BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN QUỲNH TRANG
PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN THEO QUY ĐỊNH CỦA
WTO – BÀI HỌC VỚI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN QUỲNH TRANG
PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN THEO QUY ĐỊNH CỦA WTO –
BÀI HỌC VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 9 380108
LUẬN ÁN TIẾN SỸ
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASR
Quy định về chống trợ cấp của Trung Quốc
CDP
Uỷ ban về chính sách phát triển
DB
Cụm công nghiệp tiêu biểu
DCs
Các nước đang phát triển
DEIP
Chương trình hỗ trợ xuất khẩu sản phẩm sữa
DNNVV
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DS
Tranh chấp
Tổng sản phẩm quốc nội
GSP
Ưu đãi thuế quan phổ cập
LDCs
Các nước kém phát triển
MOU
Bản ghi nhớ
NXB
Nhà xuất bản
OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
SCM
Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng
S&D
Hoa kỳ
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 ............................................................................................................... 6
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ..... 6
1.1. Tình hình nghiên cứu ........................................................................................ 6
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ................................................................. 6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ..................................................................... 7
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án ................................... 9
1.2.1. Đánh giá nghiên cứu về một số vấn đề lý luận pháp luật cơ bản của WTO về
trợ cấp ......................................................................................................................... 9
1.2.2. Đánh giá những kết quả nghiên cứu về quy định của WTO về trợ cấp ......... 12
1.2.3. Đánh giá nghiên cứu về pháp luật về trợ cấp của một số nước thành viên
WTO và bài học kinh nghiệm với Việt Nam. .......................................................... 15
1.3. Đề xuất hướng nghiên cứu của luận án ......................................................... 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ....................................................................................... 22
CHƯƠNG 2 ............................................................................................................. 23
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT CƠ BẢN CỦA WTO VỀ TRỢ
CẤP ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN ........................................... 23
2.1. Khái quát chung pháp luật WTO về trợ cấp ................................................ 23
2.1.1. Sự hình thành và phát triển pháp luật WTO về trợ cấp .................................. 23
2.1.2. Nguồn của pháp luật WTO về trợ cấp ............................................................ 24
2.2. Các luận điểm kinh tế học về áp dụng và duy trì trợ cấp ............................ 30
2.2.1. Bản chất của trợ cấp ....................................................................................... 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ..................................................................................... 108
CHƯƠNG 4 ........................................................................................................... 109
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TRONG HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP CỦA VIỆT NAM................................................. 109
4.1. Thực trạng pháp luật về trợ cấp của Việt Nam .......................................... 109
4.1.1. Cam kết của Việt Nam về trợ cấp ................................................................ 109
4.1.2. Pháp luật về đóng góp tài chính của chính phủ ............................................ 110
4.1.3. Pháp luật về chống trợ cấp sau khi gia nhập WTO ...................................... 122
4.1.4. Đánh giá tính tương thích với Hiệp định SCM ............................................ 123
4.1.5. Thực tiễn tranh chấp về trợ cấp đối với hàng hoá Việt Nam ....................... 126
4.2. Bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng pháp luật về trợ cấp của Việt Nam
trong giai đoạn mới .............................................................................................. 133
4.2.1. Tuân thủ quy định về trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hoá ................... 133
4.2.2. Áp dụng và duy trì hỗ trợ trong nước cho nông nghiệp ............................... 136
