời tiết của vùng đất cát biển tỉnh Thanh Hoá.
Nhu cầu đầu tư ít : Lợi thế của cây đậu xanh là nhu cầu đầu tư ít nhưng lại thu
được lợi nhuận thuần cao (cao hơn so với sản xuất một số cây trồng khác như lạc,
ngô...), nhất là trong vụ Hè, thời gian quay vòng vốn cũng nhanh hơn (chỉ trong 2-2,5
tháng).
11
ĐX17
ĐX208
ĐXVN4
ĐXVN5
ĐXVN6
VN99-3
V123
Nồng độ PEG
10%
93,0
92,0
92,0
73,0
75,5
86,0
80,0
85,5
90,5
92,0
89,5
90,5
0%
100,0
100,0
100,0
87,5
100,0
100,0
60,0
57,5
55,5
59,0
4.2.1.2. Ảnh hưởng của các nồng độ PEG 6000 khác nhau đến khối lượng cây mầm
Khi tăng nồng độ PEG 6000 từ 0% đến 20%, khối lượng cây mầm có xu
hướng giảm dần. Khi nồng độ PEG 6000 là 15%, khối lượng thâm mầm giảm đáng
kể. Nhiều hạt không thể nảy mầm, những hạt giống có thể nảy mầm thì kích thước
mầm và rễ mầm khá nhỏ và sớm dừng sinh trưởng. Đặc biệt ở nồng độ 20% PEG
12
6000, nhiều giống có tỷ lệ mọc mầm thấp và mầm, rễ mầm rất ngắn hoặc xuất hiện
không rõ (ĐX14, ĐX16, ĐXVN4). Tuy nhiên, các giống Tằm Thanh Hóa, ĐX17
và ĐXVN5 có khối lượng tươi và khô của mầm cao ở cả 4 nồng độ PEG 6000.
4.2.1.3. Ảnh hưởng của các nồng độ PEG 6000 khác nhau đến chiều dài mầm
và chiều dài rễ mầm
Khi tăng nồng độ PEG 6000 từ 15% đến 20%, chiều dài mầm và rễ mầm của
các giống giảm khá mạnh (bảng 4.3).
Do nồng độ PEG cao cản trở khả năng hút nước của hạt, cây mầm không có
đủ nước cho sự phát triển thân và rễ mầm. Các giống đối chứng Tằm Thanh Hóa và
các giống ĐX16, ĐX17, ĐXVN5, VN99-3 là các giống duy trì được sự phát triển mạnh
và đồng đều ở nồng độ PEG cao. Khả năng phát triển mầm và rễ mầm của các giống
còn lại kém hơn so với giống đối chứng, trong đó hai giống ĐX11 và ĐXVN4 có
mầm và rễ mầm kém phát triển nhất và sự phát triển của mầm, rễ mầm của 2 giống
này giảm nhanh khi tăng nồng độ PEG 6000.
Bảng 4.3. Ảnh hƣởng của nồng độ PEG 6000 khác nhau đến chiều dài mầm
và chiều dài rễ mầm (cm) của 12 giống đậu xanh
0%
ĐX12
10,2
6,1
1,4
4,3
0,8
5,0
2,8
10,0
ĐX14
10,3
6,0
1,7
3,5
1,0
4,0
3,5
6,4
ĐX16
9,6
10,4
1,6
5,9
1,1
6,7
3,2
5,5
ĐX17
11,4
7,7
6,1
3,9
8,7
ĐXVN6
8,2
8,9
3,2
6,1
2,1
8,2
3,8
8,5
VN99-3
10,0
8,2
3,6
6,3
6,6
7, 5
3,9
9,4
V123
7,5
8,0
2,1
5,4
1,3
5,3
3,1
8,8
Gây hạn thời kỳ Hạn thời kỳ Hạn thời kỳ làm
cây con
ra hoa
quả
31,63
36,45
33,92
ns
ns
26,33
28,92
30,33 ns
ns
ns
27,98
29,84
29,42 ns
24,08ns
30,67ns
30,67 ns
23,25ns
30,75 ns
31,00 ns
21,17ns
30,50 ns
27,67 ns
ns
ns
23,25
28,50
31,50 ns
32,92 ns
35,92
32,42 ns
39,50 ns
Ghi chú: ns: Không khác biệt so với giống đối chứng
4.2.2.2. Ảnh hưởng của hạn đến phản ứng héo và khả năng phục hồi của các giống
ở giai đoạn cây con
Phản ứng héo của các giống rất khác nhau với điều kiện thiếu nước. Giống
Tằm TH héo nhanh và có mức độ héo khá cao (bảng 4.5).
