ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------
NGUYỄN VĂN LIỆU
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC MILK FEED TRONG
CHĂN NUÔI LỢN THỊT TẠI TRẠI LỢN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Chính qui
Chăn nuôi Thú y
Khoa:
Khóa học:
Chăn nuôi - Thú y
2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------
NGUYỄN VĂN LIỆU
Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm –
Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành
khóa học và thực tập tốt nghiệp đúng thời gian quy định.
Tập thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã
đào tạo tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến sự quan tâm và hướng
dẫn rất tận tình và đầy trách nhiệm của thầy hướng dẫn TS. Dương Ngọc
Dương và hướng dẫn TS. Trần Văn Thăng.
Nhân dịp này, tôi cũng xin bầy tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình,
bạn bè và đồng nghiệp đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên
tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng tôi xin chúc các thầy cô giáo mạnh khỏe, hạnh phúc, đạt nhiều
thành tích trong giảng dạy và nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, Ngày 09 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Văn Liệu
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................. 20
Bảng 3.2. Thành phần dinh dưỡng thức ăn thí nghiệm ................................. 21
Bảng 4.1. Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm (kg/con)(n=3) ................. 24
Bảng 4.2. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày)(n=3) ........ 26
Bảng 4.3. Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm (%)(n=3) ..................... 28
Bảng 4.4. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm.(n=3) ..... 29
Bảng 4.5. Tiêu tốn NLTĐ/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm.(n=3) ...... 30
TA
: Thức ăn
TTTA
: Tiêu tốn thức ăn
KL
: Khối lượng
NLTĐ
: Năng lượng trao đổi
TT
: Tiêu tốn
Nxb
: Nhà xuất bản
KHKT
: Khoa học kỹ thuật
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu...................................................................................... 23
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .......................................................................... 24
4.1. Khả năng sinh trưởng của lợn thí nghiệm .................................................................. 24
4.1.1. Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm ................................................................. 24
4.1.2. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm ............................................................... 26
4.1.3. Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm .............................................................. 27
vi
4.2. Khả năng chuyển hóa thức ăn của lợn thí nghiệm ..................................................... 29
4.2.1. Tiêu tốn thức ăn cho kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm .................................. 29
4.2.2. Tiêu tốn năng lượng trao đổi/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm ...................... 30
4.2.3. Tiêu tốn protein/ kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm ........................................ 31
4.2.4. Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng cho một lợn thí nghiệm ................................... 32
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ............................................................................... 34
5.1. Kết luận .................................................................................................................... 34
5.2. Đề nghị ..................................................................................................................... 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 35
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Những năm gần đây, men vi sinh đã được nhiều hộ chăn nuôi lợn sử
dụng để bổ sung vào thức ăn cho hiệu quả rất rõ rệt cả về mặt lợi nhuận cũng
như giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Được biết, chế phẩm sinh học Milk feed do Công ty sinh học của Hàn
Quốc sản xuất. Milk feed là chế phẩm sinh học được dùng làm thức ăn bổ
sung bao gồm hỗn hợp các vi sinh vật lên men hữu hiệu và sản phẩm phụ
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đưa ra những bằng chứng khoa
học và khuyến cáo thuyết phục cho người chăn nuôi trong việc sử dụng chế
phẩm sinh học Milk feed đối với chăn nuôi lợn thịt.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Sinh lý tiêu hóa của lợn và hệ vi sinh vật đường ruột của lợn
2.1.1.1. Sinh lý tiêu hóa của lợn
Lợn là loài gia súc ăn tạp với dạ dày trung gian giữa dạ dày kép và dạ
dày đơn.
Bộ máy tiêu hóa lợn bao gồm: miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non,
ruột già.
Ở miệng trong nước bọt tiết ra men amilaza để tiêu hóa tinh bột, vì lợn
ăn nhanh nuốt liên tục nên tiêu hóa ở miệng là rất ít mà chủ yếu là tẩm ướt
thức ăn rồi đẩy xuống dạ dày, ruột để tiêu hóa.
Dạ dày tiết ra dịch vị, các men tiêu hóa, khi thức ăn xuống dạ dày cơ
trơn nhào trộn thức ăn, cùng với đó là các men tiêu hóa ngấm vào thức ăn.
