UBND HUYỆN KRÔNG ANA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Tên đề tài:
Một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp
cho trẻ dân tộc thiểu số 5 – 6 tuổi
Lĩnh vực: Phát triển ngôn ngữ
Họ và tên tác giả: Vũ Thị Lợi
Đơn vị: Trường Mầm non Sơn Ca
Dray Sáp, tháng 03 năm 2019
MỤC LỤC
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU...................................................................................1
I. Đặt vấn đề..........................................................................................................1
II. Mục tiêu nghiên cứu:........................................................................................3
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ..............................................................3
I. Cơ sở lí luận của vấn đề:....................................................................................3
II. Thực trạng vấn đề:............................................................................................5
III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:............................................8
IV. Tính mới của giải pháp:.................................................................................18
V. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm:....................................................................19
Phần thứ ba: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.........................................................20
1. Kết luận:..........................................................................................................20
2. Kiến nghị:........................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................24
thì đó là vấn đề bất cập, để vận động trẻ đến tuổi ra lớp gặp rất nhiều khó
khăn. Bên cạnh đó việc bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trẻ đã gây ra nhiều
khó khăn trong việc giao tiếp, mặt khác phụ huynh chưa hiểu hết vấn đề về
học tập. Con cái muốn học hành thế nào cũng được, họ ít quan tâm đến việc
học của con em mình. Đối với trẻ thì không muốn đi học vì đi học thì sẽ bị
gò bó trong khuôn khổ, trẻ thích theo cha mẹ đi lên rẫy để săn bắn chim,
chăn trâu, chăn bò. Mặt khác còn một số hạn chế như: Trẻ nhút nhát, tự ti
và lung túng khi đứng trước đám đông, chưa có kỹ năng hợp tác, làm việc
theo nhóm, chưa có kỹ năng thích ứng, kỹ năng giải quyết vấn đề, đặc biệt
kiến thức còn nghèo nàn. Chính vì thế giáo viên phải đến tận nhà của trẻ để
vận động phụ huynh cho con đi học. Khi đến lớp các cháu tỏ ra e ngại, rụt
rè, sợ cô không muốn đi học vì trẻ không biết giao tiếp bằng Tiếng Việt mà
chỉ biết nói tiếng bản địa.
Trẻ dân tộc thiểu số có nhiều nhu cầu khác nhau cần được hỗ trợ khi
đến trường mầm non, một trong những nhu cầu quan trọng nhất đối với trẻ
dân tộc thiểu số là phát triển ngôn ngữ nói chung và tăng cường Tiếng Việt.
Điều này chứng minh trong báo cáo FDI năm 2012 và 2014 ( Bộ giáo dục và
đào tạo) về kết quả phát triển của trẻ em vùng dân tộc thiểu số ở các lĩnh
vực khác nhau. Kết quả báo cáo trên đã gợi ý cho chúng ta cần phải tập
trung vào lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và giao tiếp trong quá trình giáo
dục trẻ em vùng dân tộc thiểu số. Chính vì vậy chúng ta cùng nhìn nhận và
thực hiện tốt việc giáo dục kỹ năng sống nói chung và kỹ năng giao tiếp nói
riêng cho trẻ. Bên cạnh đó, cần có những biện pháp cụ thể mang tính đặc
thù cho nền giáo dục mầm non nói chung và cho nền giáo dục kỹ năng sống,
kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số nói riêng đây là yêu cầu cần thiết
và khách quan trong sự phát triển.
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những giải pháp giáo dục kỹ năng
giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số tại lớp lá 5 trường Mầm non Sơn Ca xã
lớn đến sự phát triển nền giáo dục phổ thông, đây là bậc học đầu tiên là
nền tảng để trẻ học lên các lớp trên, chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1.
Góp phần phổ cập tiểu học đúng độ tuổi. Đồng thời mục tiêu giáo dục mầm
non là giúp trẻ nhận thức phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm xã hội.
3
Song vị trí của phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non tương đối đặc
biệt vì từ sự phát triển ngôn ngữ sẽ tham gia trực tiếp vào sự phát triển của
các lĩnh vực khác. Bởi ngôn ngữ là phương tiện giao lưu tình cảm, phương
tiện để trẻ nhận thức khám phá tự nhiên.
