THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC DINH DƯỠNG CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC - Pdf 54

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ
KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON
----------

LÊ THÙY GIANG

THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC DINH DƯỠNG
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON

Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: 2013 – 2017


NINH BÌNH, 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ
KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON
----------

LÊ THÙY GIANG

THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC DINH DƯỠNG
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Lê Thùy Giang


NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
GDDD: Giáo dục dinh dưõng
DD: Dinh dưỡng
TV: Thực vật
TPVH: Tác phẩm văn học
LQVTPVH: Làm quen với tác phẩm văn học
GV: Giáo viên
GVMN: Giáo viên mầm non
MG: Mẫu giáo
MN: Mầm non
CÁC KÍ TỰ TRONG ĐỀ TÀI
Σ:
X:
n:
δ:
%:

Điểm tổng
Điểm trung bình
Số trẻ
Độ lệch chuẩn
Tỉ lệ %


MỤC LỤC



quyết định số phận con người. Giá trị của tác phẩm văn học là ở chỗ chúng ảnh
hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ mầm non, giáo dục trẻ mầm non về các
mặt đạo đức, tình cảm xã hội, khơi dậy, mặt năng khiếu, thẩm mỹ, phát triển
nhận thức trong đó có nhận thức về DD cho trẻ.


Thế giới thực vật (TGTV) là một phần không thể thiếu của thiên nhiên kỳ thú,
chúng vừa gần gũi thân quen như những người bạn ngộ nghĩnh lại vừa đa dạng,
phong phú, mới lạ, luôn là đối tượng khám phá thú vị đối với trẻ mầm non. Thế giới
đó luôn hiện hữu, bao quanh trẻ, thôi thúc trẻ tìm tòi khám phá giúp trẻ tích luỹ, làm
giàu thêm vốn kiến thức của bản thân trong đó có kiến thức về DD.
Việc tích hợp GDDD cho trẻ thông qua hoạt động LQVTPVH là một
trong những phương thức giáo dục hiệu quả ở trường MN. Thông qua những
hình tượng nghệ thuật sinh động, tinh tế, các TPVH góp phần giúp trẻ phát triển
ngôn ngữ, mở rộng hiểu biết về kiến thức DD từ đó hình thành nhận thức và thái
độ đúng đắn về DD cho trẻ.
Trong thực tiễn, giáo viên mầm non chưa biết khai thác hết thế mạnh của
tác phẩm văn học trong việc giúp trẻ tìm hiểu về DD như chưa quan tâm tích
hợp GDDD hoặc hệ thống câu hỏi đàm thoại chưa phù hợp với nhận thức của
trẻ, nội dung giáo dục dinh dưỡng còn nghèo nàn, đơn giản... Do vậy hiệu quả
việc GDDD cho trẻ thông qua hoạt động LQVTPVH còn nhiều hạn chế.
Từ lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“Thực trạng giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với tác phẩm văn học”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ
5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học và mức độ nhận thức
của trẻ về dinh dưỡng qua đó bước đầu đề xuất một số biện pháp giáo dục dinh
dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu ở chủ đề giáo dục: Thế giới thực vật
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 10/2016 đến tháng 3/2017.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài.
- Phân tích, so sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá các vấn đề nghiên cứu có
liên quan đến đề tài nhằm xây dựng cơ sở cho đề tài.


7.2 . Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.1. Phương pháp điều tra Anket
Dùng phiếu điều tra nhằm đánh giá nhận thức, thái độ và việc GDDD cho
trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động LQVTPVH ở trường MN.
7.2.2. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu kế hoạch hoạt động LQVTPVH nhằm giáo dục DD cho trẻ 5 - 6 tuổi.
7.2.3. Phương pháp quan sát
- Quan sát quá trình giáo viên mầm non tổ chức hoạt động LQVTPVH
nhằm GDDD cho trẻ 5 - 6 tuổi.
- Quan sát biểu hiện, mức độ nhận thức, kỹ năng, thái độ về dinh dưỡng
của trẻ 5 - 6 tuổi.
7.2.4. Phương pháp đàm thoại
Trao đổi, trò chuyện, đàm thoại với giáo viên mầm non và trẻ nhằm thu thập
những vấn đề có liên quan đến đề tài phát hiện thực trạng, giải thích nguyên nhân.
7.2.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết những kinh nghiệm của giáo viên mầm non trong việc GDDD
cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động LQVTPVH.
7.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng toán thống kê để sử lý số liệu đã điều tra được.
Các phương pháp trên được sử dụng trong mối quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau.
8. Cấu trúc của đề tài.

