skkn một số KINH NGHIỆM tạo HỨNG THÚ CHO học SINH TRONG GIỜ dạy TIẾNG ANH KHỐI 6,7,8 ở TRƯỜNGTHCS lê QUÝ đôn - Pdf 54

PHÒNG GD & ĐT KRÔNG ANA
TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
TRONG GIỜ DẠY TIẾNG ANH KHỐI 6,7,8
Ở TRƯỜNGTHCS LÊ QUÝ ĐÔN

Họ và tên: ĐỖ THỊ DỊU
Đơn vị công tác: TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN
Trình độ: ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TIẾNG ANH

Krông Ana, tháng 03 năm 2019


MỤC LỤC
Trang


Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiếng Anh ngày càng trở nên phổ biến, nó được xem là cầu nối con người
từ những nước khác nhau trên thế giới xích lại gần nhau hơn. Hơn thế nữa nhờ
có Tiếng Anh mà con người đã có được những bước tiến đáng kể trong nhiều
lĩnh vực. Việc học Tiếng Anh là quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết.
Tuy nhiên, Tiếng Anh là một môn học khá khó đối với học sinh, đặc biệt
là học sinh ở vùng khó khăn. Vì vậy, chúng tôi luôn trăn trở với câu hỏi làm thế
nào để có được một giờ dạy hiệu quả và sinh động, gây được hứng thú với học
sinh, khiến các em phát huy được vai trò chủ động sáng tạo trong việc lĩnh hội
kiến thức cùng một lượng từ vựng khô khan.

1


hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em yêu thích, say mê môn học để góp
phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Anh.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Việc tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh mà tôi đưa ra
trước hết nhằm khơi được hứng thú học Tiếng Anh cho học sinh THCS, giảm
được sự ức chế tối đa trong một giờ học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng
tạo của học sinh, giúp cho học có điều kiện sử dụng Tiếng Anh một cách tự
nhiên, hình thành và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực hiện quá
trình giao tiếp thực tế và cũng là để củng cố, ôn tập lại những kiến thức, khắc
sâu lại những kiến thức đã học một cách thường xuyên, có hiệu quả. Sau nữa là
để nâng cao nghiệp vụ công tác của bản thân, và để trao đổi kinh nghiệm với các
đồng nghiệp của mình.

2


Phần thứ 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
Trong đề án 1400 về "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục
quốc dân giai đoạn 2008 –2020 với nội dung mục tiêu là đổi mới toàn diện việc
dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương
trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm
2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ năng lực sử dụng ngoại ngữ của
nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa
số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng
lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong
môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế

3


Trường nằm trên địa bàn khó khăn, đa số gia đình các em học sinh đều
làm nông, ngoài giờ học các em phải giúp đỡ bố mẹ làm thêm công việc như
nhặt điều, nhặt cà phê, tưới nước, làm cỏ, có em đến mùa thu hoạch phải nghỉ
học ở nhà giúp đỡ gia đình. Do đó đa số các em không nhận được cơ hội học tập
tốt ở nhà, không có điều kiện làm bài tập và ôn bài ở nhà. Hơn nữa, tỉ lệ học sinh
dân tộc thiểu số trong trường chiếm tới một nửa số học sinh nên một số em còn
hạn chế về cách tiếp thu bài học, chất lượng học sinh học tập môn Tiếng Anh
hàng năm chưa cao, tỉ lệ học sinh khá giỏi thấp, tỉ lệ học sinh yếu kém còn cao.
Để nâng cao chất lượng bộ môn Tiếng Anh trong nhà trường, một vài năm
gần đây giáo viên đã và đang áp dụng những phương pháp dạy học tích cực
trong giảng dạy. Tuy nhiên giáo viên còn đang lúng túng trong cách thức thực
hiện, chưa đa dạng hóa các hình thức. Qua thực tế cho thấy, nhiều năm học trước
bộ môn Tiếng Anh ở trong trường THCS Lê Quý Đôn chưa thu hút được học
sinh yêu thích môn học. Đa số các em chưa nắm chắc kiến thức, chưa có phương
pháp học tập phù hợp, học tập một cách thụ động, chủ yếu các em chỉ ghi chép
bài, nhiều em rất ngại thực hành nói trên lớp, sợ nói ra sẽ bị sai, sợ các bạn chê
cười, nhiều em chưa biết vận dụng vào tình huống thực tế, thậm chí có em còn
không ghi chép bài ở trên lớp, nhiều em cảm thấy chán nản, mệt mỏi, và còn ngủ
trong giờ học, đây là một thực trạng phổ biến ở trong tiết dạy Tiếng Anh.
Năm học 2016 – 2017 qua thực tế điều tra bằng phiếu khảo sát (trước khi
áp dụng các giải pháp vào giảng dạy), tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1A: Khảo sát mức độ yêu thích môn Tiếng anh
Em có thích học môn Tiếng Anh không?

