PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 34 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON - Pdf 54

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ
KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON

---------------

NGUYỄN HƯƠNG THẢO

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 3-4 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI
TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON
QUỲNH LƯU- NHO QUAN- NINH BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: 2013 - 2017

NINH BÌNH, 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ
KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON


---------------

NGUYỄN HƯƠNG THẢO

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 3-4 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI
TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON
QUỲNH LƯU- NHO QUAN- NINH BÌNH


Cuối cùng em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong
hội đồng đã chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của khóa luận. Do lần đầu
nghiên cứu và thời gian hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy,
em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các
bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Ninh Bình, ngày 01 tháng 06 năm 2017
Người thực hiện

Nguyễn Hương Thảo
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV

: Giáo viên

GVMN

: Giáo viên mầm non

MG

: Mẫu giáo

LQVTPV

: Làm quen với tác

: Số lượng

H


GDMN

thông
: Giáo dục mầm non

TPVH

: Tác phẩm văn học

NXB

: Nhà xuất bản

KBG

: Không bao giờ

X

: Giá trị trung bình

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Thang đánh giá mức độ phát triển vốn từ, ngữ âm, ngữ điệu, cơ cấu
ngữ pháp của trẻ
Bảng 2. Đánh giá của GV về tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với sự phát triển
nhân cách của trẻ 3-4 tuổi
Bảng 3. Đánh giá của giáo viên về các hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ

Biểu đồ 2.1: Mức độ phát triển vốn từ thông qua hoạt động LQVTPVH của bé
gái và bé trai 3-4 tuổi tại trường mầm non Quỳnh Lưu
Biểu đồ 2.2: Mức độ phát triển ngữ âm thông qua hoạt động LQVTPVH của bé
gái và bé trai 3-4 tuổi tại trường mầm non Quỳnh Lưu
Biểu đồ 2.3: Mức độ phát triển ngữ pháp thông qua hoạt động LQVTPVH của
bé gái và bé trai 3-4 tuổi tại trường mầm non Quỳnh Lưu
Biểu đồ 2.4: Mức độ phát triển ngữ điệu thông qua hoạt động LQVTPVH của
bé gái và bé trai 3-4 tuổi tại trường mầm non Quỳnh Lưu

55
55555555555555555555555555555555555555555555

55

5


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, là công cụ tư duy của con người, có vai
trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển cá nhân và xã hội loài người. Các
tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ: “Trước hết là lao động, sau lao
động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai động lực chủ yếu đã biến
bộ óc con vượn thành bộ não người” [19;65].
Với trẻ em nói chung và trẻ mẫu giáo nói riêng, ngôn ngữ chính là phương
tiện để nhận thức, để tư duy, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, nó đóng vai trò quan
trọng trong việc phát triển trí tuệ và các quá trình tâm lí khác, tạo tiền đề vững
chắc trong việc học tập ở trường phổ thông, sự hình thành và phát triển nhân
cách cho trẻ sau này. Bên cạnh đó, ngôn ngữ còn là phương tiện để điều khiển,
điều chỉnh hành vi giúp trẻ lĩnh hội các giá trị đạo đức và hình thành thói quen

