ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LƯU THỊ LAN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
CHO HỌC SINH LỚP 9
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LƯU THỊ LAN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
CHO HỌC SINH LỚP 9
Ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Văn - Tiếng Việt
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Thủy
THÁI NGUYÊN - 2018
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ .................................................................................. v
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ....................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................ 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 4
5. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 4
6. Giả thuyết khoa học của đề tài .................................................................................. 5
7. Cấu trúc đề tài ........................................................................................................... 5
NỘI DUNG .................................................................................................................. 6
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............................... 6
1.1.
Cơ sở lí luận ....................................................................................................... 6
1.1.1. Văn bản nghị luận .............................................................................................. 6
1.1.2. Các năng lực tạo lập văn bản nghị luận ............................................................. 9
1.1.3. Bài tập và hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận
cho HS lớp 9 .................................................................................................... 12
1.1.4. Đặc điểm năng lực nhận thức của HS lớp 9 .................................................... 14
1.2.
Đề xuất hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn nghị luận cho
HS lớp 9 ........................................................................................................... 32
2.3.1. Bài tập tìm hiểu đề ........................................................................................... 32
2.3.2. Bài tập tìm ý ..................................................................................................... 39
2.3.3. Bài tập lập dàn ý .............................................................................................. 56
2.3.4. Bài tập dựng đoạn ............................................................................................ 76
2.3.5. Đọc lại và sửa chữa .......................................................................................... 81
2.4.
Phương hướng vận dụng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập
văn bản nghị luận cho HS lớp 9 THCS............................................................ 87
2.4.1. Vận dụng trong bài đọc - hiểu văn bản ............................................................ 87
2.4.2. Vận dụng trong các bài học lí thuyết về văn bản nghị luận ............................. 90
2.4.3. Vận dụng trong các tiết thực hành làm văn ..................................................... 93
2.4.4. Vận dụng trong kiểm tra đánh giá ................................................................... 94
2.4.5. Vận dụng trong việc hỗ trợ HS tự học ở nhà ................................................... 99
Tiểu kết ..................................................................................................................... 104
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .............................................................. 105
3.1.
Mục đích và yêu cầu thực nghiệm ................................................................. 105
3.2.
Đối tượng, thời gian và địa bàn thực nghiệm ................................................ 105
3.3.
TỪ, NGỮ VIẾT TẮT
STT
TỪ, NGỮ ĐẦY ĐỦ
1
GD-ĐT
Giáo dục đào tạo
2
GV
Giáo viên
3
HS
Học sinh
4
NDDH
Nội dung dạy học
10
THCS
Trung học cơ sở
iv
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng:
Bảng 2.1. Khảo sát các lỗi HS hay mắc phải trong bài làm văn nghị luận.................. 82
Bảng 3.1. Kết quả bài tập: Tìm hiểu đề......................................................................107
Bảng 3.2. Kết quả bài tập: Tìm ý ...............................................................................107
Bảng 3.3. Kết quả các bài tập: Dựng đoạn ................................................................ 108
Bảng 3.4. Kết quả bài tập: Lập dàn ý ........................................................................108
Bảng 3.5. Kết quả kiểm tra ở các lớp thực nghiệm với các lớp đối chứng ...............109
Bảng 3.6. Kết quả điểm bài làm văn ở các lớp thực nghiệm và các lớp đối chứng ........110
Biểu đồ:
Biểu đồ 3.1. So sánh kết quả kiểm tra của lớp thực nghiệm với lớp đối chứng. .......109
Biểu đồ 3.2. So sánh kết quả bài làm văn của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. ...110
v
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Thành tựu khoa học và công nghệ đổi mới rất nhanh chóng. Nhà trường
phổ thông không chỉ trang bị cho HS những kiến thức đã có của nhân loại mà còn
bồi dưỡng, hình thành ở HS tính năng động, tư duy sáng tạo và năng lực thực tiễn.
đoạn văn nghị luận và cách viết... Có hệ thống bài tập thực hành sẽ phát huy được
tính tích cực chủ động của HS, phù hợp với quan điểm dạy học mới hiện nay.
