ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------
NGÔ VĂN NAM
THỰC HIỆN QUY TRÌNH TRỒNG VÀ
CHĂM SÓC BẢO VỆ RỪNG SAU TRỒNG TẠI ĐỘI SẢN XUẤT CÂY THỊ
THUỘC CÔNG TY LÂM NGHIỆP ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản Lý Tài Nguyên Rừng
Khoa
: Lâm Nghiệp
Khóa học
: 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
: 2014 - 2018
Giảng viên hướng dẫn : TS. Đàm Văn Vinh
Thái Nguyên, năm 2018
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là quá trình điều tra
trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan, chưa công bố trên tài liệu nào.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.
Thái Nguyên, tháng năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD
Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
TS. Đàm Văn Vinh
Ngô Văn Nam
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
iii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Hiện trạng dân số và lao động xã năm 2010 .................................. 21
Bảng 4.1. Khảo sát các yếu tố tự nhiên ........................................................... 31
Bảng 4.2: Các kỹ thuật trồng rừng và các nội dung chăm sóc bảo vệ rừng .. 32
Bảng 4.3: Dự tính chi phí trồng và chăm sóc, bảo vệ rừng năm thứ nhất ...... 34
Bảng 4.4. Tổng diện tích thiết kế trồng rừng tại đội sản xuất Cây Thị .......... 35
Bảng 4.5: Điều tra về tiêu chuẩn cây con xuất vườn: ..................................... 37
Bảng 4.6: Điều tra về sinh trưởng và phẩm chất của cây keo lai sau khi trồng .....40
Bảng 4.7: Điều tra về sinh trưởng và phẩm chất của cây keo lai sau khi trồng .....41
Bảng 4.8: Điều tra về sinh trưởng và phẩm chất của cây keo lai sau khi trồng .....42
Bảng 4.9: Kết quả đánh giá tỷ lệ sống sau trồng rừng (3 tháng) theo dự án xã
Cây Thị năm 2017......................................................................... 43
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Xử lý thực bì: .................................................................................. 35
Hình 4.2: Cuốc hố ........................................................................................... 36
Hình 4.3: Đo chiều cao đường kính cây con xuất vườn. ................................ 38
Hình 4.3: Tiến hành trồng ............................................................................... 38
Hình 4.4: Tiến hành chăm sóc: ....................................................................... 39
v
2.1.3. Khí hậu - thủy văn ................................................................................. 20
2.1.4. Thổ nhưỡng ........................................................................................... 20
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN.....26
3.1. Đối tượng, thời gian và phạm vi thực hiện .............................................. 26
3.2. Nội dung ................................................................................................... 26
3.3. Phương pháp và các bước thực hiện ........................................................ 26
3.3.1. Kế thừa có chọn lọc............................................................................... 26
3.3.2. Thực hiện quy trình sản xuất................................................................. 27
3. Trồng rừng................................................................................................... 27
PHẦN 4. KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ THẢO LUẬN .............................. 31
4.1. Điều tra, khảo sát hiện trạng, thực hiện quy trình trông và chăm sóc bảo
vệ rừng sau trồng tại đội sản xuất Cây Thị thuộc Công Ty Lâm Nghiệp Đồng
Hỷ - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên. ...................................................... 31
4.1.1 Điều tra, khảo sát hiện trạng. ................................................................. 31
4.1.2. Các biện pháp kỹ thuật trồng rừng. ....................................................... 32
4.1.3. Dự tính chi phí trồng rừng và chăm sóc rừng năm đầu ........................ 33
4.2 Thực hiện quy trình trồng và chăm sóc bảo vệ sau khi trồng. .................. 35
4.2.1. Xử lý thực bì ......................................................................................... 35
4.2.2. Kỹ thuật làm đất .................................................................................... 36
4.2.3. Kỹ thuật trồng ....................................................................................... 36
4.3. Theo dõi sinh trưởng và chất lượng cây sau khi trồng ............................ 40
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................... 44
5.1. Kết luận .................................................................................................... 44
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 46
1
độ tăng trưởng bình quân hàng năm của kinh ngạch xuất khẩu gỗ vào khoảng
trên 30%/năm. Con số này cho thấy nhu cầu nguồn nguyên liệu đầu vào cho
các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tăng mạnh từ nay đến năm 2010 và đến năm
2020. Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, nhu cầu gỗ cho xây dựng và
các nhu cầu khác trên thị trường nội địa cũng được dự báo sẽ liên tục tăng. Để
đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng của xã hội, ngành Lâm nghiệp đã
đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp lựa chọn các loài cây mọc nhanh
và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh để nâng cao năng suất và chất
lượng rừng trồng.