Số học
sinh
Khối


59

19

32.2

40

67.8

8

31

9

29.03

22

70.97

Bảng 1B: Khảo sát kết quả học tập môn Tiếng Anh
Khối

Số
HS

Học lực môn Tiếng Anh


17

27.4

38

61.3

tra
6

62

4


7

59

01

1.7

04

6.8

17

thích môn học Tiếng Anh? Nguyên nhân từ đâu dẫn đến kết quả học tập của học
sinh thấp như thế? Giáo viên đã áp dụng tốt các phương pháp dạy học tích cực
chưa? Đây là câu hỏi mà tôi luôn trăn trở. Do đó, đòi hỏi mỗi giáo viên trong tổ
bộ môn của trường phải có trách nhiệm tìm tòi, nghiên cứu, thử nghiệm để tìm
ra các giải pháp giúp kích thích niềm say mê, ham học hỏi của các em để môn
Tiếng Anh trong nhà trường, trong toàn ngành được nâng cao chất lượng.
III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Để nâng cao chất lượng dạy và học và và quan trọng hơn thu hút được sự
tập trung chú ý của học sinh, tạo cho các em một tâm lý thoải mái, không áp lực
khi học bộ môn để các em say mê, yêu thích môn học hơn nữa, tôi đã áp dụng
một số giải pháp sau:
1. Thúc đẩy động cơ học tập của học sinh
1.1 Động viên học sinh bằng những lời khen
Chúng ta có thể thấy một lời khen bao giờ cũng tốt hơn một lời chê bai.
Vì thế để giúp các em mạnh dạn hăng hái phát biểu tôi luôn không bao giờ tiếc
những lời khen ngợi động viên các em. Thực tế cho thấy, có những học sinh biết
nhưng không dám nói vì sợ bị mắc lỗi. Một số em khác không dám giơ tay phát
biểu vì sợ nói sai bị các bạn cười, cô giáo chê. Theo tôi, đây chính là yếu tố tâm
lí mà giáo viên dạy Tiếng Anh cần phải xem xét để giúp các em có được hứng
thú học tập hay ít ra là tích cực hơn trong các giờ học. Trong quá trình dạy, giáo
viên không nên quá khắt khe với những lỗi mà học sinh mắc phải (Ví dụ: lỗi
phát âm, lỗi chính tả, thậm chí là lỗi ngữ pháp) để tránh cho các em tâm lí sợ
mắc lỗi khi thực hành.Vì vậy bất cứ một câu trả lời tốt nào đều được khen đôi
khi chỉ là một cái gật đầu, một nụ cười…Thậm chí nếu học sinh làm chưa đúng
chúng ta cũng có thể khen.
Ví dụ 1: Khi dạy Unit 9 tiếng Anh 7 phần củng cố thì quá khứ đơn tôi yêu
cầu học sinh làm câu chia động từ trong ngoặc.
My mother (buy) ________ me a school bag last week.
Bài làm của học sinh như sau: My mother buyed me a school bag last
week.


