LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật với đề tài: “Nghiên cứu, đánh giá khả năng cấp nước tưới
và đề xuất giải pháp tưới cho hệ thống thuỷ lợi Nam Nghệ An” được hoàn thành tại
Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội với sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn nhiệt tình của các
thầy giáo, cô giáo, của các đồng nghiệp và bạn bè.
Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy TS. Trần Dũng Tiến và TS. Nguyễn
Lương Bằng, người hướng dẫn khoa học đã rất chân tình hướng dẫn học viên hoàn
thành luận văn này. Xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong
Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước, các thầy giáo cô giáo các bộ môn – Trường Đại học
Thủy lợi. Xin chân thành cảm ơn đến các cơ quan đoàn thể, đồng nghiệp, bạn bè đã
giúp đỡ và góp những ý kiến quý báu trong luận văn này.
Cuối cùng xin cảm tạ tấm lòng của những người thân trong gia đình, đã tin tưởng
động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này. Do
đề tài giải quyết vấn đề mới mẻ, cũng như thời gian và tài liệu thu thập chưa thực sự
đầy đủ, luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi các thiếu sót, học viên rất mong nhận
được sự thông cảm, góp ý chân tình của các thầy cô và đồng nghiệp quan tâm tới vấn
đề này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên
Chantha INTA
i
LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên. Các kết
quả nghiên cứu và những kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất
kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào và chưa từng được ai công bố trong
bất cứ công trình nào khác. Việc tham khảo, trích dẫn các nguồn tài liệu đã được ghi rõ
2.1. Tính toán các yếu tố khí tượng........................................................................... 35
2.1.1. Mục đích, ý nghĩa và nội dung tính toán .................................................... 35
2.1.2. Chọn trạm, tần suất thiết kế và thời đoạn tính toán ................................... 36
2.1.3. Tính toán các đặc trưng khí tượng thiết kế ................................................. 38
2.2. Tính toán chế độ tưới cho các loại cây trồng. .................................................... 53
2.2.1. Nội dung tính toán chế độ tưới. .................................................................. 53
2.2.2. Mục đích, ý nghĩa và nội dung tính toán .................................................... 54
2.2.3. Phương pháp xác định chế độ tưới cho cây trồng. ..................................... 55
2.2.4. Nội dung tính toán ...................................................................................... 56
2.2.5. Kết quả tính toán......................................................................................... 61
2.3. Kết quả tính toán yêu cầu tưới cho vùng nghiên cứu. ....................................... 64
2.3.1. Tính toán nhu cầu nước cho nuôi trồng thủy sản ....................................... 64
2.3.2. Kết quả tính toán nhu cầu nước tưới cho cây trồng. .................................. 66
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT VÀ LỰA CHỌN CÁC GIẢI PHÁP TƯỚI NƯỚC CHO
HỆ THỐNG THUỶ LỢI NAM NGHỆ AN .............................................................. 70
3.1. Phân tích lựa chọn mô hình phù hợp với bài toán tưới cho hệ thống. ............... 70
3.1.1. Mô hình VRSAP (Vietnam river systerm and plains) ................................. 70
iii
3.1.2. Mô hình SOBEK ......................................................................................... 71
3.1.3. Mô hình kết hợp TL1D + ECOMOD-2D ................................................... 72
3.1.4. Mô hình thuỷ lực một chiều MIKE 11 ........................................................ 72
3.2. Thiết lập mô hình thủy lực cho bài toán tưới nước cho hệ thống. ..................... 74
3.2.1. Hiệu chỉnh mô hình..................................................................................... 77
3.2.2. Kiểm định mô hình...................................................................................... 79
3.3. Các kịch bản tính toán tưới cho hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An trong điều kiện
suy giảm mực nước sông Lam ...................................................................................... 80
3.3.1. Các điều kiện biên khi tính toán ................................................................. 80
3.3.2.
not
defined.
