(Khóa luận tốt nghiệp) Đánh giá hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Điện Quan huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai - Pdf 55

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------------

LỰ VĂN CHIẾN
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI
TRƯỜNG RỪNG TẠI XÃ ĐIỆN QUAN, HUYỆN BẢO YÊN,
TỈNH LÀO CAI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Quản lý tài nguyên rừng

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2014 – 2018

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN



i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi, các số liệu và kết quả thực hiện trình bày trong khóa luận là quá trình theo
dõi, điều tra tại cơ sở thực tập hoàn toàn trung thực, khách quan.
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA DVHD

Th.S Lục Văn Cường

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lự Văn Chiến

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM KHÓA LUẬN
Xác nhận sinh viên đã sửa đúng yêu cầu của HĐ và GV chấm phản biện!


ii

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp rất quan trọng và cần thiết để tạo điều kiện cho sinh
viên tiếp xúc với thực tế, củng cố kiến thức đã học. Được sự nhất trí của nhà
trường, ban chủ nhiệm Khoa Lâm nghiệp, em tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã
Điện Quan, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai”.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Thanh Tiến và Th.S

Bảng 4.7. Số hộ tham gia Quản lý Bảo vệ rừng.............................................. 31
Bảng 4.5. Tầm quan trọng của việc chi trả DVMTR ...................................... 31
Bảng 4.9. So sánh mức độ che phủ của rừng của xã Điện Quan .................... 36
Bảng 4.10. Diện tích rừng trồng qua các năm ................................................ 36


iv

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Sơ đồ phân tích hiệu quả của chính sách CTDVMTR.................... 23
Hình 4.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Quỹ BN&PTR ....................................... 27
Hình 4.2. Lộ trình chi trả dịch vụ môi trường rừng ........................................ 28


v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ARBCP

(Asia Regional Biodiversity Conservation Programme)
Chương trình Bảo tồn Đa dạng sinh học vùng Châu Á

BNNPTNT

Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn

BTNMT

Bộ tài nguyên môi trường



PES

(Payment for forest Environmental services)Chi trả dịch vụ môi
trường rừng

PSA-H

Chương trình về dịch vụ môi trường thủy văn

QCVN

Quy chuẩn Việt Nam

QĐ - TTg

Quyết định - Thủ tướng

QLBVR

Quản lý Bảo vệ rừng

RUPES

(Rewarding Upland Poor for Environmental Services )Chương
trình chi trả cho người nghèo vùng cao DVMT

TTLT

Thông tư liên tịch

2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước............................................................. 12
2.4. Tổng quan về cơ sở thực tập .................................................................... 16
2.4.1. Điều kiện tự nhiên. ................................................................................ 16
2.4.2. Tài nguyên ............................................................................................. 18
2.4.3. Điều kiện kinh tế xã hội ........................................................................ 19
2.4.4. Các yếu tố văn hóa, nhân văn ............................................................... 20
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG - ĐỊA ĐIỂM – THỜI GIAN- NỘI DUNG PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU..................................................................................... 22
3.1. Đối tượng phạm vi và thời gian nghiên cứu ............................................ 22


vii

3.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 22
3.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 22
3.3.1. Phương pháp kế thừa............................................................................. 22
3.3.2. Phương pháp điều tra, phỏng vấn ......................................................... 22
3.3.3. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu .......................................... 23
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................. 24
4.1. Kết quả khái quát tình hình thực hiện chi trả DVMTR tại xã Điện Quan,
huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai .......................................................................... 24
4.1.1. Khái quát tài nguyên rừng xã Điện Quan ............................................. 24
4.1.2. Thống kê diện tích, số hộ được nhận chi trả DVMTR ......................... 25
4.1.3. Hệ thống tổ chức và lộ trình chi trả của Quỹ Bảo vệ và PTR .............. 27
4.2. Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường từ chính sách
chi trả DVMTR tại xã Điện Quan huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai .................... 28
4.2.1. Chính sách chi trả DVMTR tác động trực tiếp kinh tế hộ gia đình ...... 28
4.2.2. Chính sách chi trả DVMTR nâng cao nhận thức về rừngvà tạo việc làm
cho cộng đồng ................................................................................................. 30
4.2.3. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tác động trực tiếp tới công