Theo từ điển Tiếng Việt, dinh dưỡng (động từ) là quá trình các tế bào, cơ
quan trong cơ thể hấp thu và sử dụng các chất cần thiết cho việc cấu tạo và hoạt
động của cơ thể; dinh dưỡng (tính từ) là những chất cần thiết cho việc cấu tạo và
hoạt động của cơ thể.
Với tác giả Trần Thị Kim Tuyến : “Dinh dưỡng là các chức năng mà các cá
thể sử dụng thức ăn để duy trì sự sống, nghĩa là thực hiện các hoạt động sống:
sinh trưởng, phát triển, vận động” [19,17].
Theo Lê Thị Mai Hoa – Trần Văn Dần: “Dinh dưỡng là nghành khoa học
nghiên cứu ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng đối với cơ thể con người và xác
định nhu cầu của cơ thể về các chất dinh dưỡng nhằm giúp cho con người phát
triển tốt về thể chất và trí tuệ nhằm đạt được mục tiêu sống của mình” [5,16].


Các tác giả Bùi Thuý Ái – Trần Thục Thuần đã nghiên cứu và đưa ra kết
luận: “Dinh dưỡng học là một nghành khoa học nghiên cứu về mối liên hệ tất
yếu giữa thức ăn và cơ thể sống” [5,20].
DD còn có nghĩa rộng hơn được hiểu là nghành khoa học không những
nghiên cứu sự chuyển hoá thực phẩm mà còn khảo sát khẩu phần, tập quán ăn
uống để phát triển và phòng ngừa những bệnh thiếu hoặc thừa dinh dưỡng, đề
xuất chế độ ăn hợp lí cho từng trường hợp để bảo vệ tăng cường sức khoẻ và
góp phần điều trị bệnh.
Vậy dinh dưỡng là một quá trình phức hợp bao gồm việc đưa vào cơ thể
những thức ăn cần thiết qua quá trình tiêu hoá và hấp thụ để bù đắp sự tiêu hao
năng lượng trong quá trình hoạt động sống của cơ thể và để tạo ra sự đổi mới
các tế bào và mô cũng như điều tiết các chức năng sống của cơ thể [16,18].
1.1.1.2. Khái niệm giáo dục dinh dưỡng.
Hiện nay, xã hội tiến bộ, chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được
cải thiện nhưng còn rất nhiều những vấn đề sức khoẻ có liên quan đến dinh dưỡng
như béo phì, suy dinh dưỡng… Một trong các nguyên nhân gây nên tình trạng này
là do thiếu kiến thức về dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ của mọi người. Giáo dục

1.1.2. Đặc điểm nhận thức của trẻ 5 - 6 tuổi về dinh dưỡng
Trẻ MN là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ và không ngừng hoàn thiện về thể
chất, nhận thức, ngôn ngữ, tâm lý và hình thành nhân cách.
Trẻ MN tò mò, ham hiểu biết thích khám phá thế giới xung quanh. Trẻ luôn
muốn được tìm tòi, khám phá và trải nghiệm những kiến thức mới quanh mình.
Trong quá trình này trẻ luôn vận dụng tối đa khả năng, giác quan của mình để
làm giàu vốn kinh nghiệm về thế giới xung quanh mình, trong đó có những hiểu
biết về DD. Vì vậy giáo viên cần nắm rõ đặc điểm nhận thức của trẻ để giúp trẻ
có những kiến thức về DD một cách dễ dàng hơn bằng cách tạo ra nhiều cơ hội
để trẻ học hỏi tích cực, giáo dục để trẻ nhận thức một cách tự nhiên nhất chứ
không máy móc, dập khuôn và ép buộc.
Trẻ 5 - 6 tuổi kinh nghiệm tích luỹ của trẻ ngày càng nhiều, vốn hiểu biết
của trẻ ngày càng được mở rộng. Ở độ tuổi này kiểu tư duy trực quan hình tượng