Bảng 2.10: Tính toán lượng mưa hiệu quả – Trạm VinhError!
Bookmark
not
defined.
Bảng 2.11: Kết quả tính toán chế độ tưới cho cây trồng huyện Nam Đàn (m3/ha)....... 66
Bảng 2.12: Kết quả tính toán chế độ tưới cho cây trồng huyện Hưng Nguyên (m3/ha)67
Bảng 2.13: Kết quả tính toán chế độ tưới cho cây trồng Thành phố Vinh (m3/ha)....... 68
Bảng 2.14: Kết quả tính toán chế độ tưới cho cây trồng huyện Nghi Lộc (m3/ha) ....... 69
Bảng 3.1: Tóm tắt một số mô hình toán thường được sử dụng ở Việt Nam ................. 73
Bảng 3.2: Các mặt cắt trên hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An ........................................ 74
Bảng 3.3: Tổng hợp chiều dài kên tưới của các trạm bơm trong hệ thống (Công ty
TNHH MTV Nam Nghệ An) ........................................................................................ 75
Bảng 3.4: Kết quả kiểm định mô hình ........................................................................... 80
Bảng 3.5: Thống kê kết quả tính toán cho các kịch bản ................................................ 86
Bảng 3.6: Yêu cầu nước cho hệ thống và tổng lượng nước lấy được qua cống Nam
Đàn theo các kịch bản và phương án (*10^6 m3). ......................................................... 93
v
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Số liệu thuỷ văn từ năm 1995 đến năm 2014 ................................................ 14
Hình 1.2: Mực nước nhỏ nhất từng tháng theo năm ..................................................... 14
Hình 1.3: Cống Nam Đàn .............................................................................................. 23
Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò. Địa hình vùng này
có thể chia làm hai vùng khác biệt là vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Các dãy núi có
các đỉnh núi cao khoảng 450m÷500m. Các dãy đồi thấp có cao độ từ 30m÷50m. Đồi
núi cao có cây cối thấp, thưa, còn đại bộ phận là đồi trọc. Đồi núi đã chia cắt nơi này
thành những dải đồng bằng nhỏ hẹp,có nhiều khe suối chảy qua. Thế đất giữa các vùng
có hình lòng chảo, có xu thế thấp dần từ Tây sang Đông.
Hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An bao gồm các công trình: Các cống đầu mối, trạm
bơm, kênh... Cống đầu mối Nam Đàn có nhiệm vụ lấy nước từ sông Lam để đảm bảo
nhu cầu nước cho nông nghiệp, thủy sản, sinh hoạt và phụ vụ sản xuất. Theo thiết kế,
công Nam Đàn mới được xây dựng để thay thế cống Nam Đàn cũ làm nhiệm vụ cấp
nước tưới cho 19.472 ha diện tích đất canh tác, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp và
sinh hoạt của vùng dự án.
Vùng Nam Nghệ An có tầm quan trọng đặc biệt đối với tỉnh Nghệ An, nhu cầu cấp
nước phục vụ nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt đóng vai trò quan trọng trong sự
phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.
Tuy nhiên, do sự gia tăng diện tích canh tác so với thiết kế, quá trình biến đổi khí hậu
và sự hạ thấp mực nước bất thường trên sông Lam trong những năm gần đây đã làm
suy kiệt nguồn nước trên sông Lam dẫn đến giảm khả năng cấp nước cho hệ thống qua
cống Nam Đàn. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng vào các tháng mùa khô; mực nước
sông Lam xuống thấp, lượng mưa trong khu vực ít và trùng với kế hoạch sản xuất
nông nghiệp của địa phương. Thực tế gần đây cho thấy, vào các tháng từ 12 đến tháng
2, nhiều vùng trong khu vực bị thiếu nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, một số
nơi bị khô hạn cục bộ, ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất nông nghiệp và năng suất cây
trồng.