Một trong những loài cây nguyên liệu có khả năng sinh trưởng nhanh
được đề cập đến đó là cây Keo. Cây Keo là 1 trong 48 loài cây trồng chính để
trồng rừng sản xuất đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận tại Quyết
định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/03/2005. Keo không chỉ là giống có ưu
thế sinh trưởng nhanh, biên độ sinh thái rộng, có khả năng thích ứng với
nhiều loại đất mà còn có khả năng cải tạo đất, cải thiện môi trường sinh thái.
Gỗ Keo được sử dụng làm ván sàn, ván dăm, trụ mỏ và đặc biệt hơn cả là
được sử dụng nhiều trong công nghiệp giấy. Tại tỉnh Thái Nguyên, trong
những năm qua công tác trồng rừng đã được các cấp chính quyền và người
dân quan tâm nhiều hơn, diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể, đặc biệt là
rừng sản xuất. Theo báo cáo về diễn biến tài nguyên rừng của tỉnh Thái
Nguyên, năm 2007 toàn tỉnh có 164.355 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là
100.509 ha, rừng trồng 63.846 ha, tổng trữ lượng gỗ trên 3 triệu m3 và có
khoảng 24 triệu cây tre nứa. Hàng năm toàn tỉnh khai thác khoảng 20.000 m 3
gỗ và 650 tấn tre nứa, lượng lâm sản này một phần phục vụ cho nhu cầu sử
dụng của người dân trong vùng, phần còn lại cung cấp nguyên liệu cho
Công ty ván dăm Thái Nguyên và Nhà máy giấy Bãi Bằng. Trong những năm
gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã có chủ trương đẩy mạnh công tác trồng rừng
sản xuất và loài cây trồng chính được lựa chọn là cây Keo lai và Keo tai
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Để nâng cao năng suất và duy trì tính ổn định, bền vững của rừng trồng
kinh tế, các nhà khoa học nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu về
điều kiện lập địa, tuyển chọn tập đoàn cây trồng sao cho phù hợp với điều
kiện lập địa, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, phân vùng sinh thái, tăng trưởng
và sản lượng, sâu bệnh,… Có thể nói cho đến nay cơ sở khoa học cho việc
phát triển rừng trồng sản xuất ở các nước phát triển đã được hoàn thiện, tương
đối ổn định và đi vào phục vụ sản xuất lâm nghiệp trong nhiều năm qua.
2.1.2 Những nghiên cứu về cây Keo lai (Acacia mangium xAcacia
auriculiformis)
Keo lai là tên gọi tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng
(Acasimangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Giống Keo lai tự
nhiên này được phát hiện đầu tiên bởi Messir Herbern và Shim vào năm 1972
trong số các cây Keo tai tượng và Keo lá tràm trồng ven đường ở Sook
Telupid thuộc bang Sabah, Malaysia. Năm 1976, M.Tham đã kết luận thông
qua việc thụ phấn chéo giữa Keo Tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo lai
có sức sinh trưởng nhanh hơn giống bố mẹ. Đến tháng 7 năm 1978, kết luận
trên cũng đã được Pedley xác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại
phòng tiêu bản thực vật ở Queensland - Australia (dẫn theo Lê Đình Khả,
1999) [12]. Ngoài ra, Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở vùng Balamuk và
Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Gun và cộng sự, 1987,
Griffin, 1988), ở một số nơi khác tại Sabah (Rufelds, 1987) và Ulu Kukut
(Darus và Rasip, 1989) của Malaysia, ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của
Thái Lan (Kijkar, 1992). Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá Số
6
2.1.4.Những nghiên cứu về lâm sinh
Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ
thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đặc biệt là
ở những nơi đất xấu. Trên thế giới, việc áp dụng bón phân cho rừng trồng bắt
đầu từ những năm 1950. Trong vòng 1 thập kỷ, diện tích rừng được bón phân
đã tăng lên 100.000 ha/năm ở Nhật Bản, Thụy Điển và Phần Lan. Đến năm
1980, diện tích rừng được bón phân trên thế giới đã đạt gần 10 triệu ha (dẫn
theo Đinh Văn Quang) .
