Nâng cao hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex - Pdf 54

đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
lời mở đầu
Sau khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của
nhà nớc định hớng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã có những bớc phát
triển mạnh mẽ. Đầu t trực tiếp nớc ngoài tăng nhanh hoà nhập với nền kinh tế
toàn cầu đang tiến theo hớng hội nhập ở mức độ cao. Đến hết tháng 3 năm 2000
trên cả nớc có 2.405 dự án còn hiệu lực, vốn đăng ký trên 35,959 tỉ USD và vốn
thực hiện đạt trên 16 tỉ USD. Vốn đầu t nớc ngoài tăng nhanh qua các năm: Nếu
nh thời kỳ 1991 - 1995 chiếm 24,44% từ 1996 đến nay chiếm khoảng 23,92%
tổng vốn đầu t xã hội, đóng góp đáng kể vào tăng trởng kinh tế và là nguồn bù
đắp quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cải thiện cán cân thanh
toán quốc tế. Nhịp độ tăng trởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt ở mức tơng
đối cao: Từ năm 1992-1997 tốc độ tăng trởng bình quân là 8,5%, năm 1997 là
8,2%, năm 1998 giảm đột ngột xuống còn 5,8%, năm 1999 giảm chỉ còn 4,8%,
mục tiêu năm 2000 là 5,5%-6% nhng qua từng quý đã vợt chỉ tiêu và cả năm đạt
sấp xỉ 6,7%. Lạm phát giảm liên tục từ ba con số xuống còn một con số hiện nay.
Cùng với sự mở cửa của nền kinh tế, các quan hệ thơng mại quốc tế cũng ngày
càng đợc mở rộng, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá cũng ngày một gia tăng.
Nếu nh kim ngạch xuất khẩu năm 1999 đạt 11,523 tỷ USD và kim ngạch nhập
khẩu đạt 11,636 tỷ USD thì sang năm 2000 kim ngạch xuất khẩu đã đạt 14,3 tỷ
USD tăng 24,1% và kim ngạch nhập khẩu đạt 15,2 tỷ USD tăng 30,63% so với
năm 1999.
Do hoạt động xuất nhập khẩu tăng nhanh nên nhu cầu bảo hiểm đối với hàng
hoá xuất nhập khẩu ngày càng lớn và do hoạt động bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu đã trở thành tập quán trong hoạt động ngoại thơng nên nghiệp vụ này vẫn là
nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp bảo
hiểm. Mặt khác, trao đổi buôn bán hàng hoá xuất nhập khẩu hiện nay vẫn đợc vận
chuyển chủ yếu bằng đờng biển (khoảng 80% khối lợng hàng hoá) do u điểm của
loại hình vận chuyển này. Vì vậy, việc phát triển và hoàn thiện các vấn đề về

ờng biển ở PJICO trong thời gian tới.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo CN-Nguyễn Thị Chính đã trực tiếp hớng
dẫn đề tài, các thầy cô trong bộ môn bảo hiểm cùng toàn thể các cán bộ công
nhân viên công ty bảo hiểm PJICO đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em
hoàn thành luận văn này một cách tốt đẹp.
Là một sinh viên năm cuối, mặc dù đợc trang bị những kiến thức cơ bản song
do trình độ nhận thức cũng nh kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nên luận
văn không tránh khỏi đợc những thiếu sót. Em rất mong nhận đợc ý kiến đóng
góp chân thành của các thầy cô cùng toàn thể các bạn để luận văn này đợc hoàn
thiện hơn ./.
bùi văn khoa bộ môn bảo hiểm
2
đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
nội dung
Ch ơng i : Những vấn đề chung về Bảo hiểm hàng hoá xuất
nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển
i. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đờng biển
1. Trên thế giới:
Bảo hiểm hàng hải đã có lịch sử rất lâu đời. Nó ra đời và phát triển cùng với
sự phát triển của hàng hoá và ngoại thơng. Khoảng thế kỷ V trớc công nguyên,
vận chuyển hàng hoá bằng đờng biển đã ra đời và phát triển ngời ta biết tránh tổn
thất toàn bộ một lô hàng bằng cách chia nhỏ, phân tán chuyên chở trên nhiều
thuyền khác nhau. Đây có thể nói là hình thức sơ khai của bảo hiểm hàng hoá.
Đến thế kỷ thứ XII thơng mại và giao lu hàng hoá bằng đờng biển giữa các nớc
phát triển. Nhiều tổn thất lớn xảy ra trên biển vì khối lợng và giá trị của hàng hoá
ngày càng tăng, do thiên tai, tai nạn bất ngờ, cớp biển... gây ra làm cho giới thơng
nhân lo lắng nhằm đối phó với các tổn thất nặng nề có khả năng dẫn tới phá sản
họ đã đi vay vốn để buôn bán kinh doanh. Nếu hành trình gặp phải rủi ro gây ra