hạn chế như: các lỗi về phát âm, hiện tượng mất cân bằng về số lượng từ, loại
từ; sử dụng cấu trúc ngữ pháp của trẻ chưa chuẩn. Chính vì vậy, đây là thời
điểm cần quan tâm đặc biệt để rèn luyện và PTNN cho trẻ, khắc phục những
hạn chế trong ngôn ngữ giúp trẻ tiến tới hoàn thiện tiếng mẹ đẻ.
Việc PTNN cho trẻ 3-4 tuổi được thực hiện tích hợp trong nhiều hoạt
động: hoạt động học có chủ đích, hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài trời...
Trong đó, LQVTPVH là một trong những hoạt động giúp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ hữu hiệu. Đây là hoạt động được trẻ yêu thích, trẻ được đọc thơ, nghe kể
chuyện và kể chuyện, đóng kịch, trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái tốt, cái
xấu... của mọi vật xung quanh; trẻ được trình bày suy nghĩ, ý kiến của mình,
được tạo cơ hội, được khuyến khích để kể về những sự vật, sự kiện nào đó bằng
chính ngôn ngữ của bản thân mình.
Khi hướng dẫn trẻ tham gia vào hoạt động ngôn ngữ, giáo viên cần phát
huy được tính tích cực, tạo điều kiện cho trẻ được luyện tập khả năng biểu cảm,
phát âm chính xác, sử dụng từ đúng để diễn đạt ý nghĩ của mình, đồng thời hiểu
ngôn ngữ của những người xung quanh trong các tình huống sinh hoạt học
tập… PTNN cho trẻ mẫu giáo là một trong những nhiệm vụ quan trọng ở trường
mầm non, đặc biệt là GVMN, góp phần thực hiện mục tiêu GDMN, chuẩn phát
triển đối với trẻ 5 tuổi, chuẩn bị tốt các điều kiện cho trẻ tới trường phổ thông.
Một trong những hoạt động GV có thể giúp trẻ phát triển vốn từ, rèn luyện ngữ

77


âm, ngữ điệu, sử dụng cơ cấu ngữ pháp phù hợp, tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn,
phát huy tính tích cực của trẻ, đó là cho trẻ LQVTPVH.
Trong những năm gần đây, ở trường Đại học Hoa Lư đã có một khóa luận
tốt nghiệp đề cập tới vấn đề PTNN nhưng chỉ tập trung ở độ tuổi 5-6 tuổi ở
trường mầm non Yên Phong, Yên Mô và trường mầm non Ninh Khánh, thành
phố Ninh Bình. Ở trường mầm non Quỳnh Lưu -Nho Quan- Ninh Bình chưa có

thông qua hoạt động LQVTPVH.
- Tìm hiểu thực trạng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua
hoạt động LQVTPVH ở trường mầm non Quỳnh Lưu -Nho Quan.
- Bước đầu đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4
tuổi thông qua hoạt động LQVTPVH ở trường mầm non.
6. Giả thuyết khoa học
Ở trường mầm non Quỳnh Lưu - Nho Quan - Ninh Bình đã thực hiện việc
phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động LQVTPVH nhưng hiệu
quả còn hạn chế do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nếu có các biện
pháp tác động phù hợp việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ sẽ được nâng cao.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Thu thập các tài liệu liên quan đến đề tài.
- Đọc, phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa vấn đề có liên quan đến đề
tài nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
- Quan sát việc tổ chức hoạt động LQVTPVH nhằm phát triển ngôn ngữ cho
trẻ 3-4 tuổi của GVMN ở trường mầm non Quỳnh Lưu, Nho Quan, Ninh Bình.
- Quan sát những biểu hiện phát triển ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi: khả năng
phát âm, ngữ điệu, vốn từ, cơ cấu ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ, các lỗi ngôn ngữ
của trẻ 3-4 tuổi bộc lộ khi tham gia hoạt động LQVTPVH và trong sinh hoạt hàng
ngày của trẻ ở trường mầm non Quỳnh Lưu, Nho Quan, Ninh Bình.
7.2.2. Phương pháp điều tra
Sử dụng một hệ thống câu hỏi (đóng, mở) dành cho GVMN đã và đang
dạy lớp mẫu giáo 3-4 tuổi, nhằm tìm hiểu nhận thức của giáo viên về ý nghĩa,
vai trò của hoạt động LQVTPVH đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4
tuổi và tìm hiểu thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt
động LQVTPVH ở trường mầm non Quỳnh Lưu, Nho Quan, Ninh Bình.
99