1.1. Đặt vấn đề
Lâm nghiệp Việt Nam là một ngành kinh tế- kĩ thuật có vị trí quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một bộ phận không thể tách rời trong lĩnh
vực nông nghiệp và nông thôn. Bên cạnh đó, lâm nghiệp có vai trò chính
trong việc bảo vệ môi trường cũng như chống biến đổi khí hậu. Trong những
năm gần đây, ngành Lâm nghiệp đang có những bước tăng trưởng đáng kể và
tương đối toàn diện. Ngành Lâm nghiệp đang góp phần đáng kể vào tăng
trưởng chung của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đóng góp vào
tăng trưởng kinh tế và góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của
một bộ phận dân cư miền núi cũng như những người làm trong ngành lâm
nghiệp.Vì vậy, lâm nghiệp Việt Nam là một trong những yếu tố quan trọng
đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước [4].
Xã Điện Quan là xã vùng 3 của huyện Bảo Yên- tỉnh Lào Cai có nguồn
tài nguyên rừng tương đối phong phú và đa dạng. Xã có tổng diện tích tự
nhiên là 4278,4 ha, diện tích đất lâm nghiệp là 2690,9 ha; trong đó có 1753,27
ha rừng sản xuất (chiếm 65,15% diện tích đất lâm nghiệp); 937,63 rừng
phòng hộ (chiếm 34,85% diện tích đất lâm nghiệp). Diện tích rừng lớn, thảm
thực vật khá phong phú và sự đa dạng là lợi thế đối với xã Điện Quan trong
phát triển kinh tế rừng, tạo đầu vào cho phát triển công nghiệp chế biến lâm
sản (bột giấy, đồ gỗ) [17].
Chính sách chi trả DVMTR chính thức triển khai tại Việt Nam từ đầu
năm 2011, ngay sau khi Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm
2010 của Chính phủ có hiệu lực, chi trả DVMTR đã trở thành một trong
những chính sách lâm nghiệp nổi bật, đáng chú ý nhất tại Việt Nam, thu được
nhiều thành tựu ý nghĩa. Trở thành một nguồn tài chính ổn định với số tiền
tổng thu DVMTR toàn quốc đến ngày 30/12/2016 là 6.510,6 tỷ đồng.


2


1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Khái quát hóa được diện tích rừng nói chung và diện tích rừng đáp
ứng chi trả DVMTR nói riêng của xã Điện Quan huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá, phân tích được hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của
chính sách chi trả DVMTR đến cộng đồng dân cư tại xã Điện Quan huyện
Bảo Yên tỉnh Lào Cai.
- Đề xuất được một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của
chính sách chi trả DVMTR đến công tác QLBVR tại xã Điện Quan huyện
Bảo Yên tỉnh Lào Cai
1.3. Ý nghĩa nghiên cứu
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Thông qua nghiên cứu giúp cho sinh viên tiếp cấn những phương pháp
mới trong quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) nói chung, trong công tác chi trả
DVMTR nói riêng. Đồng thời, vận dụng những kiến thức đã học để áp dụng
vào thực tiễn công tác của ngành Lâm nghiệp.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Thông qua đợt thực tập được tiếp cận với cộng đồng thôn bản, cán bộ
địa phương cũng như cán bộ kiểm lâm để được học học hỏi chia sẻ những
kiến thức của ngành. Đồng thời, giúp cho sinh viên được làm quen với những
công việc sau này, góp phần củng cố kiến thức. Mặt khác thông qua kết quả
nghiên cứu là tư liệu quan trọng giúp địa phương có những điều chỉnh trong
công tác chi trả DVMTR được hiệu quả hơn.