1
Từ những lí do trên và thực tế giảng dạy, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài
“Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho
HS lớp 9”.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu văn nghị luận
Văn nghị luận ở nước ta có từ lâu đời và có giá trị to lớn gắn liền với lịch sử,
chính trị và văn học. Ở thời kì Trung đại văn học nghị luận được tồn tại dưới các
dạng nghị luận cổ có nguồn gốc Trung Hoa: Chiếu, Biểu, Cáo, Hịch... Về nội dung
đều là các việc quan trọng, to lớn có sức ảnh hưởng đến quốc gia, xã tắc; Về nghệ
thuật mang văn phong chính luận, ngôn từ sắc bén, trạng trọng, lập luận chặt chẽ giàu
sức thuyết phục... Có thể kể từ Chiếu dời đô (1010) của Lí Công Uẩn; Hịch tướng sĩ
(1285) của Trần Quốc Tuấn; Đại cáo bình Ngô (1428) của Nguyễn Trãi; Trích diễm
thi tập (1497) của Hoàng Đức Lương; Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên
hiệu Đại Bảo thứ ba (Bài kí khắc bia năm 1484) của Thân Nhân Trung; Chiếu cầu
hiền (1788) của Ngô Thì Nhậm;... Ở thế kỉ XX văn nghị luận càng phát triển mạnh
mẽ với tên tuổi các nhà chính luận xuất sắc với những áng văn nghị luận bất hủ, tiêu
biểu là Hồ Chí Minh với các tác phẩm chính luận: Bản án chế độ thực dân (19251926), Tuyên ngôn độc lập (1945). Bên cạnh đó là các nhà chính luận như Phan Bội
Châu với tác phẩm “Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư”; Phan Châu Trinh với các tác
phẩm: Đạo đức và luân lí đông tây; Đầu Pháp chính phủ thư (Gửi toàn quyền Beau
sau khi ông đi Nhật về); Huỳnh Thúc Kháng: Bài phú Danh sơn Lương Ngọc; Ngô
Đức Kế: Luận về chánh học và tà thuyết (Đăng trên báo Hữu Thanh, tháng 9, năm
1924)... và các nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn như Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm
Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp... cùng biết bao nhà văn viết văn nghị luận nổi tiếng sau
này như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh... Văn nghị luận được đề cập từ lâu trong
này, cuốn sách của TS. Mai Thị Kiều Phượng đã thuyết phục được người đọc bởi
những luận điểm, luận cứ và luận chứng được đưa ra một cách có hệ thống, cả từ hai
hướng tiếp cận là thực tiễn và lý luận. Là một cuốn giáo trình bộ môn, đồng thời là
một công trình nghiên cứu khoa học, Giáo trình phương pháp dạy và học làm văn đã
đem đến cho người dạy và học môn làm văn ở cấp THCS những kiến thứ mới mà bản
thân tác giả đã rút ra được từ quá trình nghiên cứu và giảng dạy văn học của mình. Và
đó chính là những đóng góp khoa học và thực tiễn của tác giả.
Tuy nhiên các tác giả mới chỉ đưa ra các phương pháp dạy và học văn nói
chung và văn nghị luận nói riêng chứ chưa có một hệ thống bài tập để phát triển từng
kĩ năng (năng lực) cụ thể trong tạo lập văn bản nghị luận ở THCS.
2.2. Hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9
Có thể nói rằng hệ thống bài tập làm văn đã xuất hiện trong các SGK từ khá
lâu, tất cả các SGK làm văn đều có bài tập làm văn. Tuy nhiên việc nghiên cứu và
xây dựng các hệ thống bài tập bổ sung, phát triển từng kĩ năng làm văn nghị luận
chưa được quan tâm nhiều. Để phát triển được năng lực làm văn nói chung và năng
lực làm văn nghị luận nói riêng cần phải thực hành nhiều, tức là cần có các hệ thống
bài tập phù hợp với từng kĩ năng làm văn.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy với đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện
kĩ năng lập ý cho HS THPT ở kiểu bài nghị luận xã hội” (2013) đã đi sâu vào hệ
thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý cho dạng văn nghị luận xã hội. Với đề tài này
tác đã đóng góp vào việc xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý ở THPT.