CHO TRẺ 3-4 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LQVTPVH
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ là cả kho tàng trí tuệ của con người và là tài sản quý báu của
nhân loại. Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con người,
đặc biệt là trẻ em. Nó tồn tại, phát triển cùng với sự thay đổi và phát triển của
con người. Ngôn ngữ cũng là vấn đề mà có rất nhiều các nhà khoa học từ các
lĩnh vực khác nhau đi sâu, tìm tòi, nghiên cứu như: Tâm lí học, triết học, xã hội
học, ngôn ngữ học, giáo dục học…
Ngay từ những năm cuối thập kỉ 70 của thế kỉ trước, phương pháp phát
triển lời nói trẻ em được nhiều nhà sư phạm nổi tiếng ở Liên Xô nghiên cứu rất
kĩ lưỡng. Những công trình này đã vào Việt Nam khá sớm, tiêu biểu là cuốn
sách Phát triển ngôn ngữ trẻ em dưới tuổi đến trường phổ thông của tác giả
E.I.Chikhiêva, một nhà sư phạm Nga - Xô Viết được coi như một tài liệu giảng
dạy chính trong các trường sư phạm mẫu giáo Việt Nam, cùng với đó là nhiều
tác giả Nga khác với những đóng góp quan trọng trong việc hình thành chuyên
ngành Phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em ở nước ta như: Xôkhin với tác
phẩm Phương pháp phát triển lời nói trẻ em (Nhà xuất bản Giáo dục Matxcơva,
1979), Những cơ sở tâm lí-giáo dục học của việc phát triển lời nói trẻ em
(Matxcơva, 2002), Bogolupxcaia M.K và Tsepsenko V.V với Đọc và kể chuyện
văn học ở vườn trẻ...
Ở nước ta vào những năm 80 của thế kỉ trước, bắt đầu có những cuốn
giáo trình đầu tiên về Phương pháp phát triển lời nói trẻ em được sử dụng trong
các trường đào tạo GVMN như: Tập thể tác giả Lương Kim Dung, Phùng Ngọc
Kiếm, Nguyễn Xuân Khoa với cuốn Tiếng Việt, văn học và phương pháp giáo
dục- NXB Giáo Dục Hà Nội (1988); Cao Đức Tiến, Nguyễn Quang Ninh, Hồ
Lam Hồng với giáo trình Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ
em- Trung tâm nghiên cứu đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, Hà Nội (1993);
11
11



12
12


1.2. Cơ sở lí luận của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ em
1.2.1. Khái niệm ngôn ngữ
1.2.1.1. Các quan điểm khác nhau về ngôn ngữ
- Theo tác giả Trần Trọng Thuỷ: “Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử
dụng một thứ ngữ ngôn nào đó để giao tiếp” (Ngữ ngôn là một hệ thống kí hiệu
từ ngữ có chức năng là một phương tiện của giao tiếp, một công cụ của tư duy)
[19; 127].
- Theo“ Ngôn ngữ học đại cương”của tác giả Saussure biên soạn, NXB
khoa học xã hội thì Ngôn ngữ là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được
tập thể xã hội chấp nhận. Ðó là một kho tàng được thực tiễn nói năng của những
người thuộc cùng một cộng đồng ngôn ngữ lưu lại, một hệ thống tín hiệu, một
hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng tiềm năng trong mỗi bộ óc, hay nói cho
đúng hơn trong các bộ óc của một tập thể.
Trong hệ thống ngôn ngữ, ngữ âm là phương diện đầu tiên là cơ sở để tạo
từ, câu và văn bản. Ngữ âm bao gồm toàn bộ hệ thống âm vị, âm tiết, chính âm
và chính tả. Từ hệ thống âm vị, chúng ta có hệ thống chữ cái để ghi âm. Ngữ
âm cung cấp cho người học không chỉ hệ thống âm vị mà còn cung cấp cách
phát âm đúng và viết đúng Tiếng Việt.
Từ vựng là kho từ, vốn từ của một ngôn ngữ bao gồm các từ và các đơn
vị tương đương với từ (cụm từ cố định). Từ vựng là một bộ phận quan trọng
của hệ thống ngôn ngữ, nó phát triển không ngừng cùng với sự phát triển của
xã hội. Mỗi một sự vật, hiện tượng mới ra đời là kho từ vựng Tiếng Việt lại
được bổ sung một từ mới. Mỗi từ trong hệ thống bao giờ cũng đối lập với các
từ còn lại, đồng thời chỉ có giá trị khi được xét trong mối tương quan với các từ
khác trong hoạt động hành chức.