Bảng 4.5. Ảnh hƣởng của hạn đến phản ứng héo cây của các giống
ở giai đoạn cây con
Thời gian héo Mức độ héo Thời gian phục Mức độ phục
Giống
(điểm)
(điểm)
hồi (điểm)
hồi (điểm)
Tằm TH
3,00
3,00
7,67
7,00
ĐX11
3,00
4,33
5,00
7,00
ĐXVN5
3,67
5,67
8,33
8,33
ĐXVN6
6,33
6,33
9,00
9,00
V123
3,00
5,00
7,00
7,00
VN99-3
3,67
5,67
8,33
8,33
CV%
10,4
13,4
8,4
13,8
Một số giống có mức độ héo mạnh tương đương với giống đối chứng gồm
ĐX12, ĐX14; các giống khác đều có mức độ héo nhẹ hơn. Một số giống có thời gian
héo nhanh tương đương với giống đối chứng là các giống ĐX11, ĐX12, ĐX14,
ĐX208, V123. Phản ứng héo chậm xảy ra ở giống ĐX17 (~7,7 điểm), trong khi đó các
giống ĐX17 và ĐXVN6 chỉ biểu hiện nhẹ, thời gian héo chậm và mức độ héo thấp.
5,7
7,7
5,7
5,7
ĐX1
3,7
7,0
5,7
5,0
ĐX12
3,7
6,7
4,3
5,7
ĐX14
5,0
5,7
3,7
4,3
ĐX16
5,0
6,3
5,0
5,7
ĐX17
4,3
7,0
5,0
6,3
ĐX208
10,6
9,3
6,8
12,4
4.2.2.4. Ảnh hưởng của hạn đến phản ứng héo của các giống ở giai đoạn quả mẩy
Ở giai đoạn làm quả, các giống đều có khả năng chịu hạn tốt hơn thời kỳ cây
con và thời kỳ ra hoa được thể hiện ở thời gian héo chậm hơn và mức độ héo nhẹ
hơn (Bảng 4.7). Các giống Tằm TH, ĐX14, ĐXVN6 có thời gian héo sớm chỉ ở
mức trung bình (điểm 5).
15
Bảng 4.7. Ảnh hƣởng của hạn đến phản ứng héo của các giống
ở giai đoạn quả mẩy
Giống
Tằm TH
ĐX11
ĐX12
ĐX14
ĐX16
ĐX17
ĐX208
ĐXVN4
ĐXVN5
ĐXVN6
V123
VN99-3
6,3
9,0
7,0
9,0
7,7
9,0
5,7
9,0
5,7
9,0
7,0
9,0
7,7
9,0
5,7
9,0
6,3
9,0
9,0
9,0
9,0
9,0
5,0
9,0
5,7
9,0
8,3
9,0
9,0
8,3
7,7
9,0
7,0
9,0
7,0
9,0
9,0
9,0
9,0
8,3
5,0
9,0
3,7
9,0
7,7
9,0
7,0
9,0
7,0
9,0
7,0
9,0
5,0
9,0
7,3
8,3
6,7
9,0
7,0
9,0
Bảng 4.8. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu xanh
Giống
Tằm TH (đ/c)
ĐX11
ĐX12
ĐX14
ĐX16
ĐX17
ĐX208
V123
ĐXVN4
ĐXVN5
ĐXVN6
VN99-3
Vụ xuân(1)
Vụ hè (2)
Số quả/cây Số hạt/quả KL 1000 Số quả/cây Số hạt/quả KL 1000
(quả)
(hạt)
hạt (g)
(quả)
(hạt)
hạt (g)
9,3
9,6
48,8
11,9
10,1
53,1
9,7
10,2
66,0
12,3
10,4
57,8
7,6
9,9
65,6
10,2
10,2
64,9
8,0
10,0
63,8
10,8
10,2
62,1
9,9
10,0
55,7
12,4
10,1
54,2
10,4
10,0
56,6
13,2
VN99-3