Hình 1: Hình ảnh trong Unit 9(B2) sách Tiếng Anh 7
+Ví dụ 2: Khi dạy unit 8-Lesson: Read trang 75 phần “Complete the
summary. Use the information from the passage” trong chương trình Tiếng Anh
lớp 8, đối với những lớp có học lực yếu kém cao, tôi đưa ra yêu cầu đơn giản
hơn. Các em đọc lại đoạn văn và dùng từ cho sẵn đó để nối, thay vì yêu cầu học
sinh tự tìm các từ trong đoạn văn để điền. Như vậy sẽ giúp các em học yếu một
chút có cơ sở thêm để hoàn thành bài tập. Nếu các em hoàn thành được bài tập
các em sẽ có động lực tham gia học tập tốt hơn.
6


- Để phù hợp với đối tượng học sinh của mình, tôi đưa ra những yêu cầu
khá đơn giản, rõ ràng. Ví dụ ngoài việc sử dụng các kỹ năng cụ thể trong từng
tiết dạy, tôi luôn căn cứ vào khả năng ghi nhớ và thể hiện của từng học sinh để
yêu cầu thực hành và giao bài tập về nhà tránh áp lực và quá tải với khả năng
của học sinh yếu kém, tránh nhàm chán vì quá dễ đối với học sinh khá, giỏi.
1.3 Hãy tạo cho những học sinh yếu hơn có cơ hội để được “tỏa sáng”
Giáo viên không nên chỉ mời những học sinh có kiến thức tốt phát biểu
trong giờ mà cần khuyến khích mọi thành viên khác phát biểu xây dựng bài, mặc
dù các ý kiến phát biểu có thể không thật chính xác vì chính điều này kích thích
các em cần cố gắng hơn để học.
Ví dụ: Trong bài unit 4 trong sách tiếng Anh 6 phần B1, khi hỏi câu:
Where’s your classroom? Tôi gọi 1 hoặc 2 em học sinh trong lớp học tốt trả lời
mẫu, sau đó gọi tiếp 1 hoặc 2 em học yếu trả lời. Như thế tất cả các em sẽ tích
cực hơn vì được tham gia vào quá trình học tập.
2. Áp dụng những tình huống, hành động thực tế vào bài giảng
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng nếu mình có thể áp dụng
những ví dụ, tình huống hành động cụ thể, thực tế vào bài giảng sẽ khiến cho bài
học trở nên sinh động, hấp dẫn và khiến các em nhớ từ, cấu trúc, mẩu hội thoại

do tại sao bài hát có thể được coi là một công cụ sư phạm có giá trị. Bài hát có
thể giúp học sinh cải thiện kỹ năng nghe và phát âm, vì thế cũng giúp nâng cao
cả kỹ năng nói. Bài hát cũng có thể là công cụ hữu ích trong việc học từ vựng,
cấu trúc câu, và mẫu câu. Và có lẽ lợi ích lớn nhất của việc sử dụng các bài hát
để dạy học là đem lại niềm vui cho học sinh. Niềm vui thích là một phần quan
trọng của việc học một ngôn ngữ mới, các bài hát có thể giúp việc học trở nên
thú vị hơn và có khả năng nâng cao động lực cho học sinh giúp học sinh tiếp thu
bài học tốt hơn.
Một số cách lồng ghép âm nhạc trong giờ học Tiếng Anh như sau:
3.1 Lồng ghép âm nhạc để giới thiệu chủ đề của bài học.