tượng, tức là sự vật hiện tượng có thể tồn tại bằng chất liệu của ngôn ngữ làm
cho con người có thể nhận thức được sự vật hiện tượng khi không còn bản thân
nó trước mặt.
Các kinh nghiệm của lòai người cũng được cố định lại, được tồn tại và
truyền đạt cho thế hệ sau nhờ ngôn ngữ. Chính vì chức năng chỉ nghĩa của ngôn
ngữ còn được gọi là chức năng làm phương tiện lưu giữ, truyền đạt và lĩnh hội
kinh nghiệm xã hội lịch sử.
Những điều đó cho thấy rằng ngôn ngữ của con người khác hẳn tiếng kêu
của con vật. Về bản chất con vật không có ngôn ngữ.
14
14


* Chức năng thông báo
Ngôn ngữ dùng để truyền đạt, và tiếp nhận thông tin để biểu cảm và nhờ
đó thúc đẩy, điều chỉnh họat động của con người, Nhờ có ngôn ngữ con người
thông báo cho nhau, giao tiếp với nhau.
* Chức năng khái quát hóa
Chức năng khái quát hóa được thể hiện ở chỗ, từ ngữ không chỉ một sự
vật, hiện tượng riêng rẽ mà nó đại diện cho một loại sự vật hiện tượng có chung
các thuộc tính cơ bản, nhờ vậy ngôn ngữ trở thành một phương tiện đắc lực cho
hoạt động trí tuệ. Nói cách khác ngôn ngữ là vỏ bọc của trí tuệ, hay ngôn ngữ là
hình thức tồn tại và biểu hiện của trí tuệ.
Ngôn ngữ có hai chức năng chính đó là công cụ của giao tiếp và công cụ
của tư duy.
Có thể phân chia ngôn ngữ thành: Ngôn ngữ bên ngoài (nói, viết) và ngôn
ngữ bên trong (ngôn ngữ thầm).
1.2.1.3. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ em
* Vai trò ngôn ngữ đối với nhận thức
Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh. Có nhiều phương tiện để

ngôn ngữ bên trong. Không có ngôn ngữ thì không thể tiến hành tưởng tượng,
chính nhờ ngôn ngữ mà quá trình tưởng tượng là một quá trình có ý thức, được
điều khiển tích cực và có chất lượng cao. Ngôn ngữ giúp cho con người chính xác
hoá hình ảnh của tưởng tượng đang nảy sinh và giữ chúng lại trong trí nhớ.
Ngôn ngữ giúp phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ,
ngôn ngữ là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập, vui chơi… Chính vì thế ngôn ngữ
có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trở thành những con
người phát triển toàn diện về các mặt thể lực, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ.
* Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển thể lực
Ngôn ngữ đóng góp một vai trò quan trọng đáng kể trong việc phát triển thể
lực cho trẻ em. Trong các hoạt động góp phần phát triển thể lực như các trò chơi
vận động, các giờ thể dục, trong chế độ ăn ... giáo viên đều cần dùng đến ngôn ngữ
để hướng dẫn trẻ thực hiện tốt những yêu cầu cần đạt. Hoạt động nói năng liên
quan đến các cơ quan hô hấp, thính giác, bộ máy phát âm... Quá trình phát âm là
quá trình rèn luyện bộ máy cấu âm, rèn luyện phổi, khí quản và các bộ phận khác
của cơ thể. Để có thể lực tốt mỗi cá nhân cần có một chế độ vệ sinh hợp lí.
* Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục đạo đức
16
16


Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc hình thành và điều chỉnh những
hành vi của trẻ. Thông qua ngôn ngữ trẻ biết những gì nên, không nên… qua đó
rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những
khái niệm ban đầu về đạo đức.
Ngôn ngữ có tác dụng to lớn trong việc hình thành những phẩm chất đạo
đức tốt đẹp ở trẻ. Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻ
những hiểu biết về những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ
những tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống.
* Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mĩ