Về vấn đề này đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm và đi sâu
nghiên cứu, điển hình là công trình nghiên cứu của (Mello 1976) [21] ở
Brazin, tác giả cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công
thức không bón phân, nhưng nếu bón phân NPK thì năng suất rừng trồng có
thể tăng lên trên 50%.
Mật độ trồng rừng ban đầu cũng là một trong những biện pháp kỹ thuật
lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng. Đối với mỗi
dạng lập địa, mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có cách
sắp xếp, bố trí mật độ khác nhau.
Tại Colombia, (Bolstand và cộng sự 1988) [18] cũng đã tìm thấy một
vài loại phân có phản ứng tích cực đối với rừng trồng Thông P. caribeae, đó là
Potassium, Phosphate, Boron và Magnesium. Tại Cu Ba, cũng với đối tượng
là rừng Thông P. caribeae, khi nghiên cứu các công thức bón phân cho đối
tượng này (Herrero và cộng sự 1988) [20] đã kết luận bón phân Phosphate sau
13 năm trồng nâng cao sản lượng rừng từ 56m3/ha lên 69m3/ha. Từ những
kết quả nghiên cứu trên, một lần nữa đã khẳng định bón phân cho rừng trồng
mang lại những hiệu quả rõ rệt: nâng cao tỷ lệ sống, tăng sức đề kháng của
cây đối với các điều kiện bất lợi của môi trường, tăng sinh trưởng, nâng cao
K (1996), vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các khu rừng trồng kinh tế
8
có thể giải quyết được thông qua những kế hoạch xây dựng và phát triển các
nhà máy chế biến lâm sản với quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công
cụ chính sách “đòn bẩy” nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào
phát triển rừng. Thom R. Waggener (2000) để phát triển trồng rừng sản xuất
đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự đầu tư tập trung về kinh tế và kỹ thuật còn
phải chú ý nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị
trường. Nhận biết được 2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với
quá trình sản xuất này nên tại các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Canada,...
nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào
thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Trên quan điểm “thị trường
là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích
rằng chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi
thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc
đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá.
Trên quan điểm về sở hữu rừng trồng có thể phân theo các hình thức sở
hữu sau:
- Sở hữu công cộng hay sở hữu Nhà nước.
- Sở hữu tư nhân: Rừng trồng thuộc hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã,
doanh nghiệp và các nhà máy chế biến gỗ.
- Sở hữu tập thể: Rừng trồng thuộc các tổ chức xã hội.
Liu Jinlong dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong
những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát
triển trồng rừng như:
- Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá.
- Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước.
khoa học về xây dựng và phát triển rừng cũng rất được quan tâm. Các chương
trình, dự án trồng rừng với quy mô lớn được thực hiện trên khắp cả nước với
nhiều mô hình rừng trồng sản xuất được thiết lập, nhiều biện pháp kỹ thuật đã
10
được đúc rút xây dựng thành quy trình, quy phạm, phục vụ đắc lực cho công
tác trồng rừng trong đó có trồng rừng sản xuất. Có thể tóm tắt và đúc rút từ
kết quả một số công trình như sau:
2.2.1 Đặc điểm cây Keo lai
Ở Việt Nam, cây Keo lai tự nhiên được Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn
và các cộng sự thuộc Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (RCFTI) phát
hiện đầu tiên tại Ba Vì (Hà Tây cũ) và vùng Đông Nam Bộ vào năm 1992.
Tiếp theo đó, từ năm 1993 cho đến nay Lê Đình Khả và các cộng sự đã tiến
hành nghiên cứu về cải thiện giống cây Keo lai, đồng thời đưa vào khảo
nghiệm một số dòng Keo lai có năng suất cao tại Ba Vì (Hà Tây cũ) được ký
hiệu là BV; Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh cũng chọn lọc một số
dòng được ký hiệu là KL. (Lê Đình Khả và các cộng sự 1997, 1999. 2006)
[11, 12] khi nghiên cứu về các đặc trưng hình thái và ưu thế lai của Keo lai đã
kết luận Keo lai có tỷ trọng gỗ và nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa hai
giống bố mẹ. Keo lai có ưu thế lai về sinh trưởng so với Keo tai tượng và Keo
lá tràm, điều tra sinh trưởng tại rừng trồng khảo nghiệm 4,5 năm tuổi ở Ba Vì
(Hà Tây cũ) cho thấy Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng từ 1,2 1,6 lần về chiều cao và từ 1,3 - 1,8 lần về đường kính, gấp 2 lần về thể tích.