Men pepsinogen nhờ tác dụng của HCl trở thành pepsin hoạt động, men này
thủy phân protid thành axit amin và pepton để dạ dày và ruột non hấp thu. Ở
dạ dày lợn nhu động yếu nên thức ăn có hiện tượng xếp lớp, do vậy những
thức ăn bên ngoài được tiêu hóa trước. Hàm lượng HCl trong dịch vị tăng dần
lên để dần đạt tới sự ổn định gắn liền với sự hoàn chỉnh về cấu tạo và chức
năng của dạ dày lợn. Ở lợn con hàm lượng HCl là 0,005 - 0,15%, lợn 90 ngày
tuổi 0,2 - 0,25% còn ở lợn trưởng thành hàm lượng HCl là 0,35 - 0,4%
(Nguyễn Thiện và cs, 1998) [12].
Ruột non của lợn dài 14 - 18 m, tiêu hóa ở ruột non chủ yếu do tác
dụng của dịch tiêu hóa như: dịch tụy, dịch ruột, dịch mật và các dịch tiết ra từ
vật chết. Thành phần và số lượng vi sinh vật phụ thuộc vào loại thức ăn.
Có thể chia vi sinh vật thành 2 loại “vi sinh vật tùy tiện” thay đổi theo
tùy loại thức ăn và “vi sinh vật bắt buộc” là loại vi sinh vật thích nghi ngay
5
được với môi trường đường ruột, dạ dày trở thành loại định cư vĩnh viễn. Hệ
vi sinh vật bắt buộc bao gồm: Lactic, lactobacterium, acid ophilum, trực
khuẩn lactic, E. coli (trực khuẩn ruột già), trực khuẩn đường ruột. Trong
đường ruột và dạ dày là môi trường có độ ẩm, dinh dưỡng thuận tiện cho vi
sinh vật phát triển, tuy nhiên sự phát triển của chúng có giới hạn vì trong dạ
dày và ruột có chất kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn đường ruột và vi
khuẩn gây thối như mật, dịch vị và các tác động đối kháng của các vi khuẩn
khác. Theo Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng (1996) [2] trong hệ tiêu
hóa của động vật, hệ vi sinh vật luôn luôn ổn định, đảm bảo cân bằng cho hệ
tiêu hóa. Khi sự cân bằng bị phá vỡ thì những vi khuẩn có hại cạnh tranh phát
triển gây rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy (nhất là lợn con theo mẹ).
2.1.2. Sự sinh trưởng và các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng của lợn
- Khái niệm về sự sinh trưởng:
Sự sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự
tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và
toàn bộ cơ thể con vật. Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và sự
phân chia của các tế bào trong cơ thể (Trần Đình Miên và cs, 1975) [6]. Quá
trình phát triển của cơ thể là quá trình đồng hóa các vật chất dinh dưỡng, các
chất dinh dưỡng lấy vào cơ thể vừa là điều kiện để tế bào sinh sôi, nảy nở, vừa
là cơ sở để hình thành chất trong tế bào và giữa các tế bào, đó là protein, lipit,
gluxit và các chất khoáng… (Đàm Văn Tiệm và Lê Văn Thọ, 1992) [14].
- Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng:
Sinh trưởng tích lũy là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn bộ cơ
thể hay của từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm thực hiện phép cân, đo.
2013) [27].
Dưới đây là chức năng, cơ chế tác dụng của probiotics và những ảnh
hưởng của việc bổ sung probiotics trong chăn nuôi lợn:
7
2.1.3.1. Chức năng và cơ chế tác dụng của probiotics
Các nghiên cứu mới nhất cho thấy probiotics có chức năng kháng
khuẩn, chức năng hàng rào, chức năng miễn dịch và cũng là những tác nhân
có tính chất kháng lại dị ứng. Các chức năng này không chỉ thông qua bản
thân vi khuẩn mà còn thông qua ADN, chất tiết và vách tế bào vi khuẩn
(Sonia Michail, 2005) [49]. Chức năng hàng rào thể hiện ở chỗ probiotic kích
thích sự gắn kết chặt chẽ các tế bào biểu mô ruột, giảm các chất tiết gây viêm
của vi khuẩn bệnh, tăng sản sinh các phân tử bảo vệ như mucin và tăng sự sản
sinh enzyme của diềm bàn chải của biểu mô ruột. Chức năng miễn dịch thể
hiện ở chỗ probiotic làm giảm sản sinh các chất gây viêm, gây đáp ứng sản
sinh kháng thể của hệ miễn dịch ruột để ngăn ngừa bệnh cũng như đáp ứng
miễn dịch để ngăn ngừa dị ứng. Chức năng kháng khuẩn thực hiện theo các
cơ chế sau: Làm biến đổi hệ vi sinh vật đường ruột, giảm vi khuẩn bệnh, như
trong trường hợp bổ sung probiotic thuộc một số loài Lactobacilli và
Bifidobacter thì làm giảm số lượng Clostridia, Bacteroides và Escherichia
coli (E. coli). Sản sinh các chất kháng khuẩn như axit béo mạch ngắn, axit
lactic, hydrogen peroxit, pyroglutamate có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của
cả vi khuẩn gram âm và dương. Tranh giành sự bám dính vào niêm ruột với vi
khuẩn bệnh hoặc phong toả các thụ quan (receptor) của niêm mạc ruột, nhờ
vậy ngăn chặn vi khuẩn bệnh xâm lấn vào bên trong. Tranh giành chất dinh
dưỡng với vi khuẩn bệnh. Ví dụ, vi khuẩn probiotic có thể tiêu thụ các đường
đơn làm giảm tăng trưởng của Clostridium difficile, một loài vi khuẩn có tăng
trưởng phụ thuộc vào loại đường này.