Tiếng Việt là một môn học hết sức quan trọng đối với tất cả các bậc
học của nước ta hiện nay. Với trẻ là người dân tộc thiểu số, việc tăng cường
Tiếng việt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ dân tộc là một trong
những vấn đề đang được các cấp các ngành các trường học đặc biệt quan
tâm. Nghị quyết 40/2002/NQ-QH của quốc hội khóa IX về đổi mới giáo dục
phổ thông đã khẳng định: Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông được đưa vào
dạy học thống nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tiếng việt trong nhà
trường tồn tại với hai tư cách: Vừa là một môn học vừa là công cụ giao tiếp,
học tập của trẻ. Do đó trình độ Tiếng Việt (vốn từ, kiến thức về tiếng việt và
kỹ năng sử dụng vốn từ trong học tập, giao tiếp) có vai trò và ảnh hưởng
rất quan trọng đối với khả năng giao tiếp và lĩnh hội các kiến thức của trẻ.
Mục đích của giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số là
nhằm phát triển toàn diện nhân cách nói chung và phát triển năng lực hành
động của trẻ nói riêng trong các mối quan hệ của trẻ ở gia đình, nhà trường
và xã hội. Mục đích của quá trình giáo dục đó phải là hướng tới là hình
thành ở trẻ các kỹ năng hành vi, biết biểu lộ thái độ, quan điểm của mình
trong giao tiếp với người khác. Đó là trẻ có kĩ năng chào hỏi, nói lời cảm ơn,
xin lỗi, biết cách lễ phép với người lớn tuổi, có kỹ năng chia sẽ với người
thân, bạn bè, những người xung quanh niềm vui và nỗi buồn biết tự nhận
tiếng mẹ đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học. Sở dĩ như vậy là do Tiếng việt không
phải là một phương tiện sử dụng dễ dàng đối với học sinh dân tộc thiểu số. Ở
lớp trẻ mới dùng Tiếng việt nói với giáo viên khi cần thiết còn ngoài ra trẻ vẫn
thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, dẫn đến tình trạng cô
và trò không hiểu nhau dẫn đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ không thể đạt
được kết quả như mong muốn. Vì vậy việc cung cấp Tiếng việt cho trẻ dân tộc
thiểu số là hoạt động cần thiết nhằm giúp học sinh chưa biết hoặc biết ít Tiếng
5
Việt có thể học tập và sử dụng Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức một cách đơn
giản hơn.
II. Thực trạng vấn đề:
Trong những năm gần đây được sự quan tâm của sở giáo dục và đào tạo, sự
chỉ đạo sát sao của bậc học Mầm non. Hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp cho
trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ dân tộc thiểu số nói riêng đã dần được đưa vào
một chuyên đề quan trọng.
Được sự chỉ đạo sát sao của cán bộ chuyên môn phòng Giáo dục và Đào
tạo sự quan tâm của chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể sự ủng
hộ nhiệt tình của quý phụ huynh và Ban Giám Hiệu nhà trường thường xuyên
quan tâm, hỗ trợ kinh phí, đồ dùng học tập chuyên môn nhà trường thường
xuyên phân công dạy mẫu, thao giảng để bản thân cũng như các đồng nghiệp
học hỏi đúc rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng giảng dạy cũng như năng
lực chuyên môn.
Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số trước khi tới trường đều sống hoàn toàn trong
môi trường tiếng mẹ đẻ, không có vốn Tiếng việt ban đầu nên việc giáo dục kỹ
năng giao tiếp Tiếng việt còn khó khăn, do điều kiện kinh tế khó khăn đa số phụ
huynh ở đây không biết chữ, phần lớn gia đình đều làm nông nhận thức của bố
mẹ còn hạn chế vì thế con em của họ không có điều kiện thuận lợi như những
đứa trẻ ở thành thị.