Tại Sông Mây (Đồng Nai) ở rừng trồng sau 3 năm tuổi Keo lai sinh trưởng
nhanh hơn Keo lá tràm 1,3 lần về chiều cao; 1,5 lần về đường kính. Một số
dòng vừa có sinh trưởng nhanh vừa có các chỉ tiêu chất lượng tốt đã được
công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật là các dòng BV5,
BV10, BV16, BV32, BV33. Khi nghiên cứu sự thoái hóa và phân ly của cây
Keo lai, (Lê Đình Khả, 1997) [11] đã khẳng định: Không nên dùng hạt của
nhanh có thể tăng từ 50-100% sản lượng gỗ so với giống bố mẹ. Vì vậy, cải
thiện giống cây rừng là nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ
và các sản phẩm mong muốn khác. Năm 1993, Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ
Nông nghiệp và PTNT) đã có Quyết định ban hành "Qui phạm xây dựng rừng
12
giống và vườn giống", "Qui phạm xây dựng rừng giống chuyển hóa", trong đó
qui định rõ các tiêu chuẩn về chọn lọc xuất xứ giống và cây giống cũng như
các phương thức khảo nghiệm giống và xây dựng rừng giống, vườn giống
(dẫn theo Lê Đình Khả, 1997) [11].
Trong những năm gần đây, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc
Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Trung tâm Phát triển lâm nghiệp Phù
Ninh thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam cùng một số cơ sở nghiên cứu lâm
nghiệp các tỉnh đã nghiên cứu thành công lai giống nhân tạo cho các loài Keo,
Bạch đàn và Thông (Lê Đình Khả, 1999) [12]. Trong khoảng hơn 10 năm gần
đây, công tác nghiên cứu cải thiện giống đã đạt được những thành tựu đáng
kể. Từ khảo nghiệm hàng chục giống Keo lai đã có 4 dòng có năng suất cao
và thích hợp với nhiều vùng sinh thái đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT
công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia là BV10; BV16; BV32;
BV33 (Lê Đình Khả, 1999)[12]. Gần đây một số dòng khác cũng đã được Bộ
Nông nghiệp và PTNT công nhận giống tiến bộ kỹ thuật là BV71; BV73;
BV75; TB3; TB5; TB6; TB12; BT1; BT7; BT11; KL2; KL20; KLTA3 (Lê
Đình Khả, 1999)[12]. Lai giống nhân tạo giữa các cây trội đã được chọn lọc
từ các xuất xứ có triển vọng nhất của Keo tai tượng và Keo lá tràm cùng một
số dòng Keo lai tự nhiên như BV10, BV16, BV32, BV33 đã được thực hiện
trong các năm 1997-1999 tại Ba Vì (Hà Tây cũ), từ thụ phấn có kiểm soát đã
thu được 10 tổ hợp lai đầu tiên. Những tổ hợp lai này có sinh trưởng tương
đối nhanh, có thân cây thẳng, cành nhánh nhỏ, ngọn phát triển tốt, đây chính
thời gian 40 tháng.
Mai Đình Hồng (2002) [9] nghiên cứu sinh trưởng của các dòng Bạch
đàn chọn lọc PN2, PN14 trong trồng rừng sản xuất, phục vụ nguyên liệu giấy
vùng trung tâm, đã thông báo kết quả sinh trưởng của bạch đàn urophylla ở
14
các lập địa khác nhau rất khác nhau, trữ lượng cây đứng sau sáu năm ở hai Số
hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 15 khu vực vạn xuân
thuộc Huyện Tam Nông Phú Thọ là 123 m3 /ha và khu vực Huyện Đoan
Hùng, Phú Thọ là 155m3 /ha. Sinh trưởng ở vùng trồng khác nhau cũng khác
nhau rất lớn, rừng trồng sau 3 năm tuổi ở vùng Hữu Lũng - Lạng Sơn là 104
m3 /ha, ở Đoan Hùng, Phú Thọ là 75 m3 /ha, còn ở Vạn xuân chỉ là 66m3 /ha.
