Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,các số liệu,kết
quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực
tập.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Thủy
1
SV: Nguyễn Thị Thu Thủy
1
Lớp: CQ50/02.02
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
MỤC LỤC
2
SV: Nguyễn Thị Thu Thủy
Lớp: CQ50/02.02
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Chi cục thuế huyện Tiền Hải
Hình 2.2: Tỷ trọng các nguồn thu ngân sách năm 2015
Hình 2.3: So sánh tổng thu thuế
Hình 2.4: Phân loại DN NQD theo loại hình doanh nghiệp
Hình 2.5: Phân loại DN NQD theo ngành nghề
Hình 2.6: Tình hình hoạt động của các DN NQD
Hình 2.7: Kết quả thu thuế GTGT của DN NQD
4
SV: Nguyễn Thị Thu Thủy
4
Lớp: CQ50/02.02
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế,với việc tham gia vào hiệp định đối
tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào
nền kinh tế thế giới, mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức với đất nước, đòi hỏi
Nhà nước cần phải có những biện pháp điểu tiết nền kinh tế vĩ mô kịp thời, đúng
đắn và một trong những công cụ không thể thiếu đó chính là Thuế. Thuế là nguồn
thu chủ yếu của NSNN đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công tác quản lý,
điều tiết kinh tế vĩ mô; là cơ sở đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy cạnh tranh
phát triển. Chính vì điều này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền nói chung và cơ
quan Thuế nói riêng phải tập trung nghiên cứu và đưa ra các biện pháp công tác cụ
thể hữu hiệu, phải tạo tính hiệu quả kinh tế thiết thực. Hệ thống thuế bao gồm
nhiều sắc thuế, trong đó thuế GTGT là một sắc thuế chiếm tỉ trọng lớn trong tổng
số thu .
Thuế GTGT góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế, tạo sự bình đẳng giữa các
chủ thể, buộc các chủ thể sử dụng hóa đơn, chứng từ.Thuế GTGT giúp nhà nước
kiểm soát hoạt động sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa. Thuế GTGT cũng
góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước khi đánh thuế GTGT vào các mặt hàng
xuất khẩu.
Ngày nay, cùng với xu hướng phát triển hội nhập kinh tế, với nhiều ngành
nghề đa dạng phong phú, tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của công ty,
doanh nghiệp, đặc biệt là khối DN NQD – đây là khu vực đóng vai trò quan trọng
đóng góp tỷ lệ lớn trong tổng thu NSNN. Nhưng đây cũng là nguồn thu phức tạp
đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ của ngành Thuế.
Công tác quản lý thuế nói chung và công tác quản lý thuế đối với DN NQD
trên địa bàn huyệnTiền Hải nói riêng đã có bước chuyển tích cực, thực sự là một
công cụ quan trọng, đảm bảo ổn định nguồn thu vững chắc, thể hiện số thu ngân
sách trên địa bàn năm sau cao hơn năm trước. Vì vậy thông qua chính sách thuế
6
huyệnTiền Hải
-Đề ra một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý thuế GTGT đối với DN
NQD trên địa bàn huyện Tiền Hải.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng: Tập trung vào hệ thống chính sách thuế GTGT và công tác quản
lý thuế GTGT đối với DN NQD trên địa bàn huyện Tiền Hải.
-Phạm vi: từ năm 2013-2015
4. Phương pháp nghiên cứu
7
SV: Nguyễn Thị Thu Thủy
7
Lớp: CQ50/02.02
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
-Luận văn sử dụng phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích,
thống kê, so sánh, tổng hợp, làm rõ tình trạng quản lý thuế tại CCT huyện Tiền
Hải từ đó đề xuất biện pháp.
-Luận văn kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một số tác giả
có công trình nghiên cứu lien quan đến công tác quản lý thuế GTGT đối với DN
NQD đã được công bố.
5.Kết cấu đề tài nghiên cứu
-Chương 1 : Thuế GTGT và sự cần thiết phải tăng cường quản lý thuế
GTGT
CHƯƠNG I
THUẾ GTGT VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ
GTGT ĐỐI VỚI DN NGOÀI QUỐC DOANH
1.1.Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT
1.1.1. Khái niêm, đặc điểm, vai trò của thuế GTGT
a) Khái niệm của thuế GTGT
Thuế GTGT (VAT) là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng
thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến
tiêu dùng.
b) Đặc điểm của thuế GTGT
-Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hoá
và dịch vụ (vì vậy còn được gọi là thuế tiêu dùng ), một yếu tố cấu thành trong giá
cả hàng hoá và dịch vụ, người tiêu dùng cuối cùng là người phải gánh chịu khoản
thế này.Tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện ở chỗ người mua hàng hoá và dịch
vụ là người phải trả khoản thuế này, tuy nhiên người mua không trực tiếp nộp thuế
GTGT vào NSNN mà phải trả thuế thông qua thanh toán giá bán hàng hoá và dịch
vụ cho người bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT mà người mua phải trả.
Người bán là người đứng ra “nộp hộ”cho người mua khoản thuế GTGT phải nộp
vào NSNN.
-Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu
dùng. Vì vậy tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng thuế
GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Đặc điểm này cho
thấythuế GTGT có tính ưu việt hơn so với các loại thuế gián thu khác, khắc phục
được nhược điểm của thuế doanh thu là “thuế chồng lên thuế”.
-Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập kinh tế cao. Tính trung lập
biểu hiện ở hai khía cạnh:
+Thứ nhất TGTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người
nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ
tập trung ngay từ khâu đầu ( sản xuất, nhập khẩu ), đảm bảo nguồn thu cho
NSNN, chống thất thu .
-Thuế GTGT là công cụ điều tiết vĩ mô và vi mô nền kinh tế:
Thuế GTGT điều tiết sản xuất và tiêu dùng. Luật Thuế GTGT quy định đánh
thuế hay không đánh thuế, thuế suất cao hay thấp đối với từng mặt hàng hóa, dịch
vụ cụ thể, thông qua đó tác động đến cung-cầu trên thị trường, tác động đến việc
lựa chọn hàng hóa để tiêu dùng; sản xuất, nhằm góp phần điều tiết kinh tế vĩ mô.
Thuế GTGT góp phần khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ sản xuất trong
nước. Hàng hóa xuất khẩu được hưởng thuế suất 0%, được hoàn toàn bộ số thuế
GTGT đã nộp ở đầu vào, việc hoàn thuế GTGT đầu vào thực chất là nhà nước trợ
10
SV: Nguyễn Thị Thu Thủy
10
Lớp: CQ50/02.02
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
giá cho hàng xuất khẩu tạo điều kiện cạnh tranh với hàng hóa trên thị trường quốc
tế, tạo động lực cho các DN sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
Thuế GTGT góp phần kiểm tra giám sát hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp , thúc đẩy việc mua bán hóa đơn, tăng cường công tác hạch toán kế toán
của DN. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào,
tính đúng thu nhập của DN cùng với việc hoàn thuế GTGT đã khuyến khích DN tự
giác ghi chép, quản lý và sử dụng hóa đơn chứng từ. Thông qua đó giúp cơ quan
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
Đối tượng nộp thuế GTGT là các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng
hóa , dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam không phân biệt ngành nghề, hình thứ tổ
chức kinh doanh ( gọi là cơ sở kinh doanh ) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng
hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT ( gọi là người nhập khẩu )
1.1.3. Căn cứ tính thuế.
a) Gía tính thuế
Gía tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hóa
đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ .
Đối với hàng hóa nhập khẩu giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu đã tính
thuế nhập khẩu, trường hợp được miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế
là giá nhập khẩu cộng thêm thuế nhập khẩu sau khi đã miễn hoặc giảm.
b) Thuế suất
Thuế suất thuế GTGT được áp dụng thống nhất theo loại hàng hóa, dịch
vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thương mại. Thuế
GTGT hiện hành có 3 mức thuế suất: 0%, 5%, 10%.
Thuế suất 0% áp dụng cho các hàng hóa dịch vụ xuất khẩu ra nước ngoài
và các trường hợp được coi như xuất khẩu .
Thuế suất 5% chủ yếu áp dụng cho các hàng hóa, dịch vụ từ các hoạt
động thiết yếu, hay quá trình sản xuất có nhiều khó khăn cần khuyến khích phát
triển.
Thuế suất 10% là mức thuế suất phổ thông áp dụng cho các đối tượng
chịu thuế GTGT không thuộc diện áp mức thuế suất 0% và 5%.
1.1.4. Phương pháp tính thuế
a)Phương pháp khấu trừ thuế
•
hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ.
•
Cách tính thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào được
khấu trừ.
Trong đó:
Thuế
GTGT =
Đầu ra
Gía tính thuế của
hàng hóa,dịch vụ
Thuế suất thuế
x
chịu thuế bán ra
GTGT của hàng
hóa, dịch vụ đó
Thuế GTGT đầu vào là số thuế được ghi trên hóa đơn GTGT khi mua hàng
hóa, dịch vụ mà cơ sở đó mua vào hoặc trên chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa
nhập khẩu hoặc theo tỷ lệ % quy định.
b) Phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT
•
Đối tượng áp dụng:
x
Tỷ lệ %
phải nộp
Tỷ lệ % để tính thuế GTGT trên doanh thu được quy định theo từng hoạt
động như sau :
-Phân phối, cung cấp hàng hóa 1%
-Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%
-Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu
nguyên vật liệu: 3%
-Hoạt động kinh doanh khác: 2%
Doanh thu để tính thuế GTGT là tổng số tiền hàng hóa, dịch vụ thực tế
ghi trên hóa đơn bán hàng đối với hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT bao gồm các
khoản phụ thu, phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng.
Thứ 2: áp dụng đối với hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc đá quý.
Số thuế GTGT phải nộp = GTGT của vàng bạc, đá quý x 10%
(GTGT của vàng bạc đá quý =giá thanh toán – giá mua vào tương ứng)
14
SV: Nguyễn Thị Thu Thủy
14
Lớp: CQ50/02.02
Luận văn tốt nghiệp
dịch vụ mua vào bán ra, bảng phân bổ số thuế giá trị được khấu trừ trong kỳ, bảng
kê khác… để phát hiện mâu thuẫn giữa các số liệu. Đối với bảng kê hóa đơn, chứng
từ hàng hóa, dịch vụ bán ra cần kiểm tra:
15
SV: Nguyễn Thị Thu Thủy
15
Lớp: CQ50/02.02
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
-Tính liên tục của số thứ tự hóa đơn, chứng từ;
-Doanh số chưa có thuế của hàng hóa, dịch vụ bán ra có so sánh đối chiếu với
doanh số chưa có thuế của hàng hóa dịch vụ cùng loại được phản ánh trong
bảng kê của tháng trước;
-Mức thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra có phù hợp với chính
sách quy định và từng bảng kê của tháng trước hay không.
-Quản lý doanh số mua vào và thuế suất:
Cán bộ thuế cần: So sánh doanh số mua hàng hóa, dịch vụ chưa có thuế và
mức thuế suất của cùng người bán được kê khai trong bảng kê cá tháng để phát hiện
những mâu thuẫn về giá cả và mức thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua
vào. Kiểm tra bảng phân bổ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào được
khấu trừ trong kỳ.
1.2.3. Quản lý hóa đơn, chứng từ
Quản lý hóa đơn, chứng từ là khâu rất quan trọng trong quá trình thực hiện thu
để giúp các doanh nghiệp thực hiện tốt luật định, cơ quan thuế cần sát sao hướng
dẫn, tuyên truyền các quy định hóa đơn, chứng từ tới doanh nghiệp; khuyến khích
người tiêu dùng lấy hóa đơn khi mua hàng hóa, dịch vụ…
1.2.4 .Quản lý kê khai, nộp thuế
1.2.4.1. Quản lý kê khai
•
Nguyên tắc