1
Do vậy, việc nghiên cứu yêu cầu tưới của hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An và tính toán
khả năng lấy nước qua cống Nam Đàn trong điều kiện không thuận lợi, như: mực nước
mô hình thủy lực Mike 11.
2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra, khảo sát, tổng hợp số liệu, thu thập tài liệu thực tế, tài liệu
tham khảo, phân tích, xử lý số liệu;
- Phương pháp thống kê, xác suất: Thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu để đánh giá
hiện trạng hệ thống;
- Phương pháp kế thừa;
- Phương pháp phân tích hệ thống: Là tập hợp những phương pháp phân tích nhằm tìm
ra lời giải tối ưu cho các bài toán quản lý hệ thống thủy nông và điều khiển các hệ
thống thủy lợi;
- Phương pháp mô hình toán: sử dụng phần mềm tính tưới Cropwat và tính toán thủy
lực Mike11;
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ VÙNG
NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về hệ thống thuỷ lợi Nam Nghệ An.
1.1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế-xã hội của vùng.
1.1.1.1. Điều kiến tự nhiên
a) Vị trí địa lý.
- Tỉnh Nghệ An thuộc bắc trung bộ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, toạ độ
địa lý từ 18o33'10" đến 19o24'43" vĩ độ Bắc và từ 103o52'53" đến 105o45'50" kinh độ
Đông.
- Cống Nam Đàn mới nằm tại nơi giao nhau giữa Kênh Cụt và đê tả Sông Lam, vị trí
công trình thuộc địa bàn xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tuyến cống
mới cách cống Nam Đàn cũ khoảng 2 km về phía hạ lưu. Tọa độ địa lý khu đầu mối:
30’53” kinh độ đông
khác trong khu vực, đó là điều kiện thuận lợi để kêu gọi đầu tư phát triển kinh tế xã
hội.
4
b) Đặc điểm địa hình
- Nam Nghệ An là vùng đất nằm kẹp giữa các khối địa hình lớn như dãy núi Sông Mã
ở phía Bắc và dãy Trường Sơn ở phía Tây Nam. Địa hình vùng này có thể chia làm hai
vùng khác biệt: vùng đồi núi và vùng đồng bằng cao.
- Vùng đồi núi có các dãy núi và dồi thấp, tổng diện tích 177km2. Các dãy núi có các
đỉnh núi cao khoảng 450m÷500m. Các dãy đồi thấp có cao độ từ 30m÷50m.Đồi núi
cao có cây cối thấp, thưa, còn đại bộ phận là đồi trọc. Đồi núi đã chia cắt nơi này thành
những dải đồng bằng nhỏ hẹp,có nhiều khe suối chảy qua. Thế đất giữa các vùng có
hình lòng chảo, có xu thế thấp dần từ Tây sang Đông.
- Vùng đồng bằng và vùng cao nằm chủ yếu phía Đông và Đông Nam của vùng, có
tổng diện tích là 495km2. Vùng đồng bằng có cao độ 5÷15m nằm xen kẽ các chân núi
Đại Vạc, Đại Huệ và thường bị chia cắt bởi các khe suối nhỏ nên diện tích không lớn.
Vùng đồng bằng bao gồm vùng đất thịt sông Lam thuộc Nam Đàn, Hưng Yên, phía
Tây quốc lộ 1A của huyện Nghi Lộc có cao độ +7m÷0.3m. Vùng đất cát pha ở phía
Đông đường quốc lộ 1A thuộc huyện Nghi Lộc và bắc thành phố Vinh có diện tích tự
nhiên khoảng 15000ha, cao độ +1,55m÷5,0m. Vùng ven biển hạ lưu sông Cấm và
đông thành phố Vinh đất thấp, cao trình 0,5÷1,5m.