4.2.3. Áp dụng các biện pháp đóng góp tài chính phù hợp .................................... 137
4.2.4. Áp dụng trợ cấp có mục tiêu ........................................................................ 139
3
4.2.5. Đáp ứng nguyên tắc minh bạch .................................................................... 141
4.2.6. Xây dựng pháp luật chống trợ cấp hiệu quả ................................................. 142
4.3. Đề xuất một số giải pháp trong hoàn thiện pháp luật về trợ cấp của Việt
Nam ........................................................................................................................ 143
4.3.1. Nhóm giải pháp nhằm tăng tính định hướng cho trợ cấp ............................. 143
4.3.2. Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường tính hiệu quả của pháp luật
về trợ cấp ................................................................................................................ 145
4.3.3. Những vấn đề về trợ cấp mà Việt Nam cần quan tâm khi tham gia các thoả
thuận thương mại tự do .......................................................................................... 149
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 ..................................................................................... 152
nước”, “một bộ phận doanh nghiệp có thể bị phá sản, thất nghiệp có thể tăng lên”…
Đứng trước những thách thức, khó khăn mà một nền kinh tế đang phát triển, một nền
kinh tế dễ bị tổn thương, có thể phải đối mặt, Nghị quyết 22/NQ-TW ngày 10/4/2013
của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về “Hội nhập quốc tế” đã đưa ra định
hướng: “Chủ động xây dựng và thực hiện các biện pháp bảo vệ lợi ích chính đáng
của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước”. Chính phủ có thể bảo
vệ lợi ích của doanh nghiệp bằng cách kết hợp nhiều biện pháp khác nhau như áp
dụng biện pháp thuế quan, biện pháp phi thuế quan và trợ cấp. Song bảo vệ lợi ích
doanh nghiệp thông qua các chương trình trình trợ cấp là biện pháp hiệu quả hơn cả,
2
có thể đạt được các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn. Chủ trương “loại bỏ các hình thức
trợ cấp theo lộ trình cam kết; bổ sung những hình thức trợ cấp phù hợp với các quy
định của Tổ chức Thương mại thế giới” cũng được đặt ra trong Nghị quyết 08//NQTW.
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được
đánh giá “chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính
bền vững của sự phát triển kinh tế”. Chính sách pháp luật về trợ cấp của Việt Nam
chưa thực sự hiệu quả, chưa tạo được động lực cho ngành sản xuất trong nước phát
triển. Thậm chí nhiều doanh nghiệp không thể tiếp cận các biện pháp trợ cấp của
Chính phủ. Trong khi đó, thực tiễn tranh chấp về chống trợ cấp trước WTO cho thấy,
trợ cấp được áp dụng ở tất cả các nước thành viên, từ các nước đang phát triểnđến
thành viên phát triển. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt và phức tạp, nhu
cầu được trợ cấp của các ngành sản xuất trong nước là rất lớn. Xây dựng chính sách
pháp luật về trợ cấp quốc gia phù hợp nhằm mục đích bảo vệ, nâng cao năng lực cạnh
tranh cho các ngành công nghiệp non trẻ, ngành công nghiệp chiến lược mà vẫn đảm
bảo mục tiêu thương mại tự do là một thách thức với Chính phủ Việt Nam.
Gia nhập WTO vào ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên
thứ 150 và có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một thành viên đang phát triển. Việt Nam
những doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ tổn thương trong cạnh
tranh thương mại quốc tế. Nghiên cứu pháp luật về chống trợ cấp cũng là nội dung
quan trọng, song trong khuôn khổ một luận án, nghiên cứu sinh thực hiện nghiên cứu
pháp luật về chống trợ cấp đối với hàng nhập khẩu có trợ cấp nhằm mục đích làm rõ
hơn một khoản trợ cấp không phù hợp có thể bị đối kháng như thế nào trong WTO.
Các nghiên cứu chuyên sâu hơn về pháp luật chống trợ cấp sẽ được dành vào những
cứu sau luận án.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả có nêu các loại nguồn pháp luật
WTO, song tác giả chỉ tập trung phân tích các quy định hiện hành của WTO về trợ
cấp được thể hiện trong các Hiệp định và thoả thuận giữa các thành viên. Bởi đây là
nguồn luật đầu tiên và quan trọng nhất của pháp luật WTO về trợ cấp được áp dụng
để soi chiếu khi một biện pháp trợ cấp bị khởi kiện ra trước cơ quan giải quyết tranh
chấp của WTO. Luận án cũng sử dụng các án lệ nhằm mục đích làm rõ hơn các quy
định hiện hành của WTO và không nghiên cứu sâu sắc từng án lệ. Các nguồn luật
khác của WTO sẽ không được nghiên cứu tại luận án.