vitamin nhóm B như B1, B2, B6, B12.
Trung hòa và khử độc tố trong đường ruột. Ảnh hưởng có lợi của
probiotics trong thức ăn là sự sản xuất các chất kháng khuẩn có tác dụng trung
hòa độc tố tiêu chảy của vi khuẩn E. coli.
Tăng khả năng miễn dịch: yếu tố được xác định có vai trò kích thích hệ
thống miễn dịch là thành phần của vách tế bào vi khuẩn (peptidoglycan). Sự
9
phân hủy peptidoglycan sẽ tạo ra chất muramin peptit có tác dụng kích thích
của đại thực bào. Saarela và cs (2000) [48] cho rằng khả năng bám vào niêm
mạc ruột của probiotics tạo nên sự tương tác giúp probiotics tiếp xúc với hệ
thống lympho đường ruột và hệ thống miễn dịch, nhờ đó thúc đẩy hiệu quả
miễn dịch và tạo nên sự ổn định hàng rào bảo vệ của ruột.
2.1.3.2. Ảnh hưởng của probiotics đến khả năng sinh trưởng của lợn
Trong chăn nuôi công nghiệp, sử dụng probiotics nhằm mục đích nâng
cao khả năng tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng của đường ruột, từ đó
nâng cao được năng suất và sức sản xuất của vật nuôi. Sự bổ sung các chủng
của vi khuẩn Bacillus cho kết quả là nâng cao khả năng sinh trưởng và hiệu
quả sử dụng thức ăn ở lợn con (Kyriakis và cs, 1999) [37] và lợn sinh trưởng
(Succi và cs, 1995) [51]. Davis và cs (2008) [24] báo cáo rằng bổ sung thêm
0,05% DFM (gồm B. lichenformis và B. subtilis; 1,47×108 CFU) đã nâng cao
được khả năng tăng khối lượng trung bình trên ngày và giảm tỷ lệ chết ở lợn
trong giai đoạn sinh trưởng và giai đoạn vỗ béo. Probiotic (không có vi khuẩn
E. coli; 50 ml của 9×1010 CFU/ml/ngày) được cho ăn với khẩu phần ăn có
hàm lượng protein thấp (17%) đã nâng cao được khả năng sinh trưởng của lợn
con bú sữa (Bhandari và cs, 2010) [20]. Malloa và cs (2010) [38] đã chứng
minh rằng bổ sung Enterococcus faecium (106 CFU/g) đã nâng cao khả năng
sinh trưởng (392 so với 443 g/ngày) và hệ số chuyển hóa thức ăn (1,74 so với
1,60 g thức ăn/g tăng khối lượng) của lợn sau cai sữa (28 ngày tuổi). Giang và
axít lactic và enzyme phân giải protein, giúp nâng cao sự tiêu hóa các chất
dinh dưỡng ở dạ dày ruột (Yu và cs, 2008) [60]. Lactobacilli có thể định cư
và gắn kết với lớp biểu mô của đường ruột và dạ dày hình thành nên màng
bảo vệ đối với những vi sinh vật gây bệnh, đồng thời điều khiển hệ thống
miễn dịch bằng cách kích thích những tế bào lymphocyte ở lớp biểu mô (Yu
và cs, 2008) [60]. Yu và cs (2008) [60] đã chứng minh rằng bổ sung L.