hiểm hàng hải mẫu mới đã đợc Hiệp hội bảo hiểm London thông qua và đợc sử
dụng ở hầu hết các nớc trên thế giới hiện nay.
Không chỉ riêng bảo hiểm hàng hải, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền
kinh tế thế giới, các loại hình bảo hiểm cũng phát triển hết sức mạnh mẽ để đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế và mọi mặt của đời sống xã hội, văn hoá và giao lu
quốc tế.
2. ở Việt Nam:
Thời kỳ đầu, nhà nớc giao cho một công ty chuyên môn trực thuộc Bộ Tài
chính kinh doanh bảo hiểm đó là công ty Bảo hiểm Việt Nam nay là Tổng công
ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt). Công ty Bảo hiểm Việt Nam đợc
thành lập ngày 17/12/1964 theo Quyết định số 179/CP và chính thức đi vào hoạt
động ngày 15/1/1965.
Trớc năm 1964 Bảo Việt chỉ làm đại lý bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
cho công ty Bảo hiểm nhân dân Trung Quốc trong trờng hợp mua theo giá FOB,
CF và bán theo giá CIF với mục đích là học hỏi kinh nghiệm.
Từ năm 1965 - 1975 Bảo Việt mới triển khai ba nghiệp vụ bảo hiểm đối
ngoại trong đó có bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu. Từ sau 1970 Bảo Việt có
quan hệ tái bảo hiểm với Liên Xô (cũ), Ba Lan, Triều Tiên. Trớc đó Bảo Việt chỉ
có quan hệ tái bảo hiểm với Trung Quốc.
Từ năm 1975 - 1992 Bảo Việt đã triển khai thêm nhiều nghiệp vụ và mở rộng
phạm vi hoạt động. Từ chỗ chỉ có quan hệ tái bảo hiểm với một số nớc xã hội chủ
nghĩa cũ thì trong thời kỳ này Bảo Việt đã có quan hệ đại lý, giám định, tái bảo
hiểm với hơn 40 nớc trên thế giới. Năm 1965 khi Bảo Việt đi vào hoạt động, Bộ
Tài chính đã ban hành quy tắc chung về Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đ-
ờng biển. Gần đây, để phù hợp với sự phát triển thơng mại và ngành hàng hải của
đất nớc, Bộ Tài chính đã ban hành quy tắc chung mới - Quy tắc chung 1990
(QTC-1990) cùng với Luật Hàng hải Việt Nam. Quy tắc chung này là cơ sở pháp
lý chủ yếu điều chỉnh các vấn đề về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đờng biển.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang có những bớc phát triển mạnh

mang tính thảm hoạ gây ra tổn thất rất lớn thì chủ tàu và chủ hàng gặp rất nhiều
khó khăn về tài chính trong việc khắc phục hậu quả do các rủi ro đó gây ra. Vì
vậy, sự ra đời và việc tham gia bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đờng biển trở thành một nhu cầu rất cần thiết và nó có những tác
dụng sau:
Thứ nhất, giảm bớt rủi ro cho hàng hoá do hạn chế tổn thất nhờ tăng cờng bảo
quản kiểm tra đồng thời kết hợp các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất.
Thứ hai, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu cũng đem lại lợi ích cho nền kinh
tế quốc dân, góp phần tiết kiệm và tăng thu ngoại tệ cho nhà nớc. Khi các đơn vị
kinh doanh xuất nhập khẩu nhập hàng theo giá FOB, CF, xuất theo giá CIF, CIP
sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh của bảo hiểm trong nớc với nớc ngoài. Nhờ có hoạt
động bảo hiểm trong nớc các chủ hàng không phải mua bảo hiểm ở nớc ngoài,
nói cách khác là không phải xuất khẩu vô hình.
Thứ ba, khi các công ty có tổn thất hàng hoá xảy ra sẽ đợc bồi thờng một số
tiền nhất định giúp họ bảo toàn đợc tài chính trong kinh doanh. Số tiền chi bồi th-
bùi văn khoa bộ môn bảo hiểm
5
đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
ờng của các công ty hàng năm là rất lớn chiếm khoảng 60%-80% doanh thu phí
bảo hiểm.
Thứ t, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên tham gia bảo hiểm đã trở thành
nguyên tắc thể lệ và tập quán trong thơng mại quốc tế. Nên khi hàng hoá xuất
nhập khẩu gặp rủi ro gây ra tổn thất các bên tham gia sẽ đợc công ty bảo hiểm
giúp đỡ về mặt pháp lý khi xảy ra tranh chấp với tàu hoặc các đối tợng có liên
quan.
3. Vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng
biển :
Do đặc điểm của vận tải biển tác động đến sự an toàn cho hàng hoá đợc
chuyên chở là rất lớn. Vì vậy vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận

đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
iii. Những nội dung cơ bản của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đờng biển
1. Đặc điểm và trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình xuất nhập
khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đờng biển :
1.1. Đặc điểm quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đờng
biển.
- Việc xuất nhập khẩu hàng hoá thờng đợc thực hiện thông qua hợp đồng
giữa ngời mua và ngời bán với nội dung về: số lợng, phẩm chất, ký mã hiệu, quy
cách đóng gói, giá cả hàng hoá, trách nhiệm thuê tàu và trả cớc phí, phí bảo hiểm,
thủ tục và đồng tiền thanh toán...
- Trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá có sự chuyển giao quyền sở hữu
lô hàng hoá xuất nhập khẩu từ ngời bán sang ngời mua.
- Hàng hoá xuất nhập khẩu thờng đợc vận chuyển qua biên giới quốc gia,
phải chịu sự kiểm soát của hải quan, kiểm dịch... tuỳ theo quy định, thông lệ của
mỗi nớc. Đồng thời để vận chuyển ra (hoặc vào) qua biên giới phải mua bảo hiểm
theo tập quán thơng mại quốc tế. Ngời tham gia bảo hiểm có thể là ngời mua
hàng (ngời nhập khẩu) hay ngời bán hàng (ngời xuất khẩu). Hợp đồng bảo hiểm
thể hiện quan hệ giữa ngời bảo hiểm và ngời mua bảo hiểm đối với hàng hoá đợc
bảo hiểm. Nếu ngời bán hàng mua bảo hiểm thì phải chuyển nhợng lại cho ngời
mua hàng, để khi hàng về đến nớc nhập, nếu bị tổn thất có thể khiếu lại đòi ngời
bảo hiểm bồi thờng.
- Hàng hoá xuất nhập khẩu thờng đợc vận chuyển bằng các phơng tiện khác
nhau theo phơng thức vận chuyển đa phơng tiện, trong đó có tàu biển. Ngời vận
chuyển hàng hoá đồng thời cũng là ngời giao hàng cho ngời mua. Vì vậy ngời
chuyên chở là bên trung gian phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc hàng hoá
đúng quy cách, phẩm chất, số lợng từ khi nhận của ngời bán đến khi giao cho ng-
ời mua hàng.
Quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá có liên quan đến nhiều bên, trong đó có

cụ thể mà có thêm cớc phí vận chuyển và phí bảo hiểm. Có những điều kiện giao
hàng mà ngời bán không có trách thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm cho hàng
hoá. Nh vậy, tuy bán đợc hàng nhng dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm sẽ do ngời
mua đảm nhận (điều kiện FOB). Có trờng hợp giao hàng theo điều kiện mà ngoài
việc xuất khẩu đợc hàng hoá, ngời bán còn có trách nhiệm thuê tàu vận chuyển và
mua bảo hiểm cho hàng hoá (điều kiện CIF). Thực tế, các tập đoàn kinh tế hoạt
động trên nhiều lĩnh vực sản xuất, vận chuyển, bảo hiểm ... khi giao hàng theo
điều kiện nhóm C và D, bên cạnh việc bán hàng còn giành cho họ dịch vụ vận
chuyển và bảo hiểm cho số hàng đó. Vì vậy, nếu nhập khẩu hàng theo điều kiện
FOB, hay điều kiện CFR thì sẽ giữ đợc dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm, hay chỉ
dịch vụ bảo hiểm. Nếu trong hoạt động nhập khẩu, bán hàng theo gía CIF, ngời
bán cũng giữ đợc dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm. Nh vậy sẽ góp phần thúc đẩy
sự phát triển của ngành vận tải đờng biển và ngành bảo hiểm của quốc gia đó.
Nói chung, trách nhiệm của các bên liên quan đợc phân định nh sau:
- Trách nhiệm của ngời bán (bên xuất khẩu): phải chuẩn bị hàng hoá theo
đúng hợp đồng trong mua bán ngoại thơng về số lợng, chất lợng, quy cách, loại
hàng, bao bì đóng gói ...và tập kết hàng đến cảng tới ngày nhận, thông báo tàu
đến nhận chuyên chở, giao hàng cho tàu khi qua lan can an toàn mới hết trách
bùi văn khoa bộ môn bảo hiểm
8
đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
nhiệm về những rủi ro tai nạn đối với hàng hoá. Ngoài ra, ngời bán phải làm các
thủ tục hải quan, kiểm dịch, lấy giấy chứng nhận kiểm định phẩm chất, đóng gói
bao bì phải chịu đợc điều kiện vận chuyển bốc dỡ thông thờng. Cuối cùng, ngời
bán phải lấy đợc vận tải đơn sạch. Nếu bán hàng theo điều kiện CIF ngời bán còn
có trách nhiệm mua bảo hiểm cho lô hàng hoá sau đó ký hậu vào đơn bảo hiểm
để chuyển nhợng quyền lợi bảo hiểm cho ngời mua.
- Trách nhiệm của ngời mua (bên nhập khẩu): nhận hàng của ngời chuyên
chở theo đúng số lợng, chất lợng... đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợp

đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
2. Các loại rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đờng biển.
2.1. Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng
biển.
Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển
là những tai nạn, tai hoạ, sự cố xảy ra một cách bất ngờ ngẫu nhiên hoặc những
mối đe doạ nguy hại, khi xảy ra sẽ gây lên tổn thất cho đối tợng đợc bảo hiểm. Ví
dụ nh : tàu đắm, hàng mất, hàng bị đổ vỡ, h hỏng... Rủi ro trong xuất nhập khẩu
hàng hoá vận chuyển bằng đờng biển có nhiều loại, căn cứ vào nguồn gốc phát
sinh có thể phân rủi ro thành những loại sau:
* Thiên tai : Thiên tai là những hiện tợng tự nhiên mà con ngời không thể
chi phối đợc nh : biển động, bão, gió lốc, sét đánh, thời tiết xấu, sóng thần...
* Tai hoạ của biển: là những tai hoạ xảy ra đối với con tàu ở ngoài biển nh :
tàu bị mắc cạn, đâm va, đắm chìm, cháy nổ, tàu bị lật úp, mất tích... những rủi ro
này đợc gọi là những rủi ro chính.
* Các tai nạn bất ngờ khác: là những thiệt hại do các tác động ngẫu nhiên
bên ngoài, không thuộc những tai hoạ của biển nói trên. Tai nạn bất ngờ khác có
thể xảy ra trên biển nhng nguyên nhân không phải là một tai hoạ của biển, có thể
xảy ra trên bộ, trên không trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ hàng hoá, giao
nhận, lu kho, bảo quản hàng nh : hàng hoá bị vỡ, lát, hấp hơi, thiếu hụt, mất trộm,
mất cắp, không giao hàng ... những rủi ro này đợc gọi là những rủi ro phụ.
* Rủi ro do bản chất hoặc do tính chất đặc biệt của đối tợng bảo hiểm hoặc
những thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm chễ.
Theo nghiệp vụ bảo hiểm thì những rủi ro của hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đờng biển có thể đợc chia thành các loại sau đây:
* Rủi ro thông thờng đợc bảo hiểm: là những rủi ro đợc bảo hiểm một cách
bình thờng theo các điều kiện bảo hiểm gốc. Đây là những rủi ro mang tính bất
ngờ ngẫu nhiên xảy ra ngoài ý muốn của ngời đợc bảo hiểm nh: thiên tai, tai hoạ

bị mất mát, h hỏng, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn nh lúc mới
bảo hiểm nữa. Một tổn thất toàn bộ có thể là tổn thất toàn bộ thực tế hay tổn thất
toàn bộ ớc tính:
- Tổn thất toàn bộ thực tế là toàn bộ đối tợng bảo hiểm bị mất mát, h hỏng
hay bị phá huỷ toàn bộ, không lấy lại đợc nh lúc mới bảo hiểm nữa. Trong trờng
hợp này, ngời bảo hiểm phải bồi thờng toàn bộ giá trị bảo hiểm hoặc số tiền bảo
hiểm.
- Tổn thất toàn bộ ớc tính tức là thiệt hại, mất mát của đối tợng bảo hiểm cha
tới mức tổn thất toàn bộ nhng đối tợng bảo hiểm bị từ bỏ một cách hợp lý vì tổn
thất toàn bộ thực tế xét ra là không thể tránh khỏi hoặc những chi phí đề phòng,
phục hồi tổn thất lớn hơn giá trị của hàng hoá đợc bảo hiểm. Khi đối tợng là hàng
hoá bị từ bỏ, sở hữu về hàng hoá sẽ chuyển sang ngời bảo hiểm và ngời bảo hiểm
có quyền định đoạt về hàng hoá đó. Khi đó, ngời đợc bảo hiểm có quyền khiếu
nại đòi bồi thờng tổn thất toàn bộ.
Căn cứ vào tính chất tổn thất và trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất đợc chia
làm hai loại là tổn thất chung và tổn thất riêng:
* Tổn thất chung là những hy sinh hay chi phí đặc biệt đợc tiến hành một
cách cố ý và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏi
một sự nguy hiểm chung, thực sự đối với chúng. Khi xảy ra tổn thất chung chủ
hàng và ngời bảo hiểm phải điền vào Bản cam đoan, Giấy cam đoan đóng góp vào
bùi văn khoa bộ môn bảo hiểm
11
đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
tổn thất chung. Bản cam đoan, Giấy cam đoan này đợc xuất trình cho chủ hàng
hoặc thuyền trởng khi nhận hàng. Nội dung nói chung khi xảy ra tổn thất chung
ngời đợc bảo hiểm phải báo cho công ty bảo hiểm biết để công ty hớng dẫn làm
thủ tục không tự ý ký vào Bản cam đoan.
* Tổn thất riêng: là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hay một số quyền
lợi của các chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu. Nh vậy, tổn thất riêng chỉ liên