- Vùng đồng ruộng phía Bắc đường 46 và Tây quốc lộ 1 có cao độ từ +0,5m÷6,0m
thấp dần về phía kênh Thấp và kênh Gai cao độ +1,5m÷2,0m tạo thành một số vùng
trũng như vùng Bãi Nón, Tây-Yên-Trung. Vùng kẹp giữa quốc lộ 46 và đê 42 đồng
ruộng có xu hướng thấp dần từ Tây sang Đông. Tại Nam Đàn có chỗ cao độ
+5,0m÷6,8m, thấp dần xuống Hưng Nguyên vùng Châu, Lợi (1,0÷0,7)m, trong đó vẫn
nhiều vùng trũng cục bộ.
c) Đặc điểm về thổ nhưỡng, địa chất,
Đặc điểm thổ nhưỡng
tượng mất ổn định như lún, trượt sạt, thấm nước nhỏ (K tb =5,1.10-5cm/s, φ=3049’,
C=0.088kg/cm2/kg, a 1-2 =0.112cm2/kg), áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30=2 búa;
- Lớp 4a: Cát, cát pha kẹp các lớp bùn sét, sét pha trạng thái xốp (cát), chảy (bùn sét).
Áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30=6búa;
6
- Lớp 5: Sét xám , xám đen, xám ghi, dẻo chảy – chảy. Sét xám, xám xanh, xám đen,
trạng thái chảy. Đây cũng là lớp đất yếu dễ gây mất ổn định khi mở hố móng. Hệ số
thấm K tb =5,5.10-5cm/s, φ=2024’, C=0.072kg/cm2, a 1-2 =0.078cm2/kg, áp lực xuyên tiêu
chuẩn N/30=5.5 búa;
- Lớp 6a: Cát pha xám, xám trắng, xám vàng, trạng thái chảy, đôi chỗ lẫn ít dăm sạn,
đây là lớp đất yếu. Hệ số thấm K tb =6,3.10-4cm/s, a 1-2 =0.0283cm2/kg, áp lực xuyên tiêu
chuẩn N/30=6 .3 búa;
- Lớp 6b: Dăm sạn, cát sỏi lẫn sét, xám vàng. Lớp có sức chịu tải đáng kể nhưng chỉ
gặp duy nhất trong mặt cắt hố khoan KT33. Áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30= 17 búa;
- Lớp 7: Sét màut xám xanh, xám vàng lẫn kết vón Laterit trạng thái nửa cứng đến
cứng. Đây là lớp đất có sức chịu tải chịu tải đáng kể nhưng có bề dày không đều và
trong lớp có cường độ phân bố không đều, không thích hợp cho việc đặt móng cầu
cống. Hệ số thấm K tb =3,2.10-7cm/s, φ=1902’, C=0,627kg/cm2, a 1-2 =0,0244cm2/kg, áp
lực xuyên tiêu chuẩn N/30=25 búa;
- Lớp 8: Sét màu nâu vàng, nâu đỏ, xám trắng loang lổ dăm sạn phong hóa, trạng thái
cứng. Đây là lớp đất chịu tải tương đối lớn nhưng không đồng đều trong toàn mặt cắt
vì vậy không nên dung lớp này đặt móng công trình cầu. Hệ số thấm K tb =1,7.10-8cm/s,
φ=19002’, C=0.672kg/cm2, a 1-2 =0,0244cm2/kg, áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30=25 búa;
- Lớp 9: Hòn mảnh vụn phong hóa lẫn sét, sét pha màu vàng, xám trắng trạng thái
cứng (sản phẩm phong hóa từ đá cát bột kết sét kết). Lớp này có sức chịu tải tốt nhưng
có bề dày mỏng. Áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30>50 búa;
- Lớp 10: Đá két bột kết màu xám vàng, nâu vàng, trạng thái cứng, nứt nẻ vỡ vụn. Lớp
này có sức chịu tải rất lớn thích hợp cho việc đặt móng công trình. C = 6.0kg/cm2;
nhiều. Ở thượng nguồn sông Cả, sông Hiếu mùa mưa có thể tính từ tháng 5 đến tháng
10 nhưng ở hạ du và phía sông La mùa mưa có thể tính từ tháng 6 đến tháng 11. Diễn
biến mưa trong năm cũng mang tính đặc thù của miền Trung. Mưa lớn trong năm