Luận án cũng tập trung vào phân tích pháp luật về trợ cấp của Trung Quốc,
Braxin và Hoa Kỳ. Lý do lựa chọn ba thành viên này bởi Trung Quốc và Braxin đều
là nước đang phát triển ở khu vực Châu Á và Châu Mỹ Latinh. Trung Quốc đại diện
cho các thành viên có nền kinh tế chuyển đổi, việc nghiên cứu cam kết, chính sách
pháp luật về trợ cấp của Trung Quốc cho chúng ta những bài học về việc xoá bỏ hay
vận dụng trợ cấp ở một nước mà các doanh nghiệp đã từng phụ thuộc lớn vào nhà
nước. Braxin đại diện cho các nước đang phát triển gia nhập WTO từ giai đoạn đầu
và đạt được những thành tựu phát triển mạnh mẽ. Hoa Kỳ đại diện cho những nền
kinh tế lớn, là nước nhập khẩu và áp dụng nhiều biện pháp đối kháng trợ cấp. Cả 03
nước được lựa chọn đều có thực tiễn tranh chấp về trợ cấp tại WTO khá đa dạng.
4
Chính vì vậy việc lựa chọn Trung Quốc, Braxin và Hoa Kỳ sẽ giúp luận án tập trung
trợ cấp tại các nước đang phát triển;
- Phân tích và đánh giá cam kết, chính sách pháp luật về trợ cấp của Trung
Quốc, Braxin và Hoa Kỳ; đồng thời phân tích thực tiễn một số tranh chấp về trợ cấp
liên quan đến các thành viên này để làm rõ hơn sự tương thích giữa pháp luật quốc
5
gia về trợ cấp và các quy định về trợ cấp của WTO;
- Phân tích và đánh giá thực trạng chính sách pháp luật về trợ cấp của Việt
Nam qua từng thời kỳ, trong đó tập trung vào các chính sách pháp luật hiện hành;
- Phân tích các bài học kinh nghiệm được rút ra từ những nghiên cứu trên
trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật quốc gia về trợ cấp tại Việt
Nam;
- Đề xuất những kiến nghị cụ thể trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật
về trợ cấp của Việt Nam nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm,
doanh nghiệp Việt Nam từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển.
Những kết quả nghiên cứu mới của luận án
Luận án có những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn như sau:
- Góp phần làm rõ các vấn đề lý luận về trợ cấp của WTO, trong đó luận án
đã phân tích, đánh giá chi tiết từng yếu tố cấu thành trợ cấp, và các quan điểm, tư
tưởng áp dụng, duy trì trợ cấp theo các trường phái khác nhau;
- Góp phần làm rõ các quy định đối xử đặc biệt về trợ cấp của WTO dành
cho các nước đang phát triển, cũng như quá trình và xu hướng phát triển của các quy
định đó;
- Phân tích và rút ra những bài học sâu sắc và đưa ra những kiến nghị trong
hoàn thiện pháp luật quốc gia về trợ cấp hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực cạnh
tranh cho sản phẩm và doanh nghiệp Việt Nam;
- Phân tích và đưa ra những kiến nghị phù hợp cho doanh nghiệp Việt Nam
trong việc tiếp cận và tận dụng lợi thế từ pháp luật về trợ cấp của Việt Nam;
(i) George A. Berman, Petros C. Mavroisid (2007), “WTO Law and Developing
Countries”, Cambridge Universiry Press, New York; (ii) Marc Benitah (2001), “The
law of subsidies under the GATT/WTO system”, The Hague Kluwell Law
International, Hague; (iii) Melaku Geboye Desta (2002),“The law of international
trade in agricultural products : from GATT 1947 to the WTO agreement on