12
đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
3.1. Điều kiện bảo hiểm C (ICC- C).
3.1.1. Rủi ro đợc bảo hiểm :
- Cháy hoặc nổ;
- Tàu hay xà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp;
- Tàu đâm va nhau hoặc tàu, xà lan hay phơng tiện vận chuyển đâm và phải
bất kỳ vật thể gì bên ngoài không kể nớc hoặc bị mất tích;
- Dỡ hàng tại cảng lánh nạn;
- Phơng tiện vận chuyển đờng bộ bị lật đổ hoặc bị trật bánh;
- Hy sinh vì tổn thất chung;
- Ném hàng khỏi tàu.
3.1.2. Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác:
- Tổn thất chung và chi phí cứu hộ đợc điều chỉnh hay xác định bằng hợp
đồng vận tải hoặc theo luật lệ và tập quán hiện hành;
- Những chi phí và tiền công hợp lý cho việc dỡ hàng lu kho và gửi tiếp hàng
hoá đợc bảo hiểm tại cảng dọc đờng hay cảng lánh nạn do hậu quả của một rủi ro
thuộc phạm vi hợp đồng bảo hiểm;
- Những chi phí mà ngời đợc bảo hiểm hoặc đại lý của họ đã chi nhằm
phòng tránh hoặc giảm nhẹ tổn thất cho hàng hoá đợc bảo hiểm hoặc những chi
phí kiện tụng để đòi ngời thứ ba bồi thờng;
- Phần trách nhiệm mà ngời đợc bảo hiểm phải chịu theo điều khoản " hai
bên cùng có lỗi" ghi trong hợp đồng vận tải.
3.1.3. Rủi ro loại trừ :
Trừ khi có thoả thuận khác, ngời bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với
những mất mát, h hỏng hay chi phí gây ra bởi:
- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, khởi nghĩa hoặc hành động thù địch;
- Việc chiếm, bắt giữ, cầm giữ tài sản hoặc kiềm chế và hậu quả của chúng;
- Mìn, thuỷ lôi, bom hay những vũ khí chiến tranh khác đang trôi dạt;

- Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào do rơi khỏi tàu hoặc rơi trong
khi xếp hàng lên hay đang dỡ hàng khỏi tàu hoặc xà lan.
3.2.2. Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác:
Nh điều kiện C.
3.2.3. Rủi ro loại trừ:
Nh điều kiện C.
3.3. Điều kiện bảo hiểm A (ICC- A).
3.3.1. Rủi ro đợc bảo hiểm:
Theo điều kiện này, ngời bảo hiểm chịu trách nhiệm về mọi rủi ro gây ra
mất mát h hỏng cho hàng hoá bảo hiểm trừ những rủi ro đã đợc loại trừ. Rủi ro đ-
ợc bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm này bao gồm cả rủi ro chính (tàu mắc cạn,
đắm, cháy, đâm va nhau, đâm va phải những vật thể khác, mất tích...) và những
rủi ro phụ( h hỏng, đổ vỡ, cong, bẹp, gỉ, hấp hơi, thiếu hụt, trộm cắp, không giao
bùi văn khoa bộ môn bảo hiểm
14
đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
hàng ...) do tác động ngẫu nhiên bên ngoài trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ,
giao nhận, bảo quản, lu kho hàng hoá.
3.3.2.Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác:
Nh điều kiện B, C.
3.3.3.Rủi ro loại trừ:
Nh điều kiện B, C; loại trừ thiệt hại do hành động ác ý gây ra.
3.4. Điều kiện bảo hiểm chiến tranh:
Theo điều kiện này, ngời bảo hiểm phải bồi thờng những mất mát, h hỏng
của hàng hoá do:
- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc xung đột dân
sự xảy ra từ những biến cố đó hoặc bất kỳ hành động thù địch nào;
- Chiếm đoạt, bắt giữ, kiềm chế hoặc cầm giữ;
- Mìn, thuỷ lôi, bom hoặc các vũ khí chiến tranh khác;