đang phát triển mạnh mẽ, bước đầu xuất hiện kiểu tư duy sơ đồ. Ví dụ như khi
chơi trò chơi “Người mua hàng thông thái” trẻ đã biết sử dụng giấy hay lá cây
làm vật thay thế cho tiền khi mua hàng. Khả năng ghi nhớ và tập trung chú ý của
trẻ đã lâu hơn và bền vững hơn nên khả năng tiếp thu và liên hệ và khái quát
những kiến thức về DD cũng nhạy bén hơn. Đây là cơ sở để hình thành cho trẻ
khả năng quan sát, so sánh, phân nhóm phân loại đối tượng một cách khái quát
rõ ràng. Ví dụ: khi dạy trẻ bài thơ “Họ nhà cam quýt” trẻ biết được quả cam có
màu sắc, mùi vị khác quả quýt. Chúng đều thuộc nhóm thực phẩm cung cấp
vitamin (cung cấp vitamin C cho cơ thể).
Trẻ học qua việc sử dụng các giác quan: Khi mới sinh ra trẻ chưa có hiểu
biết về thế giới quan, về DD trẻ nhận thức về thế giới chủ yếu thông qua những
tiếp xúc trực tiếp với các sự vật hiện tượng xung quanh bằng cảm giác và tri
giác. Sử dụng thị giác, trẻ có hiểu biết về hình dáng, màu sắc, đặc điểm bên
ngoài của các loại thực phẩm. Sử dụng xúc giác, trẻ có hiểu biết về độ mềm,
cứng, … của thực phẩm. Thính giác giúp trẻ hiểu biết các âm thanh như tiếng

nghiệm và giúp trẻ học hỏi lẫn nhau.
Trẻ em xuất phát từ những gia đình và cơ sở văn hoá, xã hội khác nhau thể
tạng của từng trẻ cũng không giống nhau vì vậy chúng có những khả năng khác
nhau trong học tập việc tiếp thu các kiến thức. Giáo vên cần nắm được đặc điểm,
khả năng của từng trẻ để có các biện pháp giáo dục phù hợp nhằm thúc đẩy sự
phát triển của mỗi cá nhân, giúp trẻ bộc lộ và phát triển khả năng của mình.
Tóm lại, việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi là một hoạt động rất
quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ. Trẻ 5 – 6 tuổi đã có khả năng nhận biết
về các nhóm thực phẩm, một số cách chế biến món ăn đơn giản, và có một số
thói quen, hành vi tốt cho sức khoẻ. Vì vậy, nếu giáo viên có các biện pháp giáo
dục tích cực, phù hợp sẽ giúp trẻ củng cố nhận thức, kỹ năng và có thái độ tích
cực với các vấn đề DD.
1.1.3. Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi
1.1.3.1. Mục tiêu của giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi.
- Trẻ có khả năng nhận biết, phân biệt được các nhóm thực phẩm và một số
cách chế biến đơn giản.


- Giúp trẻ có ý thức ăn uống đầy đủ và hợp lý. Biết lợi ích của ăn uống và
tác dụng của tập luyện đối với sức khoẻ.
- Tạo cho trẻ một số nề nếp, thói quen, hành vi tốt trong chăm sóc và bảo
vệ sức khoẻ: ăn, ngủ, vui chơi, tự phục vụ, giữ gìn vệ sinh.
- Dạy trẻ làm quen một số quy định an toàn.[
1.1.3.2. Ý nghĩa của giáo dục dinh dưỡng đối với trẻ 5 - 6 tuổi.
Trẻ em luôn được coi là mầm non - những chủ nhân tương lai của tổ quốc. Ở
lứa tuổi MN, ngoài việc được giáo dục trí tuệ thì trẻ cũng cần được giáo dục DD.
Thực tế cho thấy, hầu hết các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về dinh
dưỡng giai đoạn 2001 - 2010 đã đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Kiến thức và thực
hành dinh dưỡng của người dân đã được cải thiện đáng kể; tỷ lệ suy dinh dưỡng
(thể nhe cân) ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm tương đối nhanh và liên tục. Mặc dù

sinh và đặc biệt trẻ sẽ dễ mắc bệnh, từ đó ảnh hưởng đến nhận thức và sự phát triển
của trẻ. Do vậy, cần phải chú trọng nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục, đặc
biệt là nâng cao hiểu biết về DD, giáo dục DD cho trẻ 5 – 6 tuổi.
Việc GDDD tạo dựng nền tảng vững chắc để hình thành và phát triển
những kiến thức, kỹ năng DD phức tạp hơn lứa tuổi tiếp theo, nó cũng tạo điều
kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào các hoạt động khác nhằm phát triển toàn diện
các mặt thể chất, ngôn ngữ, tình cảm, thẩm mỹ.
Việc GDDD cho trẻ 5 - 6 tuổi là phù hợp và cần thiết đối với sự phát triển
của trẻ. Mặt khác, tư duy của trẻ ngày càng phát triển vì vậy vốn biểu tượng của
trẻ về DD ngày càng phong phú. Kinh nghiệm cảm tính mà trẻ tích luỹ được về
DD không phải lúc nào cũng đầy đủ và chính xác nên trẻ có thể không nhận thức
đúng về nó. Do đó cần có sự hướng dẫn và giáo dục của người lớn. GDDD
không những giúp cho trẻ có kiến thức đúng về DD mà còn giúp trẻ ý thức tự
giác giữ gìn sức khoẻ của bản thân.
1.1.3.3. Nội dung giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 - 6 tuổi.
Nội dung giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 5 – 6 tuổi bao gồm:
* Nhận biết, làm quen, phân loại các nhóm thực phẩm và một số thao tác
chế biến món ăn đơn giản:
- Nhận biết tên gọi thực phẩm theo các nhóm sau: nhóm giàu chất đạm,
chất béo, chất bột đường, nhóm giàu vitamin và muối khoáng.