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi dựa trên những yếu tố bên ngoài và
bên trong của trẻ em, cụ thể là
* Đặc điểm tư duy của trẻ
Tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính, bản chất,
những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong thế giới
khách quan mà trước đó ta chưa biết.
Ở lứa tuổi mẫu giáo bé 3 - 4 tuổi, tư duy của trẻ đã đạt đến ranh giới của
tư duy trực quan hình tượng, trẻ phải dựa vào những hình ảnh, biểu tượng đã có,
kinh nghiệm đã trải qua để suy luận ra những vấn đề mới. Đây là điều kiện thuận
lợi giúp trẻ cảm thụ tốt những hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm nghệ
thuật: thơ ca, truyện kể... Những câu thơ hay, giàu cảm xúc, những hình tượng
nghệ thuật đẹp về con người, thế giới xung quanh thông qua những câu chuyện
kể... tất cả đều có hồn, sống động đã trở nên thực hấp dẫn, lôi cuốn khiến trẻ trở
nên say mê, hoà mình vào thế giới đó, bởi chính những yếu tố đó rất phù hợp với
tư duy trực quan hình tượng đang xuất hiện ở trẻ.
* Đặc điểm tưởng tượng của trẻ
Trẻ 3-4 tuổi, tưởng tượng tái tạo là chủ yếu. Trẻ thường tưởng tượng dựa
trên những ấn tượng đã có trước. Cái gì trẻ thích hoặc gây trẻ ấn tượng mạnh
mẽ thì tưởng tượng cái đó - tức nó trở thành đối tượng của tưởng tượng. Chẳng
hạn: trẻ thích làm mẹ chăm sóc con thì tưởng tượng mình là mẹ chăm sóc con,
thích làm bác sĩ thì tưởng tượng mình là bác sĩ khám bệnh cho bệnh nhân, thích
con mèo đáng yêu thì sẽ vẽ con mèo... Tuy vậy, trí tưởng tượng của trẻ không vì
thế mà kém phong phú, kém màu sắc bởi dưới con mắt trẻ thơ, mọi vật đều trở
nên sống động, có hồn. Vì vậy, khi được tiếp xúc với các tác phẩm văn học, trí
tưởng tượng của trẻ có điều kiện phát triển, nó giúp làm giàu vốn từ, biểu tượng
về thế giới xung quanh, thoả mãn trí tò mò, ham hiểu biết của trẻ.
* Khả năng chú ý của trẻ
Ở trẻ 3-4 tuổi, chú ý không chủ định là chủ yếu, trẻ thường chú ý đến
những đối tượng gây kích thích mạnh hoặc gây cho trẻ sự ngạc nhiên, nhất là
18

1.2.3.3. Cơ sở ngôn ngữ học
Ngôn ngữ được cấu thành từ các tiểu hệ thống đó là âm thanh, ngữ
nghĩa, cấu trúc chung và cách sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Biết một
19
19


ngôn ngữ là nắm được tất cả các lĩnh vực trên và sử dụng chúng, tổng hợp
chúng vào hệ thống giao tiếp sinh hoạt.
Thành tố 1: Thành tố đầu tiên là phát âm, hệ thống âm thanh của ngôn
ngữ tức là dạy trẻ phát âm các âm tiết của tiếng việt, phát âm các từ trong câu,
cách phát âm cả câu và cách phát âm một văn bản nên hạ giọng, nhấn mạnh từ,
kéo dài từ để khi phát âm thể hiện sự hiểu biết tình cảm cũng như thái độ của
người nói.
Thành tố 2: Ngữ nghĩa bao gồm vốn từ hay là cách thức một khái niệm
nào đó được diễn đạt trong từ hay một tập hợp từ. Khi trẻ mới sử dụng từ, từ
đó thường không có ý nghĩa giống như của người lớn. Trẻ xây dựng vốn từ từ
hàng ngàn từ và liên kêt chúng bằng mạng lưới các khái niệm có liên quan với
nhau. Lớn dần lên, trẻ không những sử dụng từ một cách chính xác hơn, mà
còn luôn luôn có ý thức với ngữ nghĩa của từ mà liên kết chúng bằng mạng
lưới các khái niệm có liên quan với nhau.
Thành tố 3: Khi trẻ lĩnh hội vốn từ, trẻ bắt đầu liên kết các từ theo một quy
luật nhất định để thực hiện một ý nghĩa nào đó. Kiến thức về ngữ pháp có hai
thành phần: cú pháp (là những quy luật liên kết từ tạo thành câu) và từ pháp.
Thành tố 4: Tình hình sử dụng ngôn ngữ hay gọi là tính thực tiễn tức là
nói đến mặt giao tiếp của ngôn ngữ. Để giao tiếp có hiệu quả trẻ em phải học
cách tham gia vào hoạt động giao tiếp, tiếp tục phát triển chủ đề giao tiếp thể
hiện ý kiến, ý nghĩ của mình một cách rõ ràng. Thêm vào đó trẻ phải biết sử
dụng cả yếu tố ngữ điệu, âm điệu và những yếu tố phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu
bộ) vào lời nói để tăng hiệu quả của lời nói. Tính thực tiễn cũng bao gồm kiến