Đề tài Rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho HS trong dạy học bài “Thao
tác lập luận so sánh” (SGK, Ngữ văn 11) của tác giả Nguyễn Thị Dung và đề tài “Từ
thực tế viết văn nghị luận của HSTHPT xây dựng hệ thống bài tập sửa lỗi và rèn
luyện kĩ năng làm văn” của tác giả Nguyễn Thị Li Na đã đưa ra hệ thống bài tập làm
3
văn trong SGK Ngữ văn THPT. Đồng thời các tác giả đã đề xuất được hệ thống bài
Ngữ văn 9 THCS.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã áp dụng một số phương pháp
nghiên cứu chủ yếu sau:
4
5.1. Phương pháp hồi cứu tư liệu
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để nghiên cứu các tài liệu trước đó có
đề cập đến văn nghị luận, năng lực viết văn nghị luận, hệ thống bài tập sử dụng trong
dạy học văn nghị luận nhằm nghiên cứu lịch sử vấn đề và cơ sở lí luận của đề tài.
5.2. Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để phân tích, tổng hợp kết quả
nghiên cứu lí luận; phân tích, tổng hợp các kết quả khảo sát và thực nghiệm tại
trường THCS.
5.3. Phương pháp thống kê phân loại
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để thống kê các bài tập làm văn nghị
luận trong SGK Ngữ văn lớp 9 THCS. Thống kê, xử lí các số liệu thu thập được, sau
khi khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm.
5.4. Phương pháp điều tra khảo sát
Điều tra, trưng cầu ý kiến của GV và HS, khảo sát giáo án, dự giờ giáo viên
THCS để nắm bắt được thực trạng dạy và học phân môn Tập làm văn và cụ thể là văn
nghị luận. Khảo sát hệ thống bài tập trong SGK Ngữ văn lớp 9 THCS để đánh giá
thực trạng và xây dựng hệ thống bài tập phù hợp với sự phát triển năng lực tạo lập
văn bản nghị luận.
5.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong thực nghiệm dạy học. Chúng
tôi đã sử dung hệ thống các bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho
HS lớp 9 THCS tại các trường THCS Cao Đức - Bắc Ninh, trường THCS Vạn Ninh Bắc Ninh.
nghĩa về văn nghị luận như sau: “Văn nghị luận là một loại văn trong đó người viết
đưa ra những lí lẽ dẫn chứng về một vấn đề nào đấy và thống qua cách thức bàn luận
mà làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình va hành động theo
những điều mà mình đã đề xuất”. Hay trong cuốn Làm văn của Đỗ Ngọc Thống có
viết: “Văn nghị luận là một thể văn phản ánh rõ nhất đời sống tinh thần, tư tưởng, ý
chí và khát vọng của cả một dân tộc. Nói một cách khái quát văn nghị luận là một thể
loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách
trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống... nhưng lại được trình bày
bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc,
giàu sức thuyết phục...”.
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập 2 có trình bày định nghĩa về văn nghị
luận khá ngắn gọn, đơn giản như sau: “Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác
lập cho người đọc, người nghe một quan điểm, tư tưởng nào đó”.
Như vậy khái niệm về văn nghị luận được trình bày ở nhiều tài liệu khác nhau,
các tài liệu đều cố gắng định nghĩa một cách cụ thể, dễ hiểu để độc giả và người học
có thể hình dung rõ ràng về loại văn quan trọng này. Nhìn chung các tài liệu đều có
sự thống nhất như sau:
- Là loại văn trong đó người viết bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình về một
vấn đề nào đó và dùng các dẫn chứng, lí lẽ để thuyết phục người đọc, người nghe
đồng tình với quan điểm của mình.
- Văn nghị luận được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn
với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc và giàu sức thuyết phục.
6
1.1.1.2. Đặc trưng của văn bản nghị luận
Nếu như trong văn miêu tả mọi sự vật hiện tượng, con người đều được vẽ ra
bằng các chi tiết, hình ảnh cụ thể nhờ ngôn ngữ; trong văn tự là trình bày một chuỗi
các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện
phục, khẩu phục”, đối tượng giao tiếp hoàn toàn chấp nhận và bằng lòng với những lí
lẽ, dẫn chứng của người viết (người nói) đưa ra.
Ngoài việc chú ý đến cái lí là chủ yếu, người viết còn phải chú ý đến cái tình.
Tình cảm trong văn nghị luận là một phương diện rất quan trọng. Tình cảm và lí lẽ
7
bổ sung cho nhau. Lí lẽ vững chắc lại hội tụ được cái tình thì lập luận càng trở nên
mạnh mẽ.