thường có 2 đỉnh, đỉnh mưa lớn thứ nhất xuất hiện vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 khi
gió giao mùa. Đỉnh mưa này nguyên nhân chính xuất hiện lũ tiểu mãn. Đỉnh mưa lớn
8
nhất trong năm thường xuất hiện cuối tháng 9, 10 hàng năm. Đầu mùa hạ lượng mưa
tháng đạt cực đại vào tháng 5, 6 sau đó mưa giảm nhỏ vào tháng 7, 8. Tổng lượng mưa
tháng 5, 6 đạt tới 20% tổng lượng mưa năm. Trong 2 tháng mưa lớn tháng 9, 10 lượng
mưa đạt tới 40÷50% tổng lượng mưa năm, cường độ trong mùa mưa rất lớn. Trong 1
ngày lượng mưa có thể đạt đến từ 700 mm đến 800 mmm, mưa 3 ngày đạt trên
1000mm điển hình như trận mưa ngày 20/8/1965 thành phố vinh chỉ trong 1 giờ lượng
mưa đạt 142 mm/giờ. Những trận mưa lớn như trên thường gây lũ nghiêm trọng trên
lưu vực sông Cả.
- Tổng lượng mưa 6 tháng mùa khô lại rất nhỏ chỉ chiếm 15 ÷ 20% tổng lượng mưa
năm. Lượng mưa nhỏ nhất thường vào tháng 2, 3. Nhiều trạm đo trong vùng lượng
mưa hai tháng này chi đạt 1÷2% lượng mưa năm.
- Lưu vực sông Cả so với các lưu vực Bắc Bộ ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc đã
giảm đi nhiều. Nhưng số ngày có mưa phùn trong các tháng mùa khô cũng khá nhiều .
Vùng đồng bằng số ngày mưa phùn có thể tới 30÷40ngày/năm. Lượng mưa mùa đông
từ tháng 12 đến tháng 4 có thể đạt tới 130 ÷ 300 mm/tháng, đây là loại hình mưa thuận
lợi cho canh tác vụ Đông Xuân.
Độ ẩm không khí:
- Độ ẩm bình quân năm trên lưu vực sông Cả biến động từ 82% đến 85%. Vùng có độ
ảm bình quân cao là Con Cuông 86,5%, Đô Lương 85,5%, Tương Dương 81,5%, Quỳ
Châu 86,6%, Vinh83,5%. Độ ẩm cũng phù hợp với lượng bốc hơi năm. Vùng trung
lưu có độ ẩm lớn- độ bốc thoát hơi nước nhỏ và vùng miền núi, đồng bằng có lượng
ảnh hưởng của bão càng giảm nhỏ. Vào đầu tháng 7 khi hoạt động của các hình thái
thời tiết gây mưa tăng lên ở vùng Thái Bình Dương. Khối áp cao Thái Bình Dương lớn
mạnh lên, hoạt động mạnh ở vùng rìa vịnh Bắc Bộ lấn áp dần khối áp thấp Sibêri dịch
dần vào bờ biển phía ngbắc Việt Nam gây ra bão hoặc áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa
to vùng ven biển phía bắc trong đó có lưu vực sông Cả. Hằng năm lưu vực sông Cả
chịa ảnh hưởng của bão và bão đổ bộ trực tiếp từ 1,0÷1,5 cơn bão trong năm. Tốc độ
gió do bão sinh ra đạt tới cấp 9÷10 khi giật lên tới cấp 12. Bão thường đổ bộ vào lưu
vực sông Cả từ cuối tháng 9, 10 và đầu tháng 11. Tốc độ gió lớn nhất đã quan trắc
được tại Tương Dương 25 m/s hướng N.W (1975). Tại Quỳ Châu lớn hơn 20 m/s
10
hướng N.W năm 1973, tại Đô Lương 28 m/s hướng E.N.E (1965), tại Vinh 40 m/s xuất
hiện năm 1982, 1987, 1989, 1990. Thông thường bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào
lưu vực sông Cả là gây mưa lớn ngập lụt trên diện rộng. Bão là một hình thái thời tiết
bất thường khó chống nhưng nếu có biện pháp phòng chống tốt sẽ giảm đi thiệt hại về
người và của nhà nước và nhân dân trên lưu vực.