agriculture”, Kluwer Law International; (iv) Mitsuo Matsushita, Dukgeun Ahn, TainJy Chen (2007), “The WTO trade remedy system: East Asian perspectives”, Cameron
May, United Kingdom; (v) Peter Van Den Bossche (2009), The Law and Policy of
the World Trade Organization, Cambrigde University Express, United Kingdom; (vi)
Gustavo E. Luenco, Herrianclez de Madrid (2006), “Regulation of subsidies and state
Aids in WTO and EC law”, Kluwer Law International, Spain; (vii) Raj Bhala (2001),
Luật thương mại quốc tế: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Bản dịch, NXB Tư pháp,
Hà Nội; v.v…
Bên cạnh đó, nhiều tài liệu điện tử, các bài nghiên cứu liên quan đến pháp luật
của WTO về trợ cấp áp dụng cho các nước thành viên nói chung và thành viên đang
phát triển. Cụ thể có thể kể đến: tài liệu “Dispute Settlement – World Trade
Organization – 3.7. Subsidies and Countervailing Measures” được sử dụng tại khoá
học “Dispute Settlement in International Trade, Investment and Intellectual Property”
của Liên hợp quốc (2003); tài liệu“Export Promotion and The WTO: A brief guide”,
của International Trade Center (2009); bài nghiên cứu “Current Developments under
the WTO Agreement on Subsidies and Countervailing Measures
as an Example for
7
the Functional Unity
of Domestic and International Trade Law” của nhóm tác giả
Christian Tietje/Gerhard Kraft/Rolf Sethe (2004); bài nghiên cứu “A Commitment
Theory of Subsidy Agreements” của tác giả Daniel Brou, Michele Ruta (2012); bài
nghiên cứu “The Definition of Export Subsidies and the Agreement on Agriculture”
của tác giả Isabelle Schluep và Harry de Gorter (2000); bài nghiên cứu “Commitments
under the WTO agreement on Agriculture and the Doha draft modalities: “How do
“Các biện pháp phòng vệ thương mại theo Hiệp định thương mại tự do”. Ngoài ra,
các luận văn thạc sỹ Luật học cũng nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, có thể kể
đến: học viên cao học Đỗ Hồng Quyên (2009) với đề tài “Pháp luật về trợ cấp của
Việt Nam khi là thành viên tổ chức thương mại thế giới”; La Văn Thái (2013), “Pháp
luật về chống trợ cấp trong hoạt động thương mại ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận
và thực tiễn”; Nguyễn Quang Hương Trà (2007), “Pháp luật về chống trợ cấp trong
thương mại hàng hoá khi Việt Nam là thành viên tổ chức thương mại thế giới”; Vũ
Thu Trang (2012), “Pháp luật về cơ quan quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá,
chống trợ cấp và tự vệ thương mại ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”…
Đối với giáo trình nghiên cứu liên quan pháp luật WTO về trợ cấp áp dụng cho
nước đang phát triển có thể kể đến: các giáo trình Luật thương mại quốc tế được giảng
dạy tại các trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia và các cơ sở
đào tạo khác. Nhóm sách tham khảo có thể kể đến: Trường Đại học Cần Thơ (2010),
Tóm tắt những vụ tranh chấp điển hình của WTO – Báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ
quan phúc thẩm từ năm 1995-2010.