* Tính công khai
Văn bản nghị luận được tạo lập nhằm trình bày quan điểm của người viết về
một vấn đề trong đời sống xã hội. Đối tượng chung của văn bản nghị luận là toàn thể
cộng đồng với nhiều gia tần khác nhau. Mục đích chung của văn nghị luận là thuyết
phục các đối tượng này cho nên cần công khai.
Tính công khai còn được thể hiện qua thái độ của người viết đối với vấn đề
đang được bàn tới. Tác phẩm nghị luận xuất hiện công khai trước cộng đồng, ở những
thời điểm và địa điểm khác nhau, thậm chí ở những thời điểm quyết định vận mệnh
của quốc gia, dân tộc. Do đó ngôn ngữ được sử dụng trong văn nghị luận không chấp
nhận cách nói tùy tiện của khẩu ngữ hay cách nói đa nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật.
Nó cũng không cho phép sử dụng tiếng địa phương, tiếng lóng... những điều này góp
phần thể hiện sự trang trọng của các tác phẩm nghị luận.
Về nội dung: “Trong văn nghị luận, những yếu tố về nội dung là những khái
niệm phán đoán hợp thành những lí lẽ, dẫn chứng, vận dụng những quy tắc của tư
duy logic, tạo nên những luận điểm, luận cứ, tuân theo những hình thức suy luận và
những quy luật cơ bản của tư duy logic” [2, tr.6]. Mỗi bài văn nghị luận cần phải có
một hệ thống luận điểm, hệ thống luận điểm này phải làm sao thể hiện được quan
điểm của người viết và tính lập luận chặt chẽ được cụ thể hóa bằng các luận cứ và
lập luận.
- Luận điểm: là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận.
Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phương pháp lập luận nhân quả,
phương pháp loại suy, phương pháp so sánh...
+ Những điểm lưu ý khi lập luận:
Lập luận phải chặt chẽ.
Lập luận phải sắc bén.
Lập luận phải nắm vững quan điểm lịch sử và có tính khoa học.
1.1.2. Các năng lực tạo lập văn bản nghị luận
1.1.2.1. Năng lực là gì?
Có rất nhiều định nghĩa về năng lực của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau, phần
lớn định nghĩa về năng lực của các tài liệu nước ngoài quy năng lực vào phạm trù khả
năng (ability, capacity, possibility). Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới
(OECD) quan niệm năng lực là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu
phức hợp trong một bối cảnh cụ thể”.
Hay theo cách hiểu thông thường: Năng lực là sự kết hợp giữa tư duy, kĩ năng
và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân tổ chức
để thực hiện thành công nhiệm vụ. Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ
phản ánh ức mức độ năng lực của người đó.
Ở Việt Nam nhiều tài liệu quy năng lực vào phạm trù khác nhau và được định
nghĩa theo nhiều cách khác nhau, bằng sự lựa chọn loại dấu hiệu khác nhau
- Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì năng lực được định
nghĩa: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện hoạt động
nào đó; phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một công
việc nào đó với chất lượng cao”.
- Theo cuốn giáo trình Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm thì “Năng lực
là tập hợp các tính chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo
thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”.
- Cuốn “Xây dựng chương trình GDPT theo hướng tiếp cận năng lực” của Đỗ
Ngọc Thống, năng lực được định nghĩa như sau: “Năng lực có thể định nghĩa như là
9
+ Năng lực hợp tác.
- Năng lực công cụ, bao gồm:
+ Năng lực tính toán.
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ.
+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ICT).
Trong định hướng phát triển CT sau 2015, môn Ngữ văn được coi là môn học
công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/cảm
thụ thẩm mỹ là các năng lực mang tính đặc thù của môn học; ngoài ra, năng lực giao
tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực
10
tự quản bản thân (là các năng lực chung) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác
định các nội dung dạy học của môn học.
Như vậy có thể thấy có rất nhiều định nghĩa về năng lực được đưa ra, nhưng
nhìn chung khái niệm “năng lực” có điểm chung sau đây: là sự kết hợp của nhiều kiến
thức, kĩ năng và thái độ phù hợp với một tình huống nào đó. Năng lực của người học
có thể chia ra làm hai loại: năng lực chung và năng lực riêng biệt. Năng lực chung là
năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã
hội. Năng lực chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh
vực hay môn học nào đó. Đây là dạng năng lực chuyên sâu, góp phần giúp mọi người
giải quyết các việc chuyên môn trong lĩnh vực công tác hẹp của mình.