NS trung bình (tấn/ha)
1,02
1,3
1,23
1,12
1,44
1,4
1,52
1,16
1,2
1,27
1,37
1,21
Hệ số hồi quy (bi)
0,696
1,353
1,221
0,359
1,030
1,131
1,125
1,227
1,050
1,033
0,810
0,965
thành năng suất và năng suất giống ĐX208. Kết quả ở bảng 4.10 cho thấy, năng
suất giảm mạnh khi thời vụ gieo muộn sang tháng 7. Thời vụ gieo giống ĐX208
trong khoảng 12-19/6 cho năng suất cao nhất (năng suất trung bình 2 vụ Hè đạt
15,6 tạ/ha). Còn ở Hoằng Hóa, thời vụ gieo cho năng suất tốt nhất (15,2 tạ/ha)
cũng vào khoảng 13-20/6 (bảng 4.11).
Kết quả đánh giá ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của giống đậu xanh ĐX16 tại Tĩnh Gia (bảng 4.12) cho thấy, thời
vụ gieo thích hợp cho năng suất cao là từ 10-17/6.
Bảng 4.10. Ảnh hƣởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của giống đậu xanh ĐX208 tại Nga Sơn
Thời vụ
12/06
19/06 (đ/c)
26/06
03/07
10/07
CV(%)
LSD 0,05
Số quả/cây
(quả)
13,0
13,4
11,6
8,8
7,0
Số hạt/quả
(hạt)
10,6
0,11
TB
1,56
1,56
1,35
0,94
0,7
Ghi chú: Số liệu trung bình vụ Hè năm 2012 và 2013
Bảng 4.11. Ảnh hƣởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của giống đậu xanh ĐX208 tại Hoằng Hóa
Thời vụ
13/06
20/06 (đ/c)
27/06
04/07
11/07
CV(%)
LSD 0,05
Số quả/cây Số hạt/quả
(quả)
(hạt)
12,6
13,0
11,5
8,8
6,4
1,48
1,57
1,36
1,02
0,55
7,40
0,12
TB
1,52
1,52
1,38
0,97
0,61
Bảng 4.12. Ảnh hƣởng của thời vụ gieo đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của giống đậu xanh ĐX16 tại Tĩnh Gia
Thời vụ
10/06
17/06
24/06
01/07
08/07
CV(%)
LSD 0,05
Số quả/cây (quả) Số hạt/quả (hạt)
13,9
14,3
0,71
6,7
6,4
0,14
0,12
TB
1,48
1,48
1,31
1,08
0,87
Ghi chú: Số liệu trung bình vụ Hè năm 2012 và 2013
4.4.2. Xác định mật độ gieo trồng thích hợp cho giống đậu xanh ĐX208
và ĐX16
Kết quả đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của giống đậu xanh ĐX208 tại Nga Sơn ở bảng 4.13 cho thấy,
năng suất trung bình 2 năm đạt cao nhất ở mật độ M2 là 1,6 tấn/ha, tiếp theo là ở
mật độ M3 đạt 1,53 tấn/ha. Khi so sánh năng suất của từng năm thì mật độ M2 và
M3 đều cho năng suất cao hơn có ý nghĩa so với đối chứng.