Các hiện tượng thời tiết khác:
- Là tỉnh có diện tích rộng, có đủ các dạng địa hình: miền núi, trung du, đồng bằng và
ven biển nên khí hậu tỉnh Nghệ An đa dạng, đồng thời có sự phân hoá theo không gian
và biến động theo thời gian. Bên cạnh những yếu tố chủ yếu như nhiệt độ, lượng mưa,
gió, độ ẩm không khí thì Nghệ An còn là một tỉnh chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp
nhiệt đới. Trung bình mỗi năm có 2 - 3 cơn bão, thường tập trung vào tháng 8 và 10 và
có khi gây ra lũ lụt.
- Sương muối chỉ có khả năng xảy ra ở các vùng núi cao và một vài vùng trung du có
điều kiện địa hình và thổ nhưỡng thuận lợi cho sự thâm nhập của không khí lạnh và sự
mất nhiệt do bức xạ mạnh mẽ của mặt đất như khu vực Phủ Quỳ.
- Nhìn chung, Nghệ An nằm trong vùng khí hậu có nhiều đặc thù, phân dị rõ rệt trên
toàn lãnh thổ và theo các mùa, tạo điều kiện cho nhiều loại cây trồng phát triển. Khí
thiên tai trên sông Cả rất đa dạng xảy ra thường xuyên cả về không gian lẫn thời gian.
Có những vùng rất khan hiếm nước trong mùa kiệt, đồng thời có những vùng bị lũ uy
hiếp thường xuyên.
- Địa hình núi thấp và gò đồi chiếm tỷ trọng lớn nên mạng lưới sông suối trong khu
vực khá phát triển với mật độ trung bình đạt 0,62 km/km2 nhưng phân bố không đều
trong toàn vùng. Vùng núi có độ dốc địa hình lớn, chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối
phát triển mạnh trên 1 km/km2, còn đối với khu vực trung du địa hình gò đồi nên mạng
lưới sông suối kém phát triển, trung bình đạt dưới 0,5 km/km2.
- Lưu vực sông Cả có lượng dòng chảy khá dồi dào nhưng phân bố không đều, thiên
lệch mạnh theo thời gian và không gian nên việc khai thác sử dụng nguồn nước sông
cho sản xuất và đời sống gặp nhiều khó khăn. Mô đuyn dòng chảy năm tăng dần từ
Tây sang Đông và Tây Bắc xuống Đông Nam. Mô duyn dòng chảy trung bình năm
vùng thượng nguồn sông Cả đạt 20 l/s.km2, vùng trung lưu đạt 25 l/s.km2 và hạ du đạt
25 ÷ 30 l/s.km2.
12
- Dòng chảy trên lưu vực sông Cả cũng chia làm 2 mùa theo với 2 mùa của biến trình
mưa năm. Dòng chảy mùa khô và dòng chảy mùa kiệt trên các sông nhánh thuộc lưu
vực sông Cả cũng có sự khác nhau về thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc.
- Tổng lượng dòng chảy trung bình năm trên sông Cả khoảng 21÷ 24.109 m3/năm.