* Khi giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng cuối cùng của ngời nhận hàng
hoặc một ngời nào khác tại nơi nhận có ghi tên trong hợp đồng bảo hiểm;
* Khi giao hàng cho bất kỳ kho hay nơi chứa hàng nào khác, dù trớc khi tới
hay tại nơi nhận hàng ghi trong hợp đồng bảo hiểm mà ngời đợc bảo hiểm dùng
làm:
- Nơi chia hay phân phối hàng hoặc
- Nơi chứa hàng ngoài hành trình vận chuyển bình thờng.
* Khi hết hạn 60 ngày kể từ khi hoàn thành việc dỡ hàng khỏi tàu biển tại
cảng dỡ cuối cùng ghi trên đơn bảo hiểm.
Trong quá trình vận chuyển nói trên nếu xảy ra chậm chễ ngoài sự kiểm soát
của ngời đợc bảo hiểm, tàu đi chệch hớng dỡ hàng bắt buộc, chuyển tải ngoại lệ
hoặc thay đổi hành trình thì hợp đồng bảo hiểm vẫn giữ nguyên hiệu lực với điều
kiện ngời đợc bảo hiểm phải thông báo cho ngời bảo hiểm biết về việc xảy ra và
phải trả thêm phí bảo hiểm nếu có yêu cầu.
4. Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng
biển.
4.1. Khái niệm:
Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển là
một văn bản trong đó ngời bảo hiểm cam kết sẽ bồi thờng cho ngời tham gia bảo
hiểm các tổn thất của hàng hoá theo các điều kiện bảo hiểm đã ký kết, còn ngời
tham gia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm.
4.2. Các loại hợp đồng:
Trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng
biển ngời ta chia ra làm hai loại hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng bảo hiểm chuyến
và hợp đồng bảo hiểm bao:
* Hợp đồng bảo hiểm chuyến: là hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng
đợc vận chuyển từ địa điểm này đến một địa điểm khác ghi trong hợp đồng bảo
hiểm. Ngời bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm về hàng hoá trong phạm vi một
chuyến. Hợp đồng bảo hiểm chuyến thờng đợc trình bày dới hình thức đơn bảo
hiểm hay giấy chứng nhận bảo hiểm do ngời bảo hiểm cấp. Đơn bảo hiểm chính

ơng thức thanh toán phí, giám định, bồi thờng...Trong hợp đồng phải có ba điều
kiện cơ bản sau:
- Điều kiện xếp hạng tàu đợc thuê chuyên chở hàng hoá sẽ đợc bảo hiểm
- Điều kiện về giá trị bảo hiểm
- Điều kiện về quan hệ trên tinh thần thiện chí.
Hợp đồng bảo hiểm bao có lợi ích cho cả ngời bảo hiểm và ngời đợc bảo
hiểm. Ngời bảo hiểm đảm bảo thu đợc một khoản phí bảo hiểm trong thời hạn
bảo hiểm. Ngời đợc bảo hiểm vẫn đợc ngời bảo hiểm chấp thuận bảo hiểm ngay
cả khi hàng đã xếp lên tàu vận chuyển rồi mà cha kịp thông báo bảo hiểm. Hợp
đồng bảo hiểm bao dùng để bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu thờng xuyên
khối lợng lớn vận chuyển làm nhiều chuyến. Điều khoản huỷ bỏ hợp đồng bảo
bùi văn khoa bộ môn bảo hiểm
17
đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
hiểm quy định cho phép một bên có thể huỷ bỏ hợp đồng hoặc bất kỳ một phần
nào của hợp đồng với điều kiện phải thông báo trớc (thờng là 30 ngày).
4.3. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm đợc in sẵn thành mẫu thờng bao gồm 2 mặt: mặt trớc
gồm các thông tin về ngời bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm và đối tợng bảo hiểm;
mặt sau in sẵn các quy định cơ bản về bảo hiểm. Mẫu của các nớc khác nhau có
thể khác nhau song hiện nay hầu hết các nớc, các công ty đều sử dụng mẫu đơn
bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm London từ tháng 4 năm 1982 theo quy định của
ICC-1982. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm bao gồm:
- Tên, địa chỉ, số hiệu tài khoản ở ngân hàng của ngời bảo hiểm và ngời đ-
ợc bảo hiểm.
- Tên hàng hoá đợc bảo hiểm, số lợng, trọng lợng, loại bao bì, cách đóng
gói...
- Loại tàu chuyên chở: tên tàu, tuổi tàu, cờ tàu, trọng tải, dung tích...
- Các xếp hàng lên tàu