Được phân công giảng dạy tại lớp lá 5, nơi có 100% trẻ là người dân tộc
thiểu số, đa số trẻ có bản tính là nhút nhát môi trường sống chỉ bó hẹp trong
phạm vi gia đình và chòm xóm, thiếu môi trường giao tiếp dẫn đến thiếu kỹ
năng, trong các giờ học giáo viên lại thiếu quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng
7
giao tiếp cho trẻ sẽ dẫn đến thực trạng. Do đó bản thân đã nghĩ mình phải làm
sao? Làm như thế nào để cho trẻ không nhút nhát, tự ti. Bản thân đã mạnh dạn
tăng cường những nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp chưa được tiến hành
thường xuyên nhằm giúp trẻ tự tin, tự chủ bộc lộ thái độ và hành vi, kỹ năng
trong các hoạt động.
Việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ hiện nay chưa mang lại kết quả
như mong muốn, những biện pháp đã sử dụng trước đây như tạo môi trường,
tích hợp lồng ghép, thông qua hoạt động vui chơi chưa đạt hiệu quả cao cụ thể
như: Vào đầu năm học, tôi đã chủ động kiểm tra, khảo sát trẻ 35 trẻ lớp lá 5
trường Mầm non Sơn Ca để thấy được thực trạng sử dụng những kỹ năng giao
tiếp hằng ngày của trẻ đạt kết quả như sau:
Những kỹ năng giao tiếp hằng ngày
của trẻ
Trẻ lắng nghe thấu hiểu
Nói lời yêu cầu đề nghị
Xử lý tình huống
Giải quyết vấn đề
Nói lời cảm ơn, xin lỗi
Chào hỏi
Tự chủ trong giao tiếp
Nói lời từ chối yêu cầu, đề nghị
8
để thực hiện trong thời gian vừa qua và thời gian tiếp theo tại lớp đạt hiệu quả
nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục.
III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
Nhằm đánh giá đúng thực trạng và tình hình trên tôi đã mạnh dạn đưa ra
các biện pháp và mục tiêu chính của giải pháp để giải quyết vấn đề về giáo dục
kỹ năng giao tiếp cho trẻ em người dân tộc thiểu số. Giúp trẻ phát triển toàn diện
các lĩnh vực như: Phát triển về thể chất, tình cảm, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm
mỹ. Hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp
1, hình thành ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất
mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi
dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở
cấp học tiếp theo và cho việc học suốt đời. Giúp giáo viên làm tốt công tác
giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ để đạt được hiệu quả cao hơn. Nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng tư vấn tuyên truyền kiến thức nuôi
dạy con theo khoa học với các bậc cha mẹ cho toàn thể đội ngũ giáo viên và
cán bộ quản lý của trường.
Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho
giáo viên về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
Bản thân tôi nhận thấy việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong nhà trường
là việc làm thường xuyên, liên tục theo kế hoạch hàng tháng, hàng tuần của Ban
giám hiệu nhà trường. Đặc biệt là vấn đề dạy kỹ năng giao tiếp cho trẻ trong
9
trường mầm non còn mới mẻ và rất nhiều giáo viên còn chưa hiểu rõ được tầm
quan trọng của vấn đề hoặc thiếu kỹ năng giảng dạy để có thể truyền đạt cho trẻ
hiểu và hình thành cho trẻ những kỹ năng giao tiếp cần thiết cho trẻ. Vì vậy ngay
từ đầu năm học nhà trường đã tiến hành họp chuyên môn và nêu nhiệm vụ trọng
tâm của trong năm học, trong đó nhấn mạnh đến việc đưa các kỹ năng dạy trẻ
tập làm một số công việc tự phục vụ, chú ý yếu tố cá nhân của trẻ.
thời trang… Ví dụ: Trẻ tự tin đứng trước mọi người giới thiệu tên của mình và
hát 1 bài hát yêu thích.