Bảng 4.13. Ảnh hƣởng của mật độ trồng đến các yếu tô cấu thành năng suất
và năng suất của giống đậu xanh ĐX208 tại Nga Sơn
Mật độ
MĐ1 (đ/c)
MĐ2
MĐ3
MĐ4
MĐ5
6,50
0,13
0,14
KL
1000 hạt (g)
66,6
67,0
67,0
66,6
66,2
TB
1,32
1,6
1,53
1,42
1,15
Ghi chú: Số liệu trung bình vụ Hè năm 2012 và 2013
Bảng 4.14. Ảnh hƣởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của giống đậu xanh ĐX208 tại Hoằng Hóa
Mật độ
MĐ1 (đ/c)
MĐ2
MĐ3
MĐ4
MĐ5
CV(%)
1,48
1,08
7,00
0,15
Ghi chú: Số liệu trung bình vụ Hè năm 2012 và 2013
19
NS (tấn/ha)
2013
1,27
1,58
1,48
1,36
1,09
6,60
0,14
TB
1,27
1,6
1,51
1,42
1,09
Tại huyện Hoằng Hóa, số liệu bảng 4.14 cho thấy, năng suất của giống đậu
xanh ĐX208 trồng ở các mật độ 15 cây/m2 đạt giá trị trung bình trong 2 năm cao
nhất (1,6 tấn/ha), tiếp theo là mật độ 20 cây/m2 (trung bình 1,51 tấn/ha). Khi so
16,2
10,2
56,7
1,32
1,27
1,29
MĐ3
14,3
10,1
56,1
1,48
1,39
1,43
MĐ4
10,9
1,42
1,33
LSD(5%)
Ghi chú: Số liệu trung bình vụ Hè năm 2012 và 2013
4.4.3. Xác định thời điểm bón và liều lƣợng phân bón thích hợp cho giống đậu
xanh ĐX208 và ĐX16
4.4.3.1. Ảnh hưởng của thời điểm bón và liều lượng phân bón đến năng suất
Kết quả đánh giá ảnh hưởng của thời điểm bón và liều lượng phân bón qua
2 vụ đến năng suất của giống đậu xanh ĐX208 tại Nga Sơn và Hoằng Hóa và
giống ĐX16 tại Tĩnh Gia cho thấy, thời điểm bón không có tương tác với liều
lượng bón. Thời điểm bón và liều lượng phân bón đều có ảnh hưởng có ý nghĩa
tới năng suất, trong đó liều lượng ảnh hưởng có ý nghĩa cao ở cả hai giống ở các
điểm và các năm.
Ở cả 2 điểm Nga Sơn và Hoằng Hóa (bảng 4.16 và bảng 4.17), năng suất
trung bình đạt cao nhất với liều lượng LL3 (60kg N + 90kg P 2O5 + 60kg K2O),
nhưng không khác biệt có ý nghĩa so với LL2. Đáng lưu ý là LL2 bón thúc ở TĐ
3 (bón thúc lần 2 muộn khi cây đạt 6-7 lá thật) hoặc ở LL3 khi bón ở TĐ2 (bón
thúc lần 2 khi cây 4-5 lá thật) cho năng suất cao nhất ở cả hai điểm Nga Sơn và
Hoằng Hóa.
20
Bảng 4.16. Ảnh hƣởng của thời điểm bón và liều lƣợng phân bón đến số quả,
số hạt và năng suất giống đậu xanh ĐX208 tại Nga Sơn
(số liệu trung bình 2 vụ)
11,4
12,9
13,2
10,5
10,4
10,5
10,47
10,6
10,5
10,6
10,57
10,5
10,5
10,4
10,47
10,53
10,47
10,50
1,13
1,31
1,48
1,3
1,24
1,41
Ghi chú: * Giá trị trung bình trong cùng hàng sai khác có ý nghĩa ở mức 0,05 so với đối chứng.
Giá trị trong cùng cột có chữ cái khác nhau đi kèm khác nhau có ý nghĩa ở mức 0,05.
Đối với giống ĐX16 (bảng 4.18), năng suất đạt cao nhất khi bón thức 2 lần vào
thời kỳ 1-2 lá thật và thời kỳ 4-5 lá thật ở liều lượng 40kg N + 60kg P2O5 + 40kg K2O.