Tổng lượng dòng chảy năm nhiều nước gấp 2,7÷ 2,9 lần năm ít nước, ở những sông
nhánh tỷ lệ này còn biến động nhiều hơn. Sự xuất hiện những năm nhiều nước trên lưu
vực sông Cả thường không xuất hiện đồng thời giữa các nhập lưu. Trên dòng chính
sông Cả năm nhiều nước xuất hiện vào năm 1973. Sự phân bố nguồn nước trên lưu
vực sông Cả biến động nhiều theo không gian và thời gian. Nhưng nó cũng có quy luật
riêng của mình đó là: Ít khi xuất hiện 2 năm liên tiếp đều kiệt và 2 năm liên tiếp đều là
năm nước lớn. Sau những năm nước lớn, năm tiếp theo thường là bị kiệt và ngược lại.
Dù là năm nước lớn hay năm kiệt nước thì phần trung và hạ du sông cũng tương đối
điều hoà và đây cũng là một thuận lợi cho việc sử dụng nước phục vụ cho các ngành
14
Hình 1.2 thể hiện xu hướng xuống thấp của mực nước Min trong tháng theo các năm.
Trong vụ Đông Xuân thì thời điểm tháng 12 đến hết tháng 1 có nhu cầu nước lớn nhất,
đây là thời điểm làm đất và reo mạ, trong khi thời tiết hanh khô và ít mưa. Theo báo
cáo thì Cống Nam Đàn không đảm bảo cấp đủ nước và trong thời gian cần thiết nên đã
gây hạn cục bộ tại một số nơi, ảnh hưởng đến sản lượng và năng xuất cây trồng, cũng
như tình hình kinh tế xã hội của khu vực
e) Địa chất thủy văn
Nước mặt
- Nước mặt chỉ có trong các ao, ruộng trũng, nước mặt có quan hệ tủy lực với nước
ngầm thông qua lớp 1.
- Triều mùa kiệt ảnh hưởng tới Nam Đàn. Biên độ triều vùng ảnh hưởng chỉ đạt
0,1m÷0.2m. Biên độ triều tại Cưa Hội đạt 3,1m và tại Chợ Tràng tới 2,2m. Triều là tác
nhân xâm nhập mặn và cũng thuận lợi cho tiêu thoát và lấy nước ở các cống vùng
triều.
Nước ngầm
- Nước dưới đất xuất hiện trong lớp 2: Cát hạt nhỏ kẹp các lớp bùn, sét, sét pha, đây là
tầng chứa nước đầu tiên từ trên mặt đất xuống, đôi chỗ có quan hệ thủy lực với nước
mặt thông qua lớp 1 (ao, ruộng trũng). Hệ số thấm trung bình lớp 2: K tb =2,4.10-4cm/s.
Đánh giá điều kiện địa chất công trình
Đánh giá khả năng chịu tải của đất nền
- Đáy móng cống lấy nước và âu thuyền chủ yếu đặt trong lớp 4 là lớp sét chứa hữu cơ,
trạng thái dẻo chảy - chảy, phía dưới là lớp xen kẹp các lớp và ổ cát nhỏ. Đây là lớp
đất yếu có thành phần và tính chất đặc biệt: độ ẩm lớn, dung trọng nhỏ, tính nén lún
lớn và lâu dài. Dưới lớp 4 là lớp 5 hoặc lớp 6a, 6b. Lớp 5 có bề dày thay đổi từ 2÷8m,
sức chịu tải yếu, thấm ít nước. Lớp 6a có bề dày phân bố không đều từ 0,5÷3,7m, đây
cũng là lớp đất yếu – bùn cát pha. Lớp 6b có sức chịu tải tốt hơn, giá trị áplực xuyên
16
- Do đặc điểm nêu trên, sự phát triển kinh tế của các huyện không đồng đều. Các
huyện chuyên sản xuất nông nghiệp đời sống thấp hơn, Vùng thành phố, thị xã có nền
công nghiệp và dịch vụ phát phát triển nên đời sống nhân dân được nâng cao.
1.1.1.3.