fermentum (5,8×107 CFU/g) vào thức ăn đã làm tăng tối đa tỷ lệ tiêu hóa
protein thô so với khẩu phần đối chứng. Meng và cs (2010) [56] báo cáo rằng
11
lợn sinh trưởng cho ăn probiotics (hỗn hợp bào tử Bacillus subtilis và nội bào
tử C. butyricum) thì tỷ lệ tiêu hóa năng lượng và protein thô cao hơn so với
lợn không được ăn probiotics ở các nghiệm thức đối chứng. Giang và cs
(2010b) [32] chứng minh rằng bổ sung hỗn hợp vi khuẩn axít lactic
(Enterococcus faecium 6H2, 3×108 CFU/g; Lactobacillus acidophilus C3,
4×106 CFU/g; Pediococcus pentosaceus D7, 3×106 CFU/g; L. plantarum 1K8,
2×106 CFU/g; và L. plantarum 3K2, 7×106 CFU/g) vào khẩu phần ăn đã làm
tăng tỷ lệ tiêu hóa protein thô, xơ thô, chất hữu cơ ở hồi tràng và tăng tỷ lệ
tiêu hóa protein thô và xơ thô ở toàn bộ ống tiêu hóa trong hai tuần đầu tiên
sau khi cai sữa. Datt và cs (2011) [25] cho biết bổ sung probiotics đã không
ảnh hưởng đến lượng thức ăn ăn vào, nhưng nó giúp nâng cao tỷ lệ tiêu hóa
vật chất khô, chất hữu cơ, protein thô, xơ thô và NDF, đồng thời không ảnh
hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa lipid và ADF. Vật nuôi ở nhóm bổ sung probiotic
cho thấy tốc độ sinh trưởng cao hơn và hệ số chuyển hóa thức ăn tốt hơn cũng
như chi phí thức ăn cho một kg tăng khối lượng thấp hơn so với nhóm không
bổ sung probiotic.
2.1.3.4. Ảnh hưởng của probiotics đến sự miễn dịch của lợn
Nhiều tác giả cho biết Probiotics có tác dụng kích thích hệ thống miễn
dịch ở lợn (Takahashi và cs, 1998 [50]; Franscico và cs, 1995 [28]).
Hubbard, 2000) [26]. Probiotics có thể dẫn đến sự sản xuất kháng thể IgA
tăng lên và kích thích đại thực bào (macrophage) (Perdigon và cs, 1999) [46].
2.1.4. Thành phần chế phẩm sinh học Milk feed
Thành phần của Milk feed gồm có: Nhóm vi khuẩn Lactobacillus bao
gồm: Pediococcus acidilactici, L. plantarum, L. acidophilus, Bacillus
coagulans. Nhóm này có tác dụng cung cấp các men tiêu hóa tinh bột, tiêu
hóa protein; sản sinh ra các loại kháng sinh tự nhiên; ngăn chặn quá trình gắn
kết của các vi sinh vật có hại vào biểu mô đường tiêu hóa của vật nuôi và sản
sinh ra các axit hữu cơ nên có tác dụng phòng bệnh rất hiệu quả. Nhóm nấm
men bao gồm: Saccharomyces boulardii và Saccharomyces cerevisiae. Nhóm
13
này có tác dụng là nguồn cung cấp protein mấm men chất lượng cao, cung
cấp vitamin nhóm B, tăng tính thèm ăn của vật nuôi và tăng khă năng tiêu hóa
thức ăn. Nhóm vi khuẩn Bacillus bao gồm: Bacillus pumilus, Bacillus
licheniformis, Bacillus subtilis. Nhóm vi khuẩn này có tác dụng đối kháng với
nhóm vi sinh vật có hại trong đường ruột và có khả năng sản sinh ra nhiều
loại enzym tiêu hóa.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Cho và cs (2011) [22] Probiotics được tạo ra để sử dụng như là
một loại thức ăn bổ sung; nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những tác dụng có
lợi của probiotics, một trong những tác dụng có lợi này là cải tiến sự cân bằng
vi sinh vật đường ruột cho vật nuôi. Những chức năng của probiotics bên
trong đường tiêu hóa dạ dày ruột đó là cạnh tranh với vi khuẩn có hại về dinh
dưỡng, cạnh tranh với nhân tố gây bệnh về vị trí bám dính trên lớp biểu mô
phủ đường ruột, tạo ra những hợp chất gây độc cho tác nhân gây bệnh và kích
thích hệ thống miễn dịch. Do vậy, ứng dụng của probiotics là cung cấp một
chiến lược thay thế tiềm năng đối với việc sử dụng kháng sinh trong chăn
Bacillus-based probiotic đã không ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô,
nitơ và đặc điểm các thành phần của máu. Nồng độ aminiac-nitơ trong phân
đo được ở thời điểm kết thúc thí nghiệm đã giảm khi lợn được ăn khẩu phần
ăn bổ sung 0,2% Bacillus-based probiotic. Nồng độ axit butyric trong phân
cũng giảm trong khi đó nồng độ axit acetic và propionic không bị ảnh hưởng
khi lợn được ăn khẩu phần ăn có bổ sung Bacillus-based probiotic. Như vậy,
có thể kết luận việc bổ sung Bacillus-based probiotic vào khẩu phần ăn cho
lợn giai đoạn vỗ béo đã làm tăng khả năng sinh trưởng và giảm hàm lượng
khí độc trong phân.