Phần giới thiệu chủ đề của bài mục đích để giúp các em định hình mình
sắp học cái gì vì thế tôi cho học sinh nghe một vài câu trong bài hát liên quan
đến chủ đề của bài nhằm mục đích khêu gợi trí tò mò của học sinh về chủ đề bài
học như: “Color, Feeling, Chrismas,...”
Ví dụ 1: Khi dạy bài Unit 13: Festival – Lesson: Read sách tiếng Anh 8.
Tiết này học về “Chrismas”. Để giới thiệu cho học sinh về chủ đề này chúng ta
có thể cho HS nghe bài hát: Jingle Bells và hỏi học sinh: “When do people
usually sing this song?”
Lời bài hát:
Dashing thro' the snow, in a one-horse open sleigh.
O'er the fields we go, laughing all the way.
Bells on bob-tails ring, making spirits bright,
What fun it is to ride and sing a sleighing song tonight.
Jingle bells, Jingle bells, Jingle all the way.
Oh what fun it is to ride in a one-horse open sleigh.
8


Jingle bells, Jingle bells, Jingle all the way.

bài hát “What color is it?”
- Ví dụ 4: Khi dạy Unit1: Greetings tiếng Anh 6, sau khi dạy phần B1,B2
tôi cho HS nghe bài hát “Good morning to you” và các em có thể thay “Good
morning” bằng “Good afternoon/evening” để hát. Như thế các em sẽ có cơ hội
luyện tập, vận dụng và phát âm các cách chào hỏi.
Lời bài hát "GOOD MORNING TO YOU":

9


Good Morning To You
Good Morning To You
Good Morning dear father
Good Morning To You
Good Morning To You
Good Morning To You
Good Morning dear mother
Good Morning To You
Good Morning To You
Good Morning To You
Good Morning dear father
Good Morning To You
Good Morning To You
Good Morning To You
Good Morning dear mother
Good Morning To You
-Ví dụ 5: Khi dạy về thời tiết Unit 13 phần A: The weather and seasons
(A1, A2) Tiếng Anh 6, sau khi giới thiệu từ về chủ đề màu sắc cho các em luyện
tập, tôi lấy bài hát “How’s the weather?” bỏ đi một số tính từ và yêu cầu HS
nghe và điền tính từ chỉ về thời tiết, sau đó luyện hát thuộc bài hát đó

4.1.1 Tạo tình huống kịch
Đầu tiên tôi cần chọn tình huống cho một đoạn kịch liên quan đến bài học.
Điều quan trọng là phải dựa trên nhu cầu và sở thích của học sinh và đem lại cho
học sinh cơ hội luyện tập những gì được học trên lớp. Bên cạnh đó, vở kịch đó
cũng cần hấp dẫn để thu hút các em.
4.1.2 Phát triển nội dung
Trên bối cảnh của vở kịch, tôi thường phải đưa ra những ý tưởng để phát
triển tình huống của câu chuyện. Tuy nhiên lời thoại như thế nào còn tùy vào
khả năng nói Tiếng anh của học sinh. Tôi có thể đơn giản hóa cho phù hợp với
trình độ học sinh.
Ví dụ : Trong Unit 7 Phần B1 sau khi học xong bài học tôi cho học sinh
đóng vai hóa thân vào vai Hoa và Tim hỏi đáp về gia đình Tim. Tuy nhiên để
học sinh dễ dàng nhập vai trong tình huống này tôi đưa ra một đoạn hội thoại
còn thiếu để học sinh dựa vào đó diễn tập tốt hơn.

Hình 2: Mẫu hội thoại dùng để đóng vai Hoa và Tim hỏi đáp về gia đình Tim
4.1.3 Chuẩn bị lời thoại

11


Giới thiệu một số cấu trúc và từ vựng cho học sinh trước khi đóng vai để
học sinh định hình nói cái gì.
-Ví dụ 1: Tình huống của vở kịch là mua hàng và bán hàng trong khi dạy
phần A2 unit 11: What do you eat? Tiếng Anh lớp 6, trang 116 Tôi sẽ hỏi học
sinh những câu như “Trong tình huống này em sẽ nói gì với người bán hàng?”,
“Người bán hàng sẽ nói gì?” và viết ra những gì học sinh nói lên bảng, Cách
giới thiệu từ mới và cấu trúc này sẽ làm cho học sinh tự tin hơn trong khi đóng
kịch.
-Ví dụ 2: Tình huống của vở kịch là đóng vai 1 người là khách du lịch