Tình hình kinh tế
Nông nghiệp
- Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của vùng. Diện tích đã huy động vào
sản xuất nông nghiệp chiếm tới 80% tổng diện tích đang gieo trồng, trong đó có tới
70% là diện tích lúa, còn lại là các diện tích cây trồng khác như ngô, khoai, cây công
nghiệp ngắn ngày: lạc, vừng, mía, đậu đỗ các loại. Diện tích trồng chủ yếu ở phía Tây
đường I, diện tích trồng cây dài ngày chủ yếu tập trung vùng đồi, núi với các loại cây
ăn quả có múi, dứa…
- Ngoài trồng trọt, trong vùng có chăn nuôi các loại gia súc gia cầm và nuôi trông thủy
sản cung cấp cho thị trường nội địa và xuất khẩu.
Ngành trồng trọt
- Ngành trồng trọt các huyện vùng hạ lưu sông Cả liên tục phát triển với tốc độ tăng
bình quân 4,95 % /năm trong 10 năm qua, trong đó giai đoạn 2007-2011 tăng bình
quân 3,78 % /năm. Bước đầu đã hình thành một số vùng cây nguyên liệu tập trung, gắn
với công nghiệp chế biến, tạo nên một khối lượng nông sản hàng hoá tương đối khá,
đáp ứng nhu cầu trong các tỉnh và phục vụ xuất khẩu.
Sản lượng lương thực liên tục tăng qua các năm, năm 2011 đạt 1.016.238 tấn, chiếm
61% sản lượng toàn lưu vực. Lương thực bình quân đầu người đạt 435,2 kg năm (bình
quân toàn tỉnh Nghệ An 398 kg, Hà tĩnh 403,2 kg), tăng so với năm 2007 là 18,4
kg/người (416,8 kg/người ). Cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ được chuyển dịch đúng
hướng, diện tích lúa giảm, diện tích ngô tăng, nhất là ngô vụ đông trên đất hai lúa. Sản
2008
2009
2010
2011
Loại gia súc
1
Trâu
118.286
118.066
108.090
126.450
123.704
2
Bò
228.349
- Theo thống kê, diện tích nuôi trồng thuỷ sản vùng hạ lưu sông Cả liên tục tăng trong
những năm gần đây. Tỉnh Nghệ An năm 2001 diện tích nuôi mới đạt 13.277ha, đến
năm 2010 toàn tỉnh đưa vào nuôi 19.800. Trong đó, diện tích nước ngọt là 17.800, diện
tích mặn lợ đã sử dụng là 2.000 ha.
Hiện trạng công nghiệp
- Hạ lưu lưu vực sông Cả có 15 huyện thị, Thành phố là vùng có ngành công nghiệp và
tiểu thủ công nghiệp phát triển của khu vực Bắc Trung Bộ như thành phố Vinh, thị xã
Cửa Lò ( tỉnh Nghệ An ), thị xã Hồng Lĩnh ( Hà Tĩnh ). Hiện tại có 3 khu công nghiệp,
1 khu kinh tế Đông Nam tương đối quy mô đã dần đi vào hoạt động:
Hiện trạng giao thông
- Cùng với việc phát triển kinh tế trong vùng các cơ sở hạ tầng cũng được xây dựng
tương đối đồng bộ để hỗ trợ cho phát triển kinh tế. Ngành giao thông vận tải trong khu
vực đã phát triển trên cả lĩnh vực đường bộ, đường sắt và đường thủy.
+ Tuyến
đường 400 từ thành phố Vinh đi Thanh Chương và cửa khẩu Thanh Thủy
nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế đường Hồ Chí Minh và vùng miền núi Thanh Chương,
+ Các
tuyến đường liên thôn, liên xã cũng đã được mở rộng và nâng cấp nhờ vào
chương trình phát triển công nghiệp, chương trìinh 135, chương trình xóa đói giảm
nghèo và chương trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn;
+ Tuyến
+ Đường
đường sắt Bắc – Nam đảm bảo giao thông thông suốt cho toàn khu vực;
thủy có 2 cảng Bến Thủy và Cửa Lò có sức bốc rỡ hàng 1.8÷2.2 triệu tấn/năm