+ Kỹ năng lao động tự phục vụ: Trẻ ở lứa tuổi MN còn rất vụng về, khi để
trẻ tự xúc ăn có thể bố, mẹ hoặc cô giáo thấy trẻ lúng túng thì lại đút cho trẻ ăn
để tránh rơi vãi, hoặc là khi đến lớp bố mẹ không để cho con cất giầy dép, cởi
bớt áo khoác, cất ba lô mà lại làm giúp cho con. Nhưng giáo viên phải xác định
rằng đó là cách trẻ học làm người lớn, để cho trẻ tự cần thìa xúc cơm ăn, lúc đầu
có thể chưa quen nhưng sau đó dần dần trẻ sẽ thành thục trong việc tự phục vụ
cho mình trong ăn uống. VD: Tự đi giày dép, uống nước, tự lấy nệm, lấy gối cho
mình (trẻ lớp mầm)…tự mặc quần áo, cùng với cô và các bạn kê dọn bàn ăn, tự
đánh răng sau khi ăn, tự rửa mặt …
+ Kỹ năng sống hợp tác: Khi dạy trẻ kỹ năng hợp tác cần giúp trẻ hiểu có
những công việc một mình sẽ không thể làm được. VD Trong giờ hoạt động góc
trẻ hợp tác cùng bạn xây dựng ngôi nhà, khu vui chơi… Chính vì vậy phải có sự
hợp tác của các thành viên trong nhóm.
+ Kỹ năng ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một trong những kỹ
năng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này. Giáo viên cần sử dụng
nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để khêu gợi tính tò mò tự nhiên của trẻ.
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các hoạt động và tư
liệu mang tính chất khác lạ thường khêu gợi trí não nhiều hơn là những thứ có
thể đoán trước được. VD: Trong giờ Khám phá khoa học “ Một số con vật
nuôi trong gia đình” trẻ được quan sát các con vật, từ đó tìm hiểu xem con
11
vật đó lông của nó như thế nào hay vì sao con gà lại dùng chân bới xuống đất
để làm gì….
+ Dạy trẻ biết nói lời cảm ơn, xin lỗi: Ngay từ khi còn bé, nếu trẻ hiểu
được nên dùng những lời cảm ơn và xin lỗi trong hoàn cảnh phù hợp thì sẽ rất
có lợi cho việc hình thành nhân cách của trẻ sau này. Cho nên giáo viên cần phải
thường xuyên hơn ở trong tất cả các hoạt động.
Biện pháp 2: Tổ chức hoạt động tăng cường Tiếng Việt trong việc giáo dục
kỹ năng giao tiếp cho trẻ .
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người trong xã
hội. Ngôn ngữ chính là quá trình con người sử dụng tiếng nói để giao tiếp với
nhau. Trong quá trình giao tiếp, con người biểu hiện ý nghĩ và cảm xúc nhờ
tiếng nói, do đó để hiểu nhau cùng tiến hành các hoạt động. Thế nhưng đối với
trẻ dân tộc thiểu số ở đây mà nói môi trường giao lưu hạn chế, trẻ thường sử
dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp với nhau, trẻ học Tiếng việt với tư cách là ngôn
ngữ thứ hai trẻ thường phát âm không chuẩn và có thói quen sử dụng tiếng mẹ
đẻ trong giao tiếp và vui chơi kể cả khi ở trong lớp. Bên cạnh đó hiểu biết về
cuộc sống và kỹ năng tiếng mẹ đẻ của trẻ kém ảnh hưởng đến việc tiếp nhận
Tiếng Việt của trẻ.Một trong những nhu cầu quan trọng nhất đối với nhóm trẻ ở
đây là phát triển ngôn ngữ nói chung và tăng cường tiếng việt. Điều này đã được
chứng minh trong báo cáo EDI nă 2012 và 2014 (Bộ giáo dục và đào tạo ) và kết
quả phát triển của trẻ em vùng dân tộc thiểu số ở các lĩnh vực khác nhau. Kết
quả báo cáo trên cho chúng ta thấy cần tập trung vào lĩnh vực phát triển ngôn
ngữ và giao tiếp trong quá trình giáo dục trẻ dân tộc thiểu số.
Nắm rõ được tầm quan trọng của việc tăng cường tiếng việt đối với trẻ dân
tộc thiểu số dựa vào kế hoạch của năm học, bản thân đã đưa hoạt động “Tăng
cường tiếng việt” vào xây dựng kế hoạch của mình theo từng tháng, tuần và
ngày phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ và được chuyên môn xét duyệt.
13
Qua đó bản thân được trang bị đầy đủ về nội dung, phương pháp và cách thức tổ
chức tại lớp về tăng cường tiếng việt cho trẻ em dân tộc thiểu số.