- Thực phẩm có nguồn gốc khác nhau:
+ Thực phẩm có nguồn gốc động vật: thịt các loại (thịt lợn, thịt gà, thịt bò,
…), cá các loại (cá rô, cá quả, cá trôi, cá biển,…), tôm, cua, trai, hến, mỡ ăn,
trứng gia cầm, sữa và các chế phẩm của sữa.
+ Thực phẩm có nguồn gốc thực vật: đậu các loại (đậu đen, đậu xanh, đậu
tương, đậu đỏ…), lạc, vừng, dầu ăn, rau củ, quả các loại.
- Nhận biết các loại thực phẩm khác nhau về màu sắc, kích thước, hình
dạng, mùi, vị, trạng thái…

- Dạy trẻ biết các bữa ăn trong ngày:
+ Nhận biết sự khác nhau giữa các bữa ăn trong ngày. Ví dụ: hàng ngày trẻ
được ăn 3 – 4 bữa, trong đó có 2 bữa ở trường MN gồm 1 bữa chính và một bữa
phụ. Bữa chính có cơm, thịt, rau còn bữa phụ trẻ ăn phở, bún cháo, bánh hay có
thể là sữa, hoa quả.
+ Các kiến thức tối thiểu, đặc trưng về các bữa trong ngày lễ tết. Ví dụ như
ngày Tết Nguyên Đán có đặc trưng đó là bánh chưng ở miền Bắc, bánh tét ở
miền Nam, có mứt tết, dưa hành, giò…
+ Mỗi bữa ăn cần ăn đầy đủ các loại thức ăn, cần ăn hết suất trong các bữa
ăn hàng ngày.
+ Có hứng thú trong ăn uống, vui lòng chấp nhận và thử các thức ăn mới,
không kén chọn các loại thức ăn.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến bữa ăn:
+ Sự hấp dẫn của thức ăn (màu sắc, mùi vị, cách trang trí và trưng bày món
ăn,…)
+ Môi trường sạch sẽ, bầu không khí trong bữa ăn, sự hào hứng với thức ăn
mới,…
* Dạy trẻ một số công việc tự phục vụ:
- Cách sử dụng một số đồ dùng trong ăn uống:
+ Cách sử dụng ca, bát, cốc, đũa, thìa, đĩa, chén, bình rót nước,…đúng cách.
+ Cách chia thức ăn, rót, đong, đếm thức ăn. Ví dụ: khi uống nước rót vừa
đủ lượng nước mà mình cần uống, không lãng phí.
+ Tập pha nước cam, nước chanh, pha sữa, pha bột đậu, sinh tố, làm bánh
đơn giản,…


+ Rèn luyện thói quen tự phục vụ, tính cộng tác, chia sẻ với bạn bè thông
qua việc giúp cô chuẩn bị phòng ăn, bữa ăn, trang trí bàn tiệc trong các dịp kỉ
niệm, lễ tết… như trang trí tiệc sinh nhật, mâm cỗ trung thu…
+ Luyện tập cho trẻ một số nề nếp, thói quen vệ sinh, hành vi văn minh