Có nhiều bài viết nghiên cứu liên quan pháp luật WTO về trợ cấp áp dụng cho
thành viên đang phát triển, có thể kể đến: Nông Quốc Bình (2011), “Pháp luật về trợ
cấp trong Thương mại quốc tế lý luận và thực tiễn”, Đề tài khoa học cấp trường, Đại
học Luật Hà Nội, Hà Nội; Hoàng Thị Thu Hiền (2016), “Luật thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu 2016: Những đổi mới quan trọng theo yêu cầu hội nhập”; Phạm Quang
Minh (9/2012), “Trợ cấp nông nghiệp trong tổ chức TMTG và vấn đề áp dụng chính
sách pháp luật trợ cấp nông nghiệp tại Hoa kỳ và Liên minh châu Âu”; Montague
Lord, Nguyễn Trường Sơn (9/2005), “Việt Nam gia nhập WTO: phân tích thuế quan,
ngành và trợ cấp – Quyển 2: Trợ cấp và gia nhập WTO: tính tuân thủ quy định WTO
và tác động về mặt chính sách đối với Việt Nam”; Dương Đình Giám (2017), “Công
nghiệp Việt nam, một số kiến nghị về chính sách phát triển đến năm 2025 và tầm nhìn
đến năm 2035”, Vũ Thành Tự An (2017), “Xác định các ngành công nghiệp ưu tiên
trong chính sách công nghiệp quốc gia” và nhiều công trình nghiên cứu khác.
chính được Chính phủ hoặc cơ quan công quyền giao trách nhiệm hoặc chỉ đạo.. 106,
tr 78 Nhưng Thomas Weishing Guang không giải thích rõ hơn về yếu tố này. Hay
theo Raj Bhala (2001), ngoài bốn yếu tố cấu thành trên, yếu tố thứ năm cũng rất quan
trọng, đó là trợ cấp khiến cho người trợ cấp mất đi lợi ích đang lẽ phải được hưởng.
30, tr 643 Thực sự khi thực hiện hành vi trợ cấp “tạo lợi ích” cho một đối tượng thì
liệu yếu tố Chính phủ phải mất đi lợi ích của mình có cần thiết hay không, vẫn là một
vấn đề gây nhiều tranh cãi. Hay như nhóm tác giả Gustavo E. Luenco, Herrianclez de
10
Madrid (2006) đã dành một phần lớn trong chương IV của cuốn “Regulation of
subsidies and state Aids in WTO and EC law” để phân tích, dẫn chiếu các tranh chấp
liên quan đến các yếu tố cấu thành trợ cấp.
Trong các nghiên cứu ở Việt Nam, hầu hết các tài liệu chưa nghiên cứu sâu
khái niệm trợ cấp. Đối với các tài liệu nghiên cứu ở trình độ cơ bản như giáo trình,
các trang thông tin điện tử, do đối tượng người đọc là những người chưa có hiểu biết
về WTO cũng như trợ cấp nên khái niệm trợ cấp được đề cập ở mức độ cung cấp
thông tin. Khái niệm trợ cấp trong các tài liệu này thường bao gồm một định nghĩa
giản lược hoặc dẫn lại khái niệm trợ cấp tại Điều 1 - Hiệp định SCM. Điều này có thể
thấy tại giáo trình Luật thương mại quốc tế của Đại học Luật Hà Nội, giáo trình Luật
thương mại quốc tế của khoa luật Đại học quốc gia hay giáo trình song ngữ Luật
thương mại và kinh doanh quốc tế. Đối với các tài liệu nghiên cứu về trợ cấp ở mức
độ chuyên sâu hơn, như luận văn cao học, luận án tiến sỹ, đề tài nghiên cứu khoa
học… các tác giả cũng đã phân tích khái niệm trợ cấp. Theo Phạm Quang Minh
(2012), “Xây dựng pháp luật trợ cấp nông nghiệp Việt Nam theo các quy định của tổ
chức thương mại thế giới”, khái niệm trợ cấp nông nghiệp đã được đề cập nhưng chưa
phân tích chi tiết các yếu tố cấu thành trợ cấp. 18, tr 28 Trong một chuyên đề nghiên
cứu sau này, tác giả Đỗ Hồng Quyên (2011) đã tiếp cận khái niệm trợ cấp ở mức độ
sâu hơn. Tác giả đã phân tích ba yếu tố cấu thành trợ cấp: đóng góp tài chính, từ Chính
không thay thế hoặc loại trừ các thỏa thuận quốc tế khác. Đối với quan hệ giữa pháp
luật WTO và pháp luật quốc gia, tác giả tập trung nghiên cứu vào hai vấn đề: vị trí
của pháp luật quốc gia trong pháp luật WTO và vị trí của pháp luật WTO trong hệ
thống luật nội địa. Tác giả đã có những phân tích ngắn gọn, thuyết phục cho luận điểm
do mình đưa ra. Tuy nhiên, Peter Van Den Bossche đặt phần nghiên cứu này mở đầu
cho một cuốn sách về luật WTO. Do đó, phần nghiên cứu đưa ra khá ngắn gọn, cơ
bản và tác giả tập trung đưa ra những luận điểm về mối quan hệ xung đột của luật
WTO nói chung mà chưa đưa ra những phân tích riêng về mối quan hệ xung đột của
luật WTO về trợ cấp với các nguồn luật trợ cấp khác. Cùng hướng với xu hướng
nghiên cứu về pháp luật WTO nói chung, tác giả Raj Bhala (2001) cũng dành một
phần nhỏ trong chương IV để nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ chế GATT-WTO
và pháp luật của Hoa kỳ. 30, tr 176-184 Tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa cơ
chế GATT – WTO với pháp luật liên bang của Hoa kỳ và với pháp luật từng bang của
Hoa kỳ.