phụ âm đầu, âm cuối, âm đệm, thanh điệu dần dần được định vị. Trẻ cũng đã
biết phát âm các âm vị của tiếng mẹ đẻ. Trẻ đã biết cách điều chỉnh nhịp điệu,
cường độ giọng nói khi giao tiếp trong một số hoàn cảnh cho phù hợp, lời nói
của trẻ đã rõ ràng, dứt khoát hơn. Tuy vậy, khi nói trẻ 3 tuổi đôi khi còn nói
chậm và kéo dài giọng, đôi khi còn ậm ừ, ê, a nói không liên tục, không mạch
lạc. [15;33].
Ở trẻ 3-4 tuổi vẫn còn mắc một số lỗi về phát âm, còn nhầm lẫn khi
phát âm một vài phụ âm và nguyên âm ( x-s, ch-t, ươ, uô, ie…) và thanh điệu
( ?, ~). Trẻ cũng hay thay đổi nguyên âm đôi thành nguyên âm đơn. (Ví dụ:
Chiếp chiếp = chip chip, khoanh tay = khanh tay…). Âm vị trẻ phát âm chưa
chính xác hoặc ít phát âm ở đầu tuổi mẫu giáo là âm: t, d, kh, th, h… Trẻ mẫu
21
21


giáo 3-4 tuổi thường thay thế các âm vị (Ví dụ: Thịt = xịt, Tôm to = chôm cho,
Mẹ Liên = mẹ nhiên…).
Để trẻ phát âm đúng, cô giáo mẫu giáo cần luyện tập riêng cho trẻ, giúp
trẻ phân biệt và lặp lại đúng âm vị khó, dạy trẻ dùng thính giác phân tích các âm
vị nghe được. Trẻ 3-4 tuổi nhạy bén trong việc tiếp thu các đặc điểm phát âm
của người xung quanh, trẻ hay bắt chước, bắt chước khá nhanh đặc điểm phát
âm của họ. Vì vậy trong giao tiếp với trẻ, người lớn đặc biệt là cô giáo cần phát
âm chính xác, rõ ràng, mẫu mực cho trẻ học tập.
- Vốn từ: tăng lên rất nhiều. Đến năm thứ 3, các em đã sử dụng được trên
500 từ, trong đó phần lớn là danh từ, động từ, còn tính từ và những loại từ khác
thì chiếm một tỷ lệ rất ít, không đáng kể. Những từ được trẻ sử dụng thường là
những từ chỉ tên gọi đồ chơi, đồ dùng, những con vật…mà trẻ thường xuyên
tiếp xúc, những việc làm của trẻ và mọi người xung quanh (như: ăn, ngủ, đi…).
Trẻ 4 tuổi, trẻ có thể nắm được xấp xỉ 700 từ, hầu hết các loại từ đã xuất hiện
trong vốn từ của trẻ, trong đó danh từ và động từ vẫn chiếm ưu thế. Ở trẻ 3-4