Wang và cs (2009b) [58] đã đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế
phẩm BioPlus 2B (là bào tử của Bacillus subtilis CH201/DSM5749 và
Bacillus licheniformis CH200/DSM5749, 3,2×109 bào tử sống/g) đến khả
năng sinh trưởng, tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, nitơ và sự phát thải khí độc
trong phân ở lợn giai đoạn sinh trưởng. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi bổ
sung BioPlus 2B với mức 0; 0,05; 0,1 và 0,2% vào khẩu phần ăn cơ sở thì
tăng khối lượng trung bình trên ngày và lượng thức ăn ăn vào trung bình trên
ngày tăng lên theo chiều tăng của mức độ bổ sung BioPlus 2B. Sự phát thải
15
khí amoniac (NH3) từ những mẫu phân thu được từ những lợn trong nhóm bổ
sung chế phẩm BioPlus 2B thấp hơn sự phát thải khí amoniac từ những mẫu
phân thu được từ những lợn trong nhóm đối chứng.
Giang và cs (2010a) [31] đã tìm hiểu ảnh hưởng của việc bổ sung chế
phẩm sinh học (bao gồm Bacillus subtilis H4, Saccharomyces boulardi Sb,
hỗn hợp vi khuẩn axit lactic (LAB): Enterococcus faecium 6H2, Lactobacillus
acidophilus C3, Pediococcus pentosaceus D7 và Lactobacillus fermentum
NC1) vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh
dưỡng và vi sinh vật trong phân ở lợn giai đoạn sinh trưởng - vỗ béo. Kết quả
nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn sinh trưởng, lượng thức ăn ăn vào bình
Balasubramanian và cs (2016) [18] đã tìm hiểu ảnh hưởng của việc bổ
sung hỗn hợp Bacillus spp. (bao gồm B. coagulance, 1×109 CFU/g; B.
licheniformis, 5×108 CFU/g; và B. subtilis, 1×109 CFU/g) với tỷ lệ 0%;
0,01%; và 0,02% vào khẩu phần ăn cơ sở cho lợn giai đoạn sinh trưởng – vỗ
béo đến khả năng sinh trưởng và đặc tính chất lượng thịt lợn. Kết quả nghiên
cứu cho thấy khi bổ sung chế phẩm sinh học có chứa Bacillus spp. vào khẩu
ăn đã có tác dụng làm tăng khối lượng trung bình trên ngày và tăng tỷ lệ giữa
tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn, nhưng không ảnh hưởng đến lượng thức
ăn thu nhận trung bình trên ngày ở lợn giai đoạn sinh trưởng – vỗ béo. Tỷ lệ
tiêu hóa vật chất khô, nitơ và năng lượng ở nhóm lợn ăn khẩu phần ăn có bổ
sung chế phẩm sinh học Bacillus spp. đều cao hơn so với nhóm đối chứng
không bổ sung chế phẩm sinh học vào khẩu phần ăn.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của việc sử dụng
probiotic trong chăn nuôi lợn con. Chu Đức Thắng (1997) [11] đã sản xuất
thành công chế phẩm Bacillus subtilis bằng cách cấy vi khuẩn Bacillus
subtilis vào môi trường đậu tương, nước cám gạo, thậm chí trong cả nước râu
ngô. Theo tác giả, lượng B. subtilis có thể hạn chế được vi khuẩn gram âm,
17
gram dương và có thể dùng chế phẩm để điều trị viêm ruột, tiêu chảy của lợn
các lứa tuổi khác nhau.
Nguyễn Như Pho và Trần Thu Thủy (2003) [8] cho biết sử dung chế
phẩm probiotic (organic green) trong phòng ngừa tiêu chảy trên lợn con giai
đoạn theo mẹ và giai đoạn sau cai sữa cho thấy tỷ lệ tiêu chảy giảm 1,5-3%
trên lợn con theo mẹ và 1,5-5,7% trên lợn con sau cai sữa, tỷ lệ chết giảm từ
2-6% trên lợn con theo mẹ và trên lợn con cai sữa tỷ lệ chết là 0%.
Vũ Duy Giảng (2007) [3], tiến hành thí nghiệm trên lợn con từ sơ sinh
đến 81 ngày tuổi với 3 nghiệm thức, nghiệm thức 1 là nghiệm thức đối chứng,