1.1.2.2. Các năng lực tạo lập văn bản nghị luận
Làm văn là một trong ba phân môn của Ngữ văn. Nó góp phần hình thành và
phát triển một số năng lực chuyên biệt như năng lực tạo lập văn bản. Năng lực tạo lập
văn bản là khả năng sắp xếp, tổ chức những từ ngữ cấu trúc có tính liên kết, mạch lạc
các ý tưởng một cách logic và thống nhất. Hay đó còn là tri thức về hệ thống liên kết
các đơn vị ngôn ngữ thành các phát ngôn nói và viết.
Cuốn Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông của Nguyễn Quốc Siêu có nêu: “Quá
chỉnh bài viết của mình. Sau khi được sửa chữa, bài văn sẽ trau truốt, mạch lạc hơn.
Các năng lực này được cụ thể hóa thành các bước bài làm văn nghị luận:
- Bước 1: Tìm hiểu đề.
- Bước 2: Tìm ý.
- Bước 3: Lập dàn ý.
- Bước 4: Viết bài.
- Bước 5: Đọc lại và sửa chữa.
1.1.3. Bài tập và hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận
cho HS lớp 9
1.1.3.1. Khái niệm hệ thống bài tập
Xoay quanh khái niệm về bài tập cũng có những quan niệm, định nghĩa khác
nhau. Theo Nguyễn Hữu Châu: “Bài tập (Assigment) là những nhiệm vụ, công việc
được giao cho mỗi nhóm hoặc cá nhân trong khuôn khổ một chương trình học tập
nhằm rèn luyện kĩ năng hay tăng cường kiến thức cho người học” [2, tr.19]. Theo
định nghĩa này, bài tập được hiểu là dạng bài học mô phỏng lại kiến thức và thao tác
thực hành đã được giới thiệu nhằm mục đích vận dụng lí thuyết và rèn luyện kĩ năng
cần thiết theo chương trình môn học. Theo đó, bài tập được sử dụng chủ yếu trong
hoạt động thực hành mà nhiệm vụ giải bài tập là một hình thức thực hành. Tuy nhiên,
trước xu hướng đổi mới phương pháp dạy nhằm phát huy tính tích cực chủ động,
sáng tạo, tự giác trong nhận thức của người học thì phạm vi ứng dụng của bài tập
rộng hơn nhiều. Nhiều quan điểm hiện nay cho rằng bài tập không chỉ dùng với mục
đích giúp người học vận dụng những tri thức đã học, rèn luyện những kĩ năng tương
ứng mà còn giúp họ hình thành tri thức và phát triển các kĩ năng khác.
Khái niệm về “Hệ thống bài tập” trong cuốn “từ điển Từ và ngữ Hán Việt”.
Khái niệm “hệ thống” được hiểu là: tập hợp những bộ phận có liên liên hệ chặt chẽ
với nhau; thứ tự sắp xếp có quy củ; sự liên tục. Bản chất cốt lõi của khái niệm “hệ
thống” được thể hiện ở hai khía cạnh: thứ nhất là mối quan hệ nội tại có tính logic rất
rõ ràng của từng thành tố riêng biệt với những thành tố bộ phận cùng loại hay có cùng
chức năng. Như vậy, khái niệm “hệ thống” được hiểu là tập hợp những thành tố có
liên hệ, quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể mới. Và hệ thống
kĩ năng khác.
1.1.3.2. Yêu cầu của hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận
cho HS lớp 9
Yêu cầu của hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận cho
HS lớp 9 THCS đảm bảo những nguyên tắc chung của việc xây dựng hệ thống bài tập
trong dạy học Ngữ văn nói chung:
- Phù hợp với mục tiêu môn học.
- Đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng, tính phong phú.
- Phù hợp với thực tiễn dạy học Ngữ văn.
- Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học.
Đồng thời hệ thống bài tập tập trung vào việc phát triển năng lực riêng biệt
trong tạo lập văn bản nghị luận cho HS lớp 9 THCS.
13
1.1.4. Đặc điểm năng lực nhận thức của HS lớp 9
Lứa tuổi THCS (thiếu niên) là một giai đoạn chuyển tiếp trong sự phát triển
của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và trưởng thành. Đây là lứa tuổi có bước
nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần. Đặc biệt, HS lớp 9 là ở cuối giai đoạn thiếu niên để
chuyển lên một giai đoạn trưởng thành - thanh niên. Nên các em đang dần hoàn thiện
những đặc điểm tâm sinh lí, nhận thức và nhân cách.