Bản thân nhận thấy rằng khi bắt đầu học tiếng việt mục tiêu đầu tiên là hiểu
được nghĩa: Tạo giao tiếp tốt với trẻ bằng ánh mắt, mỉm cười thể hiện niềm vui
khi nói chuyện với trẻ tránh chất vấn trẻ và trò chuyện một cách tự nhiên với trẻ
nơi bản thân nhận thấy ngôn ngữ của trẻ phát triển đáng kể. Trẻ tự tin mạnh dạn
hơn, không rụt rè, nhút nhát. Trẻ có thể sử dụng thành thạo Tiếng Việt mà ít nói
tiếng mẹ đẻ hơn.Từ đó trẻ mạnh dạn giao tiếp với cô giáo với bạn bè hơn.
15
Hình 3: Tạo môi trường tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số mọi
lúc mọi nơi.
Biện pháp 3: Tăng cường giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu
số thông qua các góc hoạt động.
Lớp học, trường học là môi trường thuận lợi trong việc phát triển tri thức tư
duy và ngôn ngữ giao tiếp; lớp học và trường học như một xã hội thu nhỏ, ở đó
các em được học tập, vui chơi khám phá và tìm tòi. Trẻ sẽ được hòa mình vào
những mối quan hệ giao tiếp rộng hơn.
Đối với trẻ mầm non chơi mà học, học bằng chơi, hoạt động vui chơi chiếm
vai trò chủ đạo trong hoạt động của trẻ lúc ở trường. thông qua giờ chơi trẻ đóng
vai khác nhau trong xã hội, đóng vai và tái hiện lại những gì trẻ đã thấy trong
giao tiếp hằng ngày. Tất cả những kiến thức và kinh nghiệm cuộc sống mà trẻ có
sẽ được thể hiện qua hoạt động vui chơi. Chính vì vậy tôi rất chú trọng đến việc
tạo tình huống khi trẻ đóng vai để trẻ tìm cách giải quyết, cũng như quan sát
những điều trẻ thể hiện được những kiến thức mà trẻ có.
16
Hằng ngày khi đến lớp được tham gia vào góc hoạt động qua đó kỹ năng
giao tiếp càng được cải thiện như:
Đối với góc sách thư viện trẻ được lắng nghe cô và bạn, trẻ bắt chước
những từ hoặc câu nói trong chuyện, trẻ tự kể, trả lời câu hởi và những từ mới.
tả , kể mình vẽ cái gì?
- Đối với góc xây dựng, lắp ghép: Trẻ được cung cấp nhiều cơ hội để
phát triển óc tưởng tượng, sang tạo, giúp phát triển kỹ năng giao tiếp, ở đây
trẻ được lắng nghe, trao đổi thảo luận với bạn, lắng nghe ý kiến của bạn, đề
nghị bạn giúp đỡ, chia sẽ đồ chơi, hợp tác giúp đỡ bạn, được miêu tả những gì
mình đã xây dựng.
- Đối với góc âm nhạc: Trẻ được lắng nghe giai điệu, nhịp điệu âm thanh
nhận ra những âm thanh từ những nhạc cụ khác nhau.
Trong mỗi giờ lên lớp, trong mỗi hoạt động bản thân đều khuyến khích trẻ
chủ động trong giờ học không những tăng cường mối quan hệ giữa cô và trẻ mà
còn giúp trẻ có cơ hội được thể hiện ;được trải nghiệm thực tế và kỹ năng của
mình khắc phục tính nhút nhát và thiếu tự tin trong giao tiếp. Chính vì thế trẻ
cảm thấy lúc ở bên cô sẽ được an toàn, trẻ chủ động mạnh dạn khi giao tiếp với
bạn bè và cô giáo. Trẻ hạn chế nói trống rỗng, nói tục mà biết sử dụng những
18
ngôn ngữ giao tiếp đơn giản, biết thể hiện sắc thái phù hợp hơn nâng cao chất
lượng giáo dục hơn so với đầu năm học.
Biện pháp 4: Sử dụng phương pháp nêu gương trong các hoạt động hằng ngày.