Xu hướng thứ hai, nghiên cứu nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ xung đột
của pháp luật trợ cấp, có thể kể đến các tác giả Gustavo E. Luenco, Herrianclez de
Madrid (2006) trong nghiên cứu “Quy định về trợ cấp và hỗ trợ nhà nước theo luật
WTO và luật Cộng đồng Châu Âu – Xung đột luật quốc tế”. 74 Tác giả đã đưa ra
các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các quy định về trợ cấp của WTO và Bộ quy tắc
hỗ trợ nhà nước của Cộng đồng Châu Âu (EC State aid Rules) tại phần IV của cuốn
sách. Trong đó tác giả đã chỉ ra những điểm khác biệt cơ bản giữa quy tắc hỗ trợ nhà
nước của Cộng đồng Châu Âu và Hiệp định SCM, và AOA.
12
1.2.2. Đánh giá những kết quả nghiên cứu về quy định của WTO về trợ cấp
Nhìn chung, các quy định của WTO về trợ cấp là nội dung cơ bản trong những
nghiên cứu về vấn đề trợ cấp nói chung với nhiều mức tiếp cận và phương pháp tiếp
cận khác nhau:
13
cận nghiên cứu pháp luật WTO về trợ cấp một cách tổng quát qua tất cả thời kỳ GATT
cho đến WTO có thể thấy trong nghiên cứu của các tác giả như Marh Benitah (2001),
Gustavo E. Luenco, Herrianclez de Madrid (2006).
Tác giả Malcolm Bosworth, Đỗ Trọng Khanh (9/2005) đã dành một phần trong
nghiên cứu để phân tích các quy định về trợ cấp của WTO theo hai nhóm, trợ cấp
công nghiệp, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và trợ cấp nông nghiệp.
23, tr 32-49 Đối với trợ cấp công nghiệp, các tác giả tiếp cận Hiệp định SCM thông
qua nghiên cứu một số quy định cơ bản về trợ cấp: khái niệm trợ cấp, trợ cấp bị cấm,
trợ cấp có thể bị kiện, các biện pháp đối kháng trợ cấp, các quy định đối xử đặc biệt
và khác biệt và các quy định khác. Đối với trợ cấp nông nghiệp, các tác giả tiếp cận
nghiên cứu các quy định của AOA đối với trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước
dành cho hàng nông sản. Nghiên cứu cũng đã thể hiện mức độ phân tích chuyên sâu
về mặt lý luận của một tham luận khoa học. Các tác giả mô tả pháp luật WTO về trợ
cấp một cách đơn giản và ngắn gọn, làm tiền đề nghiên cứu các nội dung khác.