Bảng 4.17. Ảnh hƣởng của thời điểm bón và liều lƣợng phân bón đến số quả,
số hạt và năng suất giống đậu xanh ĐX 208 tại Hoằng Hóa
Liều lượng phân bón
Bón lót+ thúc
4-5 lá
Thời điểm bón
Bón thúc 2 lần:
1-2 và 4-5 lá thật
Bón thúc 2 lần:
1-2 và 6-7 lá thật
Trung
bình
10,1
11,9
12,9
11,6
11,2
12,7
1,12
1,30
1,47
1,30
1,22
1,40
1,53
1,38
1,37b
1,55a
1,47a
1,47*
1,24
1,42
1,50
Số quả/cây (quả)
LL1
LL2
LL3
Trung bình
Số hạt/quả (hạt)
LL1
LL2
LL2
LL3
Trung bình
Bón lót+ thúc
4-5 lá
Thời điểm bón
Bón thúc 2 lần: Bón thúc 2 lần:
1-2 và 4-5 lá
1-2 và 6-7 lá
thật
thật
Trung
bình
10,6
12,1
13,3
12,0
12,8
14,2
14,2
13,7
12,0
13,8
13,8
1,32
1,49
1,42
1,41*
1,26b
1,45a
1,44a
1,38
1,21
1,39
1,42
Ghi chú: * Giá trị trung bình trong cùng hàng sai khác có ý nghĩa ở mức 0,05 so với đối chứng.
Giá trị trong cùng cột có cùng chữ cái đi kèm không khác nhau có ý nghĩa ở mức 0,05
4.4.3.2. Hiệu quả kinh tế của các c ng thức phân bón
Ở tất cả các công thức bón phân bón đối với 2 giống người sản xuất đậu xanh
đều có lãi. Đối với giống ĐX208 gieo trồng tại Nga Sơn và Hoằng Hóa, tuy liều
lượng bón phân bón cao LL3 (60kg N + 90kg P2O5 + 60kg K2O) cho năng suất hạt
cao nhất nhưng LL2 (40kg N + 60kg P2O5 + 40kg K2O) kết hợp bón thúc đạm và kali
khi cây có 1-2 lá thật và khi cây có 6-7 lá thật đem lại lãi thuần cao nhất. Ngược lại,
đối với giống ĐX16 trồng tại Tĩnh Gia, hiệu quả kinh tế ở liều lượng bón 40kg N
+60kg P2O5 + 40kg K2O và bón thúc đạm và kali 2 lần vào thời kỳ 1-2 lá thật và 4-5
lá thật cho hiệu quả kinh tế cao nhất.
4.5. XÂY DỰNG M HÌNH TRÌNH DIỄN GIỐNG ĐẬU XANH TUYỂN CHỌN
ĐX208 VÀ ĐX16 Ở VỤ HÈ NĂM 2014 TRÊN VÙNG ĐẤT CÁT VEN BIỂN
TỈNH THANH HÓA
4.5.1. Kết quả trình diễn giống ĐX208 và ĐX16
12,7
9,8
9,7
65,0
55,7
1.580
1.300
Chỉ tiêu theo dõi
Thời gian sinh trưởng (ngày)
Chiều cao cây (cm)
Số cành cấp 1 (cành)
Số đốt/thân (đốt)
Số quả/cây (quả)
Số hạt/quả (hạt)
Khối lượng 1000 hạt (g)
Năng suất thực thu (kg/ha)
Mức độ sâu bệnh hại
Bệnh đốm nâu (điểm)
Sâu cuốn lá (%)
Sâu đục quả (%)
Tính chống đổ (điểm)
1,5
7,3
7,6
1,0
Hoằng Hóa
ĐX208
Bảng 4.20. Hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất giống đậu xanh mới so với sản
xuất đại trà trên một ha ở Hoằng Hóa và Nga Sơn vụ Hè năm 2014
Nội dung
ng chi (nghìn đồng)
Vật tư (nghìn đồng)
Công lao động (nghìn đồng)
ăng suất (kg)
ng thu (nghìn đồng)
ãi thuần (nghìn đồng)
lãi thuần tăng so đại trà
Ghi chú:
Hoằng Hoá
Ruộng Mô hình
đại trà
ĐX208
20.120
23.040
10.120
13.040
10.000
10.000
1.120
1.640
31.360
45.360
11.240
22.320
98,4
1.300
36.400
13.360
69,3