Cháu đi bà nội
Lúc nãy cháu ăn kẹo ở lớp
+ Mặc dù trẻ 3-4 tuổi đã có tiến bộ trong việc tiếp nhận và sử dụng các
loại câu trong hệ thống câu tiếng Việt, xong trẻ còn mắc một số lỗi khi cấu trúc
câu như: Từ trong câu sắp xếp sai trật tự (Ví dụ: Cháu cài khăn vào cổ áo =
Khăn cháu cài áo); Thiếu từ trong câu, diễn đạt thiếu rõ ràng ( Ví dụ: Ông đưa
bánh cho bà = Ông bà bánh) [15; 80-83].
1.3.2. Sự phát triển các chức năng ngôn ngữ
1.3.2.1. Ngôn ngữ và giao lưu
Một trong những chức năng cơ bản nhất của ngôn ngữ được phát triển
ở tuổi mẫu giáo là chức năng giao lưu, ngôn ngữ trở thành phương tiện giao lưu.
Trẻ 3-4 tuổi vẫn sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu, ngôn ngữ gắn với tình
huống cụ thể những người giao tiếp với trẻ trong tình huống đó mới hiểu được,
những người ngoài cuộc không nắm được tình huống thì không thể hiểu nổi.
"Tính tình huống" được thể hiện trong ngôn ngữ trẻ bằng nhiều hình
thức đa dạng. Điển hình trong ngôn ngữ tình huống của trẻ là bỏ chủ ngữ, phần
lớn chủ ngữ được thay thế bằng đại từ (nó, chúng nó, bà ấy) nếu dựa vào ngữ
cảnh thì không thể xác định được các đại từ đó thuộc về ai (hoặc về cái gì).
Ngôn ngữ của trẻ cũng chứa nhiều trạng từ, những từ đó không giúp xác định rõ
23
23


hơn nội dung của câu nói, làm cho lời nói thiếu sáng sủa. Chẳng hạn trẻ nói: Ở
đấy, ở vườn bách thú nhớ, ở đấy có nhiều con khỉ, ở đấy có voi nữa nhớ, ở đấy
có nhiều cá, ở đấy có nhiều người... "ở đấy" trẻ dùng hoàn toàn mang tính hình
thức chứ không phải theo nội dung của câu nói.
Nhờ sự giúp đỡ của người lớn xung quanh dần dần trẻ đã biết dùng
ngôn ngữ mạch lạc để giao tiếp và dùng ngôn ngữ tình huống đúng lúc.
1.3.2.2. Ngôn ngữ và tư duy

Theo Phương pháp tổ chức hoạt động LQVTPVH của PGS.TS.Hà
Nguyễn Kim Giang biên soạn, LQVTPVH được hiểu như sau: LQVTPVH chỉ
ra mức độ, giới hạn, yêu cầu của việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học qua
nghệ thuật đọc và kể chuyện của cô giáo. Hoạt động này nhằm dẫn dắt, hướng
dẫn trẻ cảm nhận những giá trị nội dung, nghệ thuật phong phú trong tác phẩm,
khơi gợi ở trẻ sự rung động, hứng thú đối với văn học, có ấn tượng về những
hình tượng nghệ thuật, cái hay cái đẹp của tác phẩm và thể hiện sự cảm nhận đó
qua các hoạt động mang tính chất văn học nghệ thuật như đọc thơ, kể chuyện,
chơi trò chơi đóng kịch; cao hơn là tiến tới sáng tạo ra những vần thơ, câu
chuyện theo tưởng tượng của mình, góp phần hình thành và phát triển toàn diện
nhân cách trẻ [5;23].
Như vậy, có thể hiểu hoạt động LQVTPVH là một quá trình hoạt động
trong đó, cô giáo sử dụng nghệ thuật đọc kể diễn cảm để đọc thơ, kể chuyện cho
trẻ nghe; giảng giải bằng mọi cách giúp trẻ hiểu được nội dung và hình thức của
tác phẩm văn học; khơi gợi ở trẻ sự rung động, hứng thú với văn học; có ấn
tượng về những hình tượng nghệ thuật; cái hay, cái đẹp của tác phẩm và thể
hiện sự cảm nhận đó qua các hoạt động mang tính chất văn học nghệ thuật như:
đọc thuộc diễn cảm bài thơ, kể diễn cảm câu chuyện, chơi trò chơi đóng kịch,
cao hơn là sáng tạo ra những vần thơ, những câu chuyện theo tưởng tượng của
mình góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ.

1.4.2. Vai trò của hoạt động LQVTPVH trong việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ 3-4 tuổi

25
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status