4.3.2. Số tiền bảo hiểm:
Số tiền bảo hiểm là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm do ngời đợc bảo
hiểm yêu cầu và đợc bảo hiểm.
Về nguyên tắc, Số tiền bảo hiểm chỉ có thể nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảo
hiểm. Nếu số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm thì phần lớn hơn đó sẽ không
đợc bảo hiểm. Ngợc lại, nếu số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm tức là ngời
đợc bảo hiểm tự bảo hiểm lấy một phần thì ngời bảo hiểm cũng chỉ bồi thờng
trong phạm vi số tiền bảo hiểm đã đợc ghi trong hợp đồng. Nếu đối tợng bảo
hiểm đợc bảo hiểm trùng, tức là cùng một rủi ro, một giá trị bảo hiểm nhng lại đ-
ợc bảo hiểm ở nhiều công ty bảo hiểm khác nhau thì trách nhiệm của tất cả các
công ty bảo hiểm cũng chỉ giới hạn trong phạm vi số tiền bảo hiểm. Trong xuất
nhập khẩu nếu số tiền bảo hiểm chỉ bằng giá trị hoá đơn hay giá FOB hoặc giá
CFR thì ngời đợc bảo hiểm cha bảo hiểm đầy đủ giá trị hay nói cách khác là bảo
hiểm dới giá trị.
4.3.3. Phí bảo hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm:
Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà ngời đợc bảo hiểm phải trả cho ngời bảo
hiểm để đợc bồi thờng khi có tổn thất do các rủi ro đã thoả thuận gây lên. Phí bảo
hiểm thờng đợc tính toán trên cơ sở xác suất của những rủi ro gây ra tổn thất
hoặc trên cơ sở thống kê tổn thất của nhiều năm trên một loại hàng hoá đợc bảo
hiểm nhằm đảm bảo trang trải tiền bồi thờng và có lãi. Nh vậy phí bảo hiểm đợc
tính toán trên cơ sở tỷ lệ phí bảo hiểm và phụ thuộc vào số tiền bảo hiểm hoặc giá
trị bảo hiểm. Để lập công thức tính phí bảo hiểm cần có các chỉ tiêu sau:
R : là tỷ lệ phí bảo hiểm
I : là phí bảo hiểm
bùi văn khoa bộ môn bảo hiểm
19
R1
FC
CIF


Hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực ngay sau khi phí bảo hiểm đợc trả, ngời
bảo hiểm có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm nếu ngời đợc bảo hiểm không thực
hiện đúng nghĩa vụ trả phí bảo hiểm hoặc có quyền từ chối bồi thờng khi rủi ro
xảy ra.
bùi văn khoa bộ môn bảo hiểm
20
R1
FC
CIF

+
=
a)(1*
R1
FC
A
+

+
=
đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
5. Khiếu nại đòi bồi thờng trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đờng biển.
5.1. Nghĩa vụ của ngời đợc bảo hiểm khi xảy ra tổn thất.
Khi phơng tiện chuyên chở bị tai nạn và đe doạ đến sự an toàn cho hàng hoá
của ngời đợc bảo hiểm thì ngời đợc bảo hiểm phải có trách nhiệm thông báo cho
các cơ quan chức năng nơi gần nhất nh cơ quan hàng hải, cơ quan bảo hiểm ... để
các cơ quan này có biện pháp phối hợp theo dõi, phòng bị cho tàu và hàng hoá.
Nếu đợc thông tin hay phát hiện thấy thực tế hàng hoá bị tổn thất thì ngời đợc bảo

đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
- Tổn thất thuộc một rủi ro đợc bảo hiểm;
- Mức độ tổn thất;
- Thực hiện nguyên tắc thế quyền để ngời bảo hiểm có thể đòi đợc ngời thứ
ba bồi thờng.
Hồ sơ khiếu nại đòi bồi thờng phải bao gồm các loại giấy tờ sau đây:
1- Đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm (bản gốc)
2- Vận đơn đờng biển (bản gốc) và hợp đồng thuê tàu (nếu có)
3- Hoá đơn thơng mại
4- Hoá đơn về các chi phí khác (nếu có)
5- Giấy chứng nhận trọng lợng, số lợng
6- Biên bản kết toán nhận hàng với tàu
7- Phiếu đóng gói
8- Văn bản, giấy tờ liên quan tới việc đòi ngời thứ ba bồi thờng và trả lời
(nếu có)
9- Kháng nghị hàng hải hoặc nhật ký hàng hải
10- Th khiếu nại có ghi rõ số tiền yêu cầu bồi thờng
11- Biên bản bất thờng về hàng hoá vận chuyển
12- Biên bản giám định .
Sau khi kiểm tra chứng từ và thanh toán bồi thờng, mọi khoản khiếu nại và
quyền khiếu nại của ngời đợc bảo hiểm đối với ngời thứ ba đều đợc chuyển cho
ngời bảo hiểm mà giới hạn là số tiền đã bồi thờng. Ngời đợc bảo hiểm muốn
khiếu nại tổn thất toàn bộ ớc tính cho hàng hoá đợc bảo hiểm, phải gửi thông báo
từ bỏ hàng cho ngời bảo hiểm.Thông báo phải đa ra không chậm trễ, với mục
đích để cho ngời bảo hiểm có cơ hội giảm thiểu hay ngăn ngừa tổn thất (nh bán
hàng dọc đờng). Thông báo từ bỏ hàng phải làm thành văn bản và trong mọi trờng
hợp phải cho biết ý định của ngời đợc bảo hiểm là từ bỏ không điều kiện mọi
quyền lợi về hàng hoá đợc bảo hiểm cho ngời bảo hiểm. Nếu ngời bảo hiểm chấp
nhận thông báo từ bỏ hàng nghĩa là ngời bảo hiểm chấp nhận trách nhiệm bồi th-