Khi phân tích kinh tế rừng trồng thâm canh, tác giả cho rằng vay vốn để trồng
rừng nguyên liệu công nghiệp với lãi suất 0,54% trên tháng, thì tiền lãi vay
phải trả là 6.273.000 đồng/chu kỳ 8 năm, khi khai thác rừng đạt 89 m3 gỗ
thương phẩm/8 năm thì hoà vốn, nếu năng suất đạt 130 m3 gỗ thương phẩm
(tương ứng 160 m3 trữ lượng cây đứng, tức là tăng trưởng bình quân 20 m3
/ha/năm) thì có lãi 8.100.000 đồng/ha. Chính phủ chỉ đạo nhà máy phải gắn
chặt với vùng nguyên liệu để giá mua nguyên liệu cho người sản xuất được
cao hơn. Nếu giá cây nguyên liệu giấy được cải thiện thì hiệu quả rừng trồng
còn cao hơn nữa.
Đoàn Thị Mai (1997) [13 ] đã đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường vì
mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất canh tác
trong lâm nghiệp và vùng nguyên liệu giấy. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
năng suất rừng trồng công nghiệp và lập địa gây trồng có quan hệ mật thiết
với nhau. Tác giả đã dựa vào độ dốc, thực bì đặc trưng và độ sâu tầng đất để
phân dạng lập địa trồng rừng keo tai tượng ở vùng trung tâm thành 5 dạng,
đánh giá sinh trưởng của keo tai tượng, 8 tuổi, mật độ từ 930 - 1100 cây /ha
năng sinh trưởng của thực vật rừng với các yếu tố của môi trường thông qua
khí hậu, địa hình, đất đai. Xác định lập địa nghĩa là tìm hiểu các yếu tố ngoại
cảnh ảnh hưởng và quyết định tới sự hình thành các kiểu quần thể thực vật
khác nhau và năng suất sinh trưởng của chúng (Ngô Quang Đê và cộng sự,
2001) [3]. Đề cập đến vấn đề này, tại Việt Nam đã có khá nhiều các công
trình nghiên cứu, điển hình là các công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và
16
cộng sự (1994), khi đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông
Nam Bộ, các tác giả đã căn cứ vào 3 nội dung cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau đó là đơn vị sử dụng đất, tiềm năng sản xuất của đất và độ thích hợp
của cây trồng. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng vùng Đông Nam Bộ có tiềm
năng sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khá lớn, diện tích đất thích hợp để phát
triển các loài cây lâm nghiệp chiếm từ 70-80%, đặc biệt là các loài cây cung
cấp gỗ nguyên liệu công nghiệp như một số loài Bạch đàn và Keo. Khi nghiên
cứu phương pháp đánh giá về sản lượng rừng trồng Keo lai ở vùng Đông
Nam Bộ, (Phạm Thế Dũng và Hồ Văn Phúc 2004) [2] đã chỉ ra rằng Keo lai
cho năng suất khác nhau trên các điều kiện lập địa khác nhau.
Trần Công Quân (2012) [14] nghiên cứu về một số cơ sở khoa học
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng nguyên liệu bằng Keo lai và Bạch
đàn tại hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Với hai phương pháp phân chia lập
địa hương pháp dựa vào 6 yếu tố lập địa (Kiểu khí hậu, Dạng khí hậu, dạng
ẩm lập địa, dạng địa hình – địa thế, dạng đất và nền vật chất tạo đất, trạng thái
thực vật) đã phân chia được trên địa bàn nghiên cứu thành các dạng, nhóm lập
địa cụ thể. Phương pháp dựa trên 4 yếu tố chủ đạo (loại đất – đá mẹ; độ dốc;
độ dày tầng đất – tỷ lệ đá lẫn và thực vật chỉ thị). Kết quả của nghiên cứu cho
thấy trên địa bàn nghiên cứu có hai loại dạng lập địa chủ yếu là: FsII2a và
FSII2b thuộc nhóm dạng lập địa C1 và C2 phù hợp với trồng Keo lai và Bạch
đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp các chính
sách về đầu tư, tín dụng như luật Khuyến khích đầu tư trong nước, nghị định
43/1999/NĐ-CP, nghị định 50/1999/NĐ-CP, tín dụng ưu đãi, tín dụng thương
mại, chính sách thuế, chính sách hưởng lợi... Các chính sách trên đã có tác
động mạnh tới phát triển sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là trồng rừng sản xuất.
Nhìn chung, những nghiên cứu về kinh tế và chính sách phát triển trồng
rừng sản xuất ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã được quan tâm nhiều
hơn, song cũng mới chỉ tập trung vào một số vấn đề như: phân tích và đánh