dung câu chuyện cũng vô cùng bổ ích. Điều này không có nghĩa là chỉ ra lỗi sai
12


và sửa. Sau vở kịch, học sinh rất hài lòng với chính bản thân, các em cảm thấy
rằng vốn khả năng ngoại ngữ của mình đã được sử dụng vào một công việc khá
phức tạp và bổ ích. Cảm giác hài lòng này sẽ biến mất nếu bị giáo viên sửa lại
từng lỗi một. Học sinh dễ bị kém tự tin hơn và không hào hứng đóng các vở kịch
khác nữa. Ngoài ra tôi cũng có thể hỏi ý kiến của các học sinh về vở kịch và
khuyến khích những ý kiến đóng góp. Mục đích ở đây là để thảo luận những
diễn biến của vở kịch và ôn lại những vấn đề các em đã từng học. Cùng với việc
thảo luận nhóm, tôi cũng có thể phát phiếu câu hỏi để đánh giá hiệu quả.
Tóm lại, đóng kịch là một phương pháp khá hay trong việc dạy học Tiếng
Anh. Vở kịch càng thú vị càng lôi kéo được nhiều học sinh tham gia. Điều đó
cũng đồng nghĩa với việc giáo viên có thể xây dựng trong các em niềm yêu thích
học tập và từ đó đạt được kết quả cao hơn.
4.2 Áp dụng sân khấu hóa trong phần củng cố bài học
Sau khi học xong nội dung bài học, tôi cho học sinh vận dụng những từ
vựng, mẫu câu, cấu trúc đã học để tạo thành những đoạn kịch ngắn, những hội
thoại ngắn về các tình huống thực tế hàng ngày mục đích để các em có môi
trường tiếng để luyện tập kĩ năng nói, các em hóa thân vào các nhân vật trong
các câu chuyện hoặc trong các tình huống thực tế. Qua đó giúp các em có thêm
hứng thú vào học tập và mạnh dạn tự tin hơn khi tham gia giao tiếp
- Ví dụ 1: Trong Tiếng Anh 7 khi dạy unit 8: Places phần B3 trang 84,
phần thực hành tôi chia lớp thành 2 nhóm để thực hiện đóng vai trong tình
huống ở trong bưu điện nhằm mục đích củng cố bài, vận dụng những từ vựng về
chủ đề về bưu điện và cấu trúc mua bán, hỏi giá cả vào các tình huống thực tế
+ Nhóm 1 đóng vai người đi mua hàng chuẩn bị tiền bằng giấy trắng ghi
số tiền: 1.000 đ, 2000 đ, 3000 đ, 4000 d, 5000 đ, 10.000 đ, 50.000 đ,
100.000đ

dong.
Linh: Here is one hundred and twenty thousand dong.
Clerk: Thank you. Here is your change.

14


Hình 2: Hình ảnh hoạt động nhóm diễn tập tình huống mua bán ở bưu điện
- Ví dụ 2: Khi dạy bài Unit 4: OUR PAST-Lesson: Write trang 43 sách
Tiếng anh 8 phần “Post-writing” tôi cho học sinh làm việc theo nhóm diễn vở
kịch này: học sinh 1 đóng vai người kể chuyện, học sinh 2 đóng vai người nông
dân, học sinh 3 đóng vai con hổ mục đích để các em củng cố lại nội dung đã viết
về câu chuyện và luyện tập nói bằng 1 cách thú vị trải nghiệm vào vai các nhận
vật trong câu chuyện này. Khi học sinh diễn tập tại lớp, tôi đi vòng quanh giúp
đỡ các em, rồi mời 1 hoặc 2 nhóm diễn trước lớp. Tôi quan sát học sinh đã thực
hiện được gì và những gì chưa thực hiện được để rút kinh nghiệm cho các tiết
sau.
15


Đoạn kịch như sau:
Teller: One day as a farmer was in the field and his buffalo was grazing
nearby, a tiger appeared and asked the farmer:
Tiger: Why is the strong buffalo your servant and why are you its master?
Farmer: As I have something called wisdom
Tiger: Where is your wisdom?”
Farmer: I leave it at home today. Do you want to see it?
Tiger: Yes, I do
Farmer: Now I go home to get my wisdom, but I have to tie you to a tree
because I don’t want you to eat my buffalo. Do you agree?