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU


4

2.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu


Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường
Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for Ecosystem Services - PES)
hay còn được gọi là chi trả cho dịch vụ môi trường (Payment for
Environmental Services) được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử
dụng các dịch vụ sinh thái bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người
sử dụng dịch vụ hệ sinh thái.
Một khái niệm hẹp hơn về chi trả môi trường được đưa ra năm 2005 là:
“ Chi trả dịch vụ môi trường là một giao dịch trên cơ sở tự nguyện mà ở đó
dịch vụ môi trường được xác định cụ thể (hoặc hoạt động sử dụng đất để đảm
bảo có được dịch vụ này) đang được người mua (tối thiểu một người mua)
mua của người bán (tối thiểu một người bán) khi và chỉ khi người cung cấp
dịch vụ môi trường đảm bảo được việc cung cấp dịch vụ môi trường này”.
(Wunder 2005, p9).
Trong quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có quy định
chi tiết hơn về khái niệm chi trả dịch vụ môi trường được áp dụng cho hoạt
động trồng rừng. Theo đó, chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ kinh tế
giữa người sử dụng các dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho người cung ứng
dịch vụ môi trường rừng [13].
Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường
Tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi
trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng của các khu rừng tạo ra
dịch vụ đã cung ứng.
- Thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng bằng tiền thông qua hình
thức chi trả trực tiếp hoặc chi trả gián tiếp.
- Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua Quỹ bảo vệ và phát
triển rừng là tiền của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng ủy thác cho Quỹ
để trả cho các chủ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng.





7

cấp các dịch vụ thủy văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ
cacbon, tạo cảnh quan du lịch sinh thái và đã thu được một số thành công nhất
định trong công cuộc bảo tôn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo cho
nhân dân vùng đầu nguồn. Chi trả DVMTR đang được thử nghiệm ở một số
nước trên thế giới, Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
Từ năm 2002 Trung tâm nghiên cứu nông lâm thế giới (ICRAF) đã tích
cực giới thiệu khái niệm chi trả DVMTR (PES) vào Việt Nam. Quỹ phát triển
nông nghiệp quốc tế (IFAD) đã hỗ trợ dự án đền đáp cho người nghèo vùng
cao cho các DVMTR mà họ cung cấp tại Indonesia, Philippines, Nepal là
“xây dựng cơ chế mới để cải thiện sinh kế và an ninh tài nguyên cho cộng
đồng nghèo vùng cao ở Châu Á” thông qua xây dựng các cơ chế nhằm đền
đáp người nghèo vùng cao về các DVMTR họ cung cấp cho các cộng đồng
trong nước và trên phạm vi toàn cầu
Các hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Mỹ
- Tại Hoa Kỳ: Là quốc gia nghiên cứu và tổ chức thực hiện các mô hình
PES sớm nhất, ngay từ giữa thập kỷ 80, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã thực hiện
“Chương trình duy trì bảo tồn”, ở Hawai đã áp dụng chính sách mua lại đất
hoặc mua nhượng quyền để bảo tồn, bảo vệ rừng đầu nguồn, duy trì, cải thiện
nguồn nước mặt, nước ngầm, phục vụ đời sống sinh hoạt, phát triển du lịch,
nông nghiệp và các ngành nghề khác. Ở Oregon, Portland áp dụng chính sách
bảo tồn và phát triển cá Hồi và môi trường sinh thái của chúng. Từ việc xác
định và đầu tư đúng mục tiêu sẽ hình thành các dịch vụ hệ sinh thái, cụ thể họ
đã phát triển du lịch sinh thái, lấy dòng sông nơi cá Hồi đẻ là nơi tham quan
về sinh thái, lấy các khu rừng bi khai thác quá mức xưa kia là nơi giáo dục
cho học sinh, sinh viên và du khách vê ý thức bảo vệ rừng v.v… Ở New
York, chính quyền thành phố đã thực hiện các chương trình mua đất để quy

du lịch đã liên kết cùng nhau làm hợp đồng với một làng nằm trong khu vực
đồng cỏ tại địa phương để bảo vệ các loài hoang dã chủ yếu thông qua chi trả
tài chính hàng năm [11]