Về trợ cấp nông nghiệp nói riêng, tác giả Phạm Quang Minh (2012) đã nghiên
cứu các quy định hiện hành của WTO về trợ cấp nông nghiệp tại chương 2 của luận
án. Theo đó, tác giả nghiên cứu lần lượt quy định về trợ cấp nông nghiệp trong các
Hiệp định: Hiệp định chung về thương mại và thuế quan - GATT 1994, Hiệp định
SCM và AOA. Trong đó phần nghiên cứu của tác giả về GATT 1994 và Hiệp định
SCM mang tính khái quát, làm tiền đề cho phần nghiên cứu về AOA. Tác giả đã
nghiên cứu về tiếp cận thị trường, hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu theo AOA.
Trong đó, tác giả cho rằng hỗ trợ trong nước là trợ cấp. Về trợ cấp xuất khẩu, tác giả
tiếp cận nghiên cứu chưa sâu và chưa chỉ rõ được sự khác nhau về quan điểm trợ cấp
xuất khẩu trong AOA và Hiệp định SCM. 28, tr 53-64
Tác giả Melaku Geboye Desta (2002) đã đưa ra một nghiên cứu khá chi tiết.
Các quy định về trợ cấp xuất khẩu được tiếp cận tại phần II và hỗ trợ trong nước được
dành một phần lớn trong chương IV để phân tích và dẫn chiếu những tranh chấp liên
quan tới khái niệm trợ cấp, đã được nhận xét trong phần các nghiên cứu về khái niệm
trợ cấp. Thứ hai, nhóm tác giả đã nghiên cứu các quy định cấm trợ cấm đối với từng
loại: trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế xuất khẩu. Đối với trợ cấp xuất khẩu, các
tác giả phân tích rõ các yếu tố “de jure” và “de facto” và Phụ lục 1 của Hiệp định
SCM. Thứ ba, là phần nghiên cứu dành cho trợ cấp không thể đối kháng theo Điều 8
Hiệp định SCM. Và thứ tư, kết quả nghiên cứu dành cho trợ cấp có thể đối kháng theo
Điều 5 và Điều 6 của Hiệp định SCM. Các nghiên cứu đối với trợ cấp theo AOA được
thể hiện tại chương 5 của cuốn sách. Và chương 6, nhóm tác giả giới thiệu tranh chấp
“Hoa kỳ - Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài”, một tranh chấp điển hình liên quan đến
Hiệp định SCM. Từ góc độ nghiên cứu chung về pháp luật hiện hành của WTO về trợ
cấp, nghiên cứu của nhóm tác giả Gustavo E. Luenco, Herrianclez de Madrid là một
nghiên cứu khá chi tiết và đầy đủ, giúp các nhà nghiên cứu sau có thể tham khảo, kế
thừa.
Về trợ cấp áp dụng với nước đang phát triển: Thực tế, không nhiều tác giả
nghiên cứu về khái niệm nước đang phát triển trong WTO. Trong luận án của mình,
tác giả Bùi Ngọc Anh (2008) đã dành một phần nghiên cứu về khái niệm nước đang
15
phát triển, khái niệm nền kinh tế chuyển đổi và sự đối xử khác biệt dành cho các thành
viên này. 57 Tuy nhiên do luận án nghiên cứu việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý
về trợ cấp của các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ tập trung bao cấp sang nền kinh
tế thị trường nên tác giả Bùi Ngọc Anh tập trung vào phân tích khái niệm nền kinh tế
chuyển đổi nhiều hơn là khái niệm nước đang phát triển. Marc Benitah (2001) cũng
đã dành một chương nghiên cứu về những bất cập trong các quy định đối xử đặc biệt
và khác biệt về trợ cấp, tuy nhiên Marc Benitah không đề cập đến khái niệm nước
đang phát triển. 81, tr 239 Và tại chương 21, Raj Bhala (2001) đưa ra nghiên cứu về
các nước đang phát triển và thương mại thế giới. Tác giả có giải thích về nguồn gốc
các tác giả đã hướng tới phân tích pháp luật trợ cấp của của các nền kinh tế chuyển
đổi trong các giai đoạn phát triển khác nhau của WTO, trong đó chú trọng tới các
thành viên: Trung Quốc, các nước Đông Âu, Campuchia, Nepal, Ả rập Saudi và
Tonga. 57
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2011) trong báo cáo khoa học “Pháp luật về trợ
cấp và thực tiễn áp dụng của Trung Quốc” đã đạt được những kết quả nghiên cứ nhất
định. Thứ nhất, tác giả đưa ra kết quả nghiên cứu về pháp luật trợ cấp của Trung Quốc.