một bên trung gian làm giám định viên độc lập. Biên bản giám định là chứng th
quan trọng trong việc đòi bồi thờng, vì vậy khi hàng đến cảng đến có tổn thất phải
yêu cầu giám định ngay (không muộn hơn 60 ngày kể từ ngày dỡ hàng khỏi tàu).
Cơ quan giám định phải là cơ quan đợc chỉ định trong hợp đồng bảo hiểm hoặc cơ
quan đợc ngời bảo hiểm uỷ quyền.
6.2. Bồi thờng tổn thất.
6.2.1. Nguyên tắc: Các công ty bảo hiểm của Việt nam tính toán và bồi thờng tổn
thất trên cơ sở các nguyên tắc sau:
- Bồi thờng bằng tiền chứ không phải bằng hiện vật. Đồng tiền bồi thờng là
đồng tiền đã đợc thoả thuận trong hợp đồng, nếu không có thoả thuận thì nộp phí
bằng đồng tiền nào sẽ đợc bồi thờng bằng đồng tiền đó.
- Về nguyên tắc, trách nhiệm của ngời bảo hiểm chỉ giới hạn trong phạm vi
số tiền bảo hiểm. Tuy nhiên, khi cộng tiền tổn thất với các chi phí: cứu hộ, giám
định, đánh giá và bán lại hàng hoá bị tổn thất, chi phí đòi ngời thứ ba bồi thờng,
tiền đóng góp vào tổn thất chung thì dù có vợt quá số tiền bảo hiểm ngời bảo
hiểm vẫn bồi thờng dựa trên quy định trong điều khoản đã thoả thuận của hợp
đồng bảo hiểm.
- Khi thanh toán tiền bồi thờng, ngời bảo hiểm có thể khấu trừ những khoản
thu nhập của ngời đợc bảo hiểm trong việc bán hàng và đòi ngời thứ ba.
bùi văn khoa bộ môn bảo hiểm
23
đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
6.2.2. Cách tính toán bồi thờng tổn thất:
* Đối với tổn thất chung:
Khi có tổn thất chung xảy ra chủ tàu có quyền chỉ định một công ty hay một
chuyên viên giám định tính toán tổn thất chung, phân bổ tổn thất chung cho các
quyền lợi trên tàu. Các quyền lợi, lợi ích trên tàu bao gồm: tàu, hàng và cớc phí.
Nhiệm vụ của chuyên viên tính tổn thất chung là trên cơ sở chứng từ giấy tờ có
liên quan xác định những hy sinh và những chi phí nào đợc công nhận là tổn thất

tiền bảo hiểm hay giá trị bảo hiểm. Khi đó số tiền bồi thờng bằng số tiền bảo
hiểm hoặc giá trị bảo hiểm.
-Nếu là tổn thất toàn bộ ớc tính, khi ngời đợc bảo hiểm thông báo từ bỏ hàng
cùng với các thủ tục cần thiết mà ngời bảo hiểm chấp thuận thì sẽ đợc bồi thờng
bùi văn khoa bộ môn bảo hiểm
24
đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt
nghiệp
toàn bộ và ngợc lại nếu ngời đợc bảo hiểm không thông báo từ bỏ hàng hay ngời
bảo hiểm không chấp thuận thì chỉ đợc bồi thờng nh tổn thất bộ phận.
-Tổn thất bộ phận: Về nguyên tắc thì số tiền bảo hiểm đợc tính nh sau:
Số tiền bồi
thờng
= Tỷ lệ tổn thất * Số tiền bảo hiểm
=
Tổng giá trị tổn thất tại cảng dỡ hàng
* STBH
Tổng giá trị hàng hoá
Với cách tính nh vậy, đợc bồi thờng sẽ đảm bảo tính chính xác trong trờng
hợp giá cả hàng hoá có biến động lớn (tăng hoặc giảm) kể từ lúc bắt đầu bảo
hiểm cho đến khi hàng đến cảng đến. Tuy nhiên trong thực tế, khi tính toán bồi
thờng tổn thất, các công ty bảo hiểm Việt Nam hầu nh không tính đến yếu tố biến
động về giá cả trên thị trờng hay nói cách khác coi nh giá cả không biến động kể
từ lúc bắt đầu bảo hiểm cho đến khi tính toán bồi thờng tổn thất. Việc tính toán
bồi thờng tổn thất bộ phận ở Việt nam thờng xảy ra các trờng hợp sau:
Bồi thờng tổn thất do đổ vỡ, h hỏng, thiếu hụt, giảm phẩm chất... có biên
bản giám định chứng minh. Trong trờng hợp này số tiền bồi thờng là:
STBT = Tỷ lệ tổn thất * Số tiền bảo hiểm
Tỷ lệ tổn thất ở đây chính là mức giảm giá trị thơng mại ghi trên biên bản
giám định. Nếu biên bản giám định không ghi mức giảm giá trị thơng mại mà chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status