9

- Tại Ecuador, năm 1999 Quỹ bảo tồn quốc gia (FONAG) được thành
lập cáccông ty nước đô thị ở Quito và Pimampiro xây dựng bằng cách áp phí
lên nước sinh hoạt. Theo đó, tất cả các đơn vị công cộng sử dụng nước dành
1% doanh thu đóng góp vào FONAG. Quỹ này được đầu tư cho việc bảo tồn
lưu vực đầu nguôn và chi trả trực tiếp cho các chủ rừng.
- Tại Colombia, những người sử dụng nước phục vụ công- nông nghiệp
ở thung lũng Cauca đã thành lập các hiệp hội để thu các khoản phí chi trả tự
nguyện cho các chủ rừng để cải thiện dòng chảy và giảm bồi lắng 0,5
USD/m3 nước thương phẩm [5].
- Tại Bolivia, hai công ty năng lượng Mỹ phối hợp với một tổ chức phi
chính phủ của Bolivia và Ủy ban bảo vệ thiên nhiên để tài trợ cho việc ngừng
khai thác gỗ và các hoạt động khác nhằm mở rộng diện tích và chất lượng của
Vườn Quốc gia Noel Kempff với mục đích tăng cường hấp thụ cacbon.
- Tại khu vực Trung Mỹ và Mexico, Chương trình về DVMT thủy văn
(PSA-H) là Chương trinh lớn nhất Châu Mỹ. PSA-H tập trung vào bảo tồn
các rừng tự nhiên bị đe dọa nhằm duy trì các dòng chảy và chất lượng nước.
Mexico đã thành lập quỹ lâm nghiệp năm 2002, thực hiện chi trả DVMTR từ
việc sử dụng đất. Ủy ban Lâm nghiệp Quốc gia ký hợp đồng với chủ đất để
quản lý nhằm duy trì các dịch vụ đầu nguồn. Ngoài ra người nông dân ở
Ugada và Mexico đã tiến hành liên kết với nhau để tham gia thị trường
cacbon quốc tế, bên mua là công ty sản xuất bao bì Teltra Pak có trụ sở tại
Vương quốc Anh. Nhóm nông dân này đã liên hệ với tổ chức phi chính phủ
Ecotrust có trụ sở tại Uganda, sau đó tổ chức này lại phối hợp với trung tâm

- Tại Đức, Chính phủ đã đầu tư một loạt chương trình để chi trả cho các
chủ đất tư nhân với mục đích thay đổi cách sử dụng đất của họ nhằm tăng
cường hoặc duy trì dịch vụ hệ sinh thái. Những dự án này bao gồm trợ cấp
cho sản xuất cà phê và ca cao trong bóng râm, quản lý rừng bền vững, bảo tồn
đất và cải tạo các cánh đồng chăn thả ở các nước Mỹ La tinh gồm Honduras,
Costa Rica, Colombia, Ecuador, Peru, Paraguay và Cộng hòa Dominica.


11

- Tại Chile, một số cá nhân khu vực tư nhân đã bỏ tiền đầu tư vào khu
vực bảo vệ tư nhân chỉ vì mục đích bảo tồn trên những diện tích có tính đa
dạng sinh học cao. Việc chi trả được thực hiện trên nguyên tắc hoàn toàn tự
nguyện xuất phát từ ý nguyện muốn hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn của
Chính phủ tại những sinh cảnh có nguy cơ bị đe dọa [5].
Hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Á.
Trong những năm gần đây, các Chương trình chi trả DVMTR đã được
phát triển và thực hiện thí điểm tại các nước Châu Á như Indonesia,
Philippines, Trung quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam nhằm xác định điều kiện
để thành lập cơ chế chi trả DVMTR. Đặc biệt là Indonesia và Philippines đã
có nhiều nghiên cứu điển hình về chi trả DVMTR đối với việc quản lý lưu
vực đầu nguồn.
Năm 1998, Trung quốc đã bổ sung và sửa đổi Luật quy định hệ thống
bồi thường sinh thái rừng. Triển khai thí điểm hệ thống bồi thường giai đoạn
2001- 2004. Năm 2004, thành lập Quỹ bồi thường lợi ích sinh thái rừng.
Từ năm 2001-2006, nhiều nhà tài trợ cũng đã khảo sát khả thi các
Chương trình chi trả DVMTR ở Châu Á. Trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ
Quốc tế và phát triển nông nghiệp (IFAD), Trung tâm Nông-Lâm thế giới
(ICRAF) đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về khái
niệm nâng cao nhận thức về chi trả DVMTR bằng chương trình chi trả cho