Trong nội dung này, tác giả đã phân tích các hình thức trợ cấp và khuyến khích thương
mại nước ngoài, các quy định trợ cấp về thuế và các khoản hỗ trợ tài chính, lãi suất.
Thứ hai, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu về thực thi pháp luật về trợ cấp tại Trung
Quốc. Nghiên cứu đã đạt được những kết quả nhất định. 27, tr 163-179
Tác giả Phạm Quang Minh (2012) đã dành mục 2.2.2 để phân tích pháp luật
trợ cấp của một số nước và đưa ra kinh nghiệm cho Việt Nam. Tác giả đã lựa chọn
Hoa Kỳ, EU, Nhật bản, Trung Quốc và Thái Lan làm mẫu nghiên cứu. Tác giả đã
nghiên cứu pháp luật trợ cấp của các nước với góc tiếp cận khá rộng, bao gồm quy
định quốc gia về cắt giảm thuế quan, hạn ngạch thuế quan, trợ cấp xuất khẩu, hỗ trợ
trong nước, biện pháp vệ sinh vệ sinh dịch tễ… Điều này thể hiện quan điểm của tác
giả có sự đồng nhất giữa “trợ cấp” – “biện pháp bảo hộ mậu dịch”. 28, tr 72-101
Trong nhóm các tài liệu nước ngoài “Trade Remedies: Laws on dumping,
subsidies and safe guards in China” của tác giả Thomas Weishing Guang (2003) đã
đưa ra kết quả nghiên cứu về pháp luật chống trợ cấp của Trung Quốc, nghiên cứu đã
được đánh giá phần trên.
Về pháp luật về trợ cấp của Việt Nam
Thứ nhất, đánh giá nghiên cứu về thực trạng pháp luật về trợ cấp của Việt Nam
Thực trạng pháp luật Việt Nam về trợ cấp là phần nghiên cứu về hệ thống các
văn bản, quy định của Việt Nam điều chỉnh hai hoạt động: (1) hoạt động trợ cấp của
Chính phủ Việt Nam cho hàng hoá trong nước giai đoạn trước và sau khi gia nhập
WTO và (2) hoạt động chống trợ cấp đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam .
Phần nghiên cứu này nhằm mục đích: tổng hợp các văn bản pháp luật Việt Nam quy
định về trợ cấp, phân tích sự thay đổi các quy định về trợ cấp trong hai giai đoạn nêu
luật và hoạt động trợ cấp ở Việt Nam. Nghiên cứu tập trung vào một số nội dung quan
trọng về trợ cấp ở Việt Nam thời kỳ trước WTO và đưa ra một số đề xuất hỗ trợ kỹ
thuật cho Chính phủ. Cụ thể, liên quan đến các chương trình trợ cấp, các tác giả đã rà
soát và nghiên cứu các chương trình trợ cấp đang thực hiện của Việt Nam cho tới thời
điểm 8/2005, bao gồm các chương trình trợ cấp xuất khẩu, trợ cấp thay thế xuất khẩu
và trợ cấp sản xuất. 23, tr 21-32 Đồng thời, các tác giả cũng đánh giá tính tuân thủ
của các chương trình trợ cấp trước 2006 của Việt Nam với các quy định của WTO.
Theo đó, các tác giả đã liệt kê và phân tích các chương trình trợ cấp vi phạm quy định
của WTO, từ các chương trình trợ cấp thay thế nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu nông