Librarian: Good morning. Can I help you?
Student: Yes. Where can I find the English books, please?
Librarian: They’re on the racks behind the librarian’s desk.
Student: Where are the science and math books?
Librarian: They are on the shelf next to the study area
Student: Thank you very much
Librarian: You’re welcome
Như vậy chỉ sau tiết học học sinh đã được trải nghiệm giống như mình
đang ở trong thư viện, các em chỉ nghĩ mình đang diễn kịch thôi, không còn nghĩ
mình phải đang luyện tập nói, điều này thực sự giúp các em rất hứng thú
- Ví dụ 5: Trong chương trình Tiếng Anh lớp 6, Unit 11: What do you eat?
Khi dạy phần A2 trang 116, để các em được trải nghiệm khi ở trong các cửa
hàng, tôi dặn học sinh mang theo một số vật thật lên như cam, chuối, táo, dầu
ăn, sôcôla, kem đánh răng, gạo…phần “Post-teaching” tôi cho học sinh đóng vai
một người bán hàng một người mua hàng. Qua đây các em được luyện tập tình
huống mua bán hàng và cấu trúc hỏi số lượng
Model dialogue
Salegirl: Can I help you?
17


Shopper: Yes, I’d like some oranges, please.
Salegirl: How many do you want?
Shopper: A dozen, please
Salegirl: A dozen of oranges. Is there anything else?
Shopper: Yes, I need some rice.
Salegirl: How much do you want?
Shopper: A kilo, please.
Salegirl: Here you are.
Shopper: Thank you

+ Cho học sinh xem video clip về những kì quan nổi tiếng trên thế giới
+ Yêu cầu học sinh trả lời
+ Gv dẫn nhập vào bài
Ví dụ 4. Trong unit 13-Lesson: Speak chương trình tiếng anh 8, để
vào bài phần Speak tôi làm như sau:
+ Tạo ra 1 video clip bao gồm các hoạt động mà mọi người thường chuẩn
bị cho Tết. Mục đích là làm cho học sinh chú ý vào chủ đề của bài học
+ Đưa ra 1 câu hỏi trước cho học sinh: What are people doing in the video
clip?
+ Yêu cầu HS trả lời
+ Gv dẫn nhập vào bài
4.2 Vận dụng video clip dạy phần “Post-teaching”.
Phần này tôi đưa các video clip mục đích để mở rộng, liên hệ thực tế, giáo
dục học sinh, củng cố bài học và khắc sâu bài học hơn
-Ví dụ 1: Trong chương trình Tiếng Anh 6 khi dạy unit 16. Phần B1
tôi lồng ghép video clip để dạy như sau:
+ Tạo ra một video clip về những hoạt động mà mọi người đang phá hại
môi trường như: Chặt phá rừng, vứt rác xuống sông, hồ, biển, các khí thải từ nhà
máy,… mục đích tôi dùng để tạo sự thu hút của các em trong phần nói tự do,
củng cố kiến thức bài học, khắc sâu bài học và liên hệ đến thực tế nơi các em
sinh sống
+ Cho học sinh xem video clip
+ Cho Hs làm việc theo nhóm nói lại những việc làm đó.
+ Giáo viên đi quanh lớp để giúp đỡ nếu học sinh nào gặp khó khăn khi
nói
+ Mời đại diện các nhóm lên trình bày.
-Ví dụ 2: Trong sách Tiếng Anh 7 khi dạy Unit 15 phần A2 trên trang 148,
tôi vận dụng video clip như sau:
+ Tạo ra một video clip về tác hại của “Games online”, mục đích tạo hứng
thú cho các em, giúp các em liên hệ thực tế và để giáo dục học sinh về tác hại