39,5%phân bố trên địa bàn 61 tỉnh, thành phố [3]; Chiến lược phát triển lâm
nghiệp ở Việt Nam dự kiến đến năm 2020 đưa diện tích rừng đạt khoảng gần
16 triệu ha, với tỷ lệ che phủ 47% [1]. Rừng có vai trò rất quan trọng trong
đời sống con người và sự phát triển bên vũng của quốc gia. Các hệ sinh thái
rừng phát triển tốt với đầy đủ chức năng và đang cung cấp những giá trị
DVMT vô cùng to lớn như: Bảo vệ phòng hộ đầu nguồn, điều tiết và duy trì
nguôn nước, hấp thụ và lưu giữ cacbon, tạo cảnh quan phục vụ cho dịch vụ,
du lịch…nhưng những năm trước đây chúng được coi là tài sản chung và
được sử dụng miễn phí cho toàn xã hội, trong khi đó việc duy trì và bảo vệ
các hệ sinh thái rừng thường chỉ được thực hiện bởi một nhóm nhỏ người, họ
là những người lao động trong ngành lâm nghiệp (là các chủ rừng) trực tiếp
đầu tư vốn, công sức để trồng, bảo vệ, gìn giữ và phát triển rừng nhưng họ
chưa được hưởng những lợi ích xứng đáng mà xã hội phải trả cho sự nỗ lực


13

của họ. Trong khi xã hội, cộng đồng, tổ chức và cá nhân không tham gia bảo
vệ tái tạo rừng lại được hưởng lợi từ các dịch vụ do rừng tạo ra. Ngày nay
cộng đồng xã hội nhận thức được rằng, các giá trị sử dụng của rừng tạo ra
không còn là miễn phí. Chính vì thế, cần có một cơ chế để bảo vệ và khuyến
khích quyền lợi về kinh tế cho những chủ rừng, đồng thời những người được
hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái phải chi trả cho những người tham gia
duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó.
Từ năm 2004 Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu xây dựng nền móng cho
một chương trình quốc gia về chi trả DVMTR. Trên cơ sở khung pháp lý Việt
Nam đã có như: Luật tài nguyên nước (1998),Luật đất đai (2003), Luật bảo vệ
và phát triển rừng (2004), Luật bảo vệ môi trường (2005) đều thừa nhận các
nhân tố của dịch vụ hệ sinh thái mang lại là bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ
cảnh quan, bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn và hấp thụ cacbon. Đặc biệt Điều

Nghiệp, Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu sinh
thái và môi trường và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản cùng phối hợp xây
dựng. Dự án tiến hành tại Xuân Phong và Bắc Phong thuộc huyện Cao Phong,
tỉnh Hòa Bình.
Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng là một Chương trình kinh tế, xã hội,
sinh thái trọng điểm của nhà nước Việt Nam theo đó sẽ trồng mới 5 triệu
hecta rừng và bảo vệ diện tích rừng hiện có trong thời kỳ từ năm 1998 đến
năm 2010 nhằm nâng cao độ che phủ rừng của Việt Nam.
Quyết định số 178/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê,
nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC ngày 03/9/2003 của Bộ
nông nghiệp va phát triển nông thôn, Bộ Tài chính về quyền lợi, nghĩa vụ của
hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005 của Thủ tướng
Chính phủ về giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng
trong buôn làng là đồng bào thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên.


15

Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ nông nghiệp và
PTNT về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng
cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn. Dự án phát
triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây nguyên (Flitch) do ngân hàng
phát triển Châu Á tài trợ, được triển khai từ năm 2007 trên 6 tỉnh Tây nguyên:
Đăk lăk; Đăk Nông; Gia Lai; Lâm Đồng; Kon Tum và Phú Yên với mục đích
góp phần giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách của các hộ nghèo so với các hộ
trung bình sống dựa vào rừng.
Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (NTPRCC), được thực hiện theo quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status