vật trong truyện ngộ nghĩnh, đáng yêu nên trẻ dễ dàng tiếp nhận được những
kiến thức về DD. Vì thế phương pháp kể chuyện tạo cho trẻ hứng thú đối với
việc tìm hiểu về DD, đồng thời có thái độ tích cực với DD, giúp cơ thể phát triển
một cách tốt nhất. Phương pháp này thường được sử dụng với các phương pháp
khác trong quá trình tổ chức các hoạt động (Học tập, vui chơi, dạo chơi ngoài
trời…) nhằm GDDD cho trẻ 5 - 6 tuổi.
- Giảng giải: Là phương pháp dùng lời giải thích cho trẻ hiểu những nội
dung và nhiệm vụ nhận thức cụ thể. Việc GDDD cho trẻ 5 - 6 tuổi, phương pháp
này hỗ trợ cho các phương pháp khác như: quan sát, luyện tập, trò chơi,…nhằm
giải thích cho trẻ hiểu về DD như đặc điểm, mùi, vị, ích lợi… của một số loài
TV nói riêng với sức khoẻ con người.
Lời nói và câu hỏi của người lớn cần phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, gần
với kinh nghiệm của trẻ.
* Phương pháp trực quan – minh hoạ.
- Dùng phương tiện trực quan (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh, phim ảnh), hành
động mẫu (lời nói và cử chỉ) cho trẻ quan sát, nói và làm theo, rèn luyện sự nhạy
cảm của các giác quan (nhìn, nghe, sờ, ngửi, nếm…). Ví dụ: cho trẻ quan sát quả
xoài, nếm thử, ngửi thử… Hay cô có thể pha nước chanh mẫu cho trẻ xem.
- Phương tiện trực quan và hành động mẫu cần sử dụng đúng lúc và kết hợp
với lời nói minh hoạ phù hợp.
* Phương pháp thực hành
- Hành động thao tác với đồ vật, đồ chơi.
+ Sử dụng các đồ vật, dụng cụ đơn giản với nội dung và mục đích giáo dục.
+ Trẻ cùng làm theo và thao tác với đồ vật: sờ, mó, cầm, nắm, lắc mở,
đóng, chồng lên và phối hợp vận động với các giác quan.
Ví dụ: sử dụng cốc, thìa, chanh, đường để trẻ thao tác pha nước chanh như
khuấy đường, vắt chanh…


- Trò chơi: Sử dụng các yếu tố, các trò chơi thích hợp để kích thích trẻ hoạt

khai ngay từ đầu năm học để tạo thói quen, nề nếp tốt, đồng thời rèn luyện một
số kỹ năng cho trẻ trong sinh hoạt hàng ngày.
Ví dụ: Trong chủ đề TGTV, tích hợp các nội dung GDDD:
- Gọi đúng tên và phân biệt các loại rau quả theo nhóm, biết lợi ích của rau
quả đối với cơ thể.
- Nhận biết các loại rau quả khác nhau về màu sắc, kích thước, hình dạng,
mùi vị.
- Trẻ biết rau quả được chế biến và ăn theo nhiều cách khác nhau.
- Dạy trẻ cách sơ chế một số loại rau, củ, quả quen thuộc. Cách ăn một số
loại quả.
- Nhận biết và cách bảo quản một số loại rau, củ, quả tươi, ngon.
- Các món ăn từ rau, củ, quả và cách chế biến từ rau, củ, quả.
- Nhận biết một số nguy cơ không an toàn khi ăn uống: ăn rau quả chưa
được rửa sạch, uống nước lã, ăn rau sống…
- Ích lợi của việc tiếp xúc với môi trường xanh, sạch, đep đối với sức khoẻ.
* Tích hợp nội dung GDDD vào hoạt động học tập khác một cách trực
quan cụ thể, dễ nhớ, dễ hiểu… làm phong phú cho nội dung, phương pháp học
tập. Ví dụ tích hợp trong tiết âm nhạc: Dạy hát “Mời bạn ăn”, trẻ biết được lợi
ích của việc ăn uống đối với sức khoẻ con người “ăn cho chóng lớn” và một số
loại thực phẩm như thịt và rau, trứng, đậu, cá, tôm. Hoặc trong tiết học cho trẻ
làm quen với tác phẩm văn học “Ăn quả” giúp trẻ biết thêm ăn nhiều quả giúp
“Người khoẻ mạnh ra”, và rất nhiều các loại quả như quả na, quả mận, quả đào,
quả lê và tác dụng của chúng với sức khoẻ…
* Tích hợp nội dung GDDD vào hoạt động vui chơi: trò chơi với lô tô, trò
chơi học tập, trò chơi đóng vai theo chủ đề…Ví dụ khi tổ chức hoạt động góc, ở
góc phân vai trẻ có thể đóng vai các cô bán hàng ăn qua đó trẻ nhận biết, phân
biệt được các nhóm thực phẩm, các món ăn, và một số cách chế biến đơn giản.
Trẻ đóng vai người mua hàng sẽ biết cách chọn thực phẩm tươi, ngon…
* Tích hợp nội dung GDDD vào các hoạt động theo thời điểm trong ngày ở
mọi lúc, mọi nơi: tuỳ theo hoàn cảnh có thể lồng ghép cho trẻ GDDD. Ví dụ

trường tự nhiên như:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status