người nghe hiểu nhầm hoặc thậm chí không hiểu ý của người nói. Tuy nhiên đa
số các tiết dạy ngữ âm học sinh không thích vì quá buồn tẻ, học sinh gặp nhiều
khó khăn khi phát âm và ghi nhớ các âm đã học vì thế tôi đã cố gắng tìm tòi
những video clip được phát âm bởi những người bản xứ trên youtube hoặc một
số đĩa chứa các âm mà mình cần dạy trong tiết học để giúp các em tập trung
hơn, hứng thú hơn vào bài học và học được cách phát âm một cách chuẩn như
có thể.
- Video clip tôi thường dùng trong dạy ngữ âm trong các tiết “A closer
look 1” các lớp tiếng anh đề án 6,7,8
- Ví dụ: Khi dạy Unit 4 trong sách tiếng anh 6 thí điểm, phần
“Pronunciation: /i:/ & /i/ trong tiết “A closer look 1”. Để giới thiệu 2 âm này, tôi
dùng video clip dạy các bước như sau:
+ Mở video làm mẫu 2 âm trên và yêu cầu học sinh chú ý vào hình miệng,
xác định âm nào dài hơn âm nào ngắn hơn, và nói cách đặt môi lưỡi như thế nào
+ Giới thiệu cách phát âm 2 âm này
+ Mở video và cho học sinh nghe và lặp lại
+ Mở lại và yêu cầu học sinh đặt các âm vào đúng cột
+ Mở video đọc các từ và câu chứa các âm đó cho HS nghe và nhìn theo
khẩu hình miệng để phát âm theo cho chuẩn
+ Mở video clip đọc các câu chứa từ có âm đó cho HS chọn một trong 2
âm.
IV. TÍNH MỚI CỦA GIẢI PHÁP
Qua tham khảo các sáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp trước đây có
đề tài tương tự như vậy, tôi thấy sáng kiến kinh nghiệm của mình đã đưa vào
được giải pháp mới như sân khấu hóa trong dạy học bộ môn mà trước đây không
có. Tôi đã tạo ra nhiều tình huống kịch trong các bài học trong chương trình
sách Tiếng Anh 6,7,8 để học sinh có cơ hội áp dụng Tiếng Anh vào những tình
huống thực tế, hóa thân vào các nhân vật, sử dụng ngôn ngữ ở những biểu cảm
sắc thái khác nhau để giúp các em mở rộng vốn từ, rèn luyện mẫu câu và cấu
trúc.

và đã thu được kết quả như sau:
Bảng 2A: Khảo sát mức độ yêu thích môn Tiếng anh
Số học

Em có thích học môn Tiếng anh không?

sinh
Khối

Thích

được

Không thích

điều tra

SL

%

SL

%

6

62

50


Bảng 2B: Khảo sát kết quả học tập môn tiếng anh
Khối

Số
HS
được

Giỏi
SL %

Học lực môn Tiếng Anh
Khá
TB
Yếu / kém
SL
%
SL
%
SL
%

điều

22


6

tra

49.1

22

37.3

8

31

01

3.2

3

9.7

15

48.4

12

38.7

Từ bảng số liệu trên ta thấy mức độ yêu thích môn học và chất lượng bộ
môn của học sinh khối 6, 7, 8 được chuyển biến rõ rệt, tỉ lệ học sinh khá giỏi đã
có sự gia tăng, tỉ lệ trung bình tăng lên nhiều, tỉ lệ yếu kém đã giảm đi đáng kể,
đặc biệt là tỉ lệ học sinh yêu thích môn học tăng lên khá cao so với kết quả điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status