1.1.4.1. Đặc điểm tâm lí của HS THCS
Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người
lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện
sống, hoạt động... của các em. Đặc biệt ở độ tuổi HS lớp 9, các em đang dần hình
thành và định hình tính người lớn. Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển
tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, giáo dục, sự ảnh hưởng của gia đình, điều kiện
sống của bản thân... tất cả đưa các em có tính độc lập và tự chủ hơn.
Đặc biệt trong giai đoạn này các em có sự biến đổi nhiều về sinh lí, rất dễ bị
cách có căn cứ. Các em không dễ tin như lúc nhỏ, các em biết vận dụng lí luận vào
thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinh nghiệm riêng của mình để
minh họa kiến thức.
Sự phát triển năng lực nhận thức của HS là rất cần thiết, bởi trong quá trình
phát triển các năng lực tạo lập văn nghị luận đòi hỏi HS việc phát triển tư suy logic,
nhận thức, khái quát hóa, nêu ý kiến bản thân... để giúp HS chủ động tiếp cận và giải
quyết vấn đề.
1.1.4.3. Nhu cầu phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận của HS lớp 9
Ở độ tuổi này các em đã bộc lộ sự tự nhận thức tầm quan trọng của việc học để
định hướng nghề nghiệp cho tương lai. Trong chương trình làm văn lớp 9, văn nghị
luận chiếm một phần vô cùng quan trọng (nó chiếm 16 tiết trong tổng số 24 tiết làm
văn của chương trình ngữ văn 9, tập 2). Đồng thời đây là giai đoạn các em bước vào
kì thi chuyển cấp quan trọng, văn nghị luận chiếm một vị trí quan trọng trong cấu trúc
đề thi.
Mặt khác nhiều em có nhu cầu, hứng thú tìm hiểu các vấn đề chính trị, xã hội,
kinh tế... mang tính thời sự, có tác động đến đời sống của người dân trong nước và
thế giới. Đồng thời các em muốn bày tỏ thái độ, quan điểm, nhận định, đánh giá và ý
kiến của mình và mong muốn được ghi nhận ý kiến, quan điểm của mình. Thực chất
các em đã tạo lập một văn bản nghị luận để trình bày, bày tỏ ý kiến, quan điểm của
mình, và thuyết phục người nghe theo ý kiến quan điểm của mình đưa ra. Như vậy
chính trong bản thân HS đã có sẵn nhu cầu tạo lập văn bản nghị luận.
Với nhu cầu phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị luận của HS, đòi hỏi HS
phải có các kiến thức về văn học, về xã hội, có chính kiến bản thân, tư duy tốt... để
giải quyết các vấn đề, phân biệt được tốt - xấu, đúng - sai từ đó hoàn thiện và làm
trong sáng bản thân, xây dựng một xã hội lành mạnh.
Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực tạo lập văn bản nghị cho HS lớp
9 THCS có ý nghĩa tích cực trong việc củng cố các kiến thức và kĩ năng của các em,
đã được học. Đồng thời hình thành thêm nhiều năng lực mới, rèn luyện một cách toàn
diện cho các em: khả năng giao tiếp tốt hơn thông qua việc phát biểu ý kiến bằng lời
văn rõ ràng, trôi chảy, nâng cao năng lực cảm thụ văn học, khả năng đánh giá các vấn
nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết.
Những yêu cầu về hình thức: bài viết phải có bố cục rõ ràng mạch lạc; luận
điểm rõ ràng, luận cứ xác thực, phép lập luận phù hợp; lời văn chính xác, sống động.
+ Phần luyện tập bao gồm hai bài tập nhằm giúp HS xác định được vấn đề
nghị luận trong đời sống và xã hội.
- Bài “Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống” [ngữ văn
9, tập 2, tr.22] có cấu trúc gồm hai phần: Đề bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng
đời sống; Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
+ Phần Đề bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống: đưa ra 3 đề văn
với hai câu hỏi:
Câu a: Các đề bài trên có điểm gì giống nhau? Chỉ ra những điểm giống
nhau đó.
Câu b: Mỗi em tự nghĩ một đề bài tương tự
+ Phần Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống bao
gồm: 4 bước:
Tìm hiểu đề và tìm ý
16