Phương pháp nêu gương là giáo viên dùng những tấm gương sáng của cá
nhân hoặc của tập thể về thực hành kỹ năng giao tiếp để kích thích trẻ học tập và
làm theo, bên cạnh đó giáo viên cũng có thể sử dụng những hành vi không tốt,
phản diện để giúp đỡ trẻ phân tích, đánh giá và tránh những hành vi tương tự.
Phương pháp nêu gương có vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục
kỹ năng giao tiếp, giúp trẻ phát triển được năng lực phê phán và năng lực
đánh giá hành vi của mình, hành vi của người khác từ đó rút ra những kết
luận thiết thực đối với bản thân trong quá trình học tập cũng như rèn luyện kỹ
năng giao tiếp.
Như vậy, thông qua phương pháp nêu gương, giáo viên giúp trẻ học và làm
đến những hành vi của trẻ, kịp thời thông báo đến cô và nhà trường những hành
vi không đúng của trẻ khi ở nhà. Nói cho phụ huynh biết giáo dục chính là yếu
tố quyết định về nhân cách con người sau này. Chính vì thế phụ huynh cần hình
thành cho trẻ kỹ năng giao tiếp ngay từ đầu như: Trẻ biết chào hỏi, biết nói lời
cảm ơn, biết thành thật nói lời xin lỗi người lớn hay bạn bè khi làm sai, biết lắng
nghe người khác nói, biết giải quyết những vấn đề đơn giản …dần dần sẽ tạo
thành thói quen.
20
Hình 1: Khai giảng năm học
IV. Tính mới của giải pháp:
Với những biện pháp cũ, phương pháp dạy học không thay đổi, cô giáo áp
đặt các hình thức hoạt động, trẻ chỉ thụ động, nhàm chán, làm cho trẻ càng ngày
càng ít hứng thú, không tích cực tham gia vào hoạt động.
Còn với những biện pháp mới, giáo viên tìm hiểu, nắm rõ tâm tư nguyện
vọng của từng trẻ, cho trẻ hoạt động một cách tích cực, chú trọng thay đổi hình
thức để tăng tính kích thích, sáng tạo, hứng thú cho trẻ với nhiều hình thức,
thông qua các hoạt động hằng ngày của trẻ. Ban đầu mức độ sử dụng các kỹ
năng giao tiếp của trẻ chưa được cao, có thành thạo nhưng chiếm tỷ lệ tương đối
thấp. Các kỹ năng đơn giản như kỹ năng chào hỏi, kỹ năng nói lời cảm ơn, xin
lỗi có bước phát triển tốt. Bản thân đã tự tin, sáng tạo hơn trong việc dạy kỹ
năng giao tiếp cho trẻ. Cùng kết hợp với phụ huynh, tạo niềm tin với phụ huynh,
với trẻ. Bản thân dám nghĩ, dám làm, khắc phục mọi khó khăn để giúp trẻ có
được những kỹ năng giao tiếp ngay từ khi còn nhỏ. Mang lại hiệu quả thiết thực,
giúp trẻ hứng thú với hoạt động, trẻ được phát huy tính tích cực, chủ động của
bản thân và mang lại kết quả trên trẻ cao hơn. Phụ huynh thường xuyên phối
hợp chặt chẽ với cô giáo trong việc dạy trẻ các kỹ năng giao tiếp trao đổi với
21
Qua một thời gian tôi sử dụng các biện pháp trên áp dụng cho các cháu ở lớp
lá 5, tôi thấy có sự chuyển biến một cách rõ rệt và kết quả có sự chênh lệch giữa tỉ
lệ trước khi thực hiện đề tài và sau khi thực hiện đề tài như sau:
Những kỹ năng giao
Trước khi
Tỷ lệ
Sau khi thực
Tỷ lệ
tiếp hằng ngày của trẻ
chưa thực hiện
hiện giải pháp
tăng so
biện pháp
Tháng 9/2018
với
37%
42%
34%
28%
33/35
32/35
30/35
31/35
32/35
32/35
30/35
31/35
94%
91%
85%
88%
91%
91%
85%
88%
BP
52%
57%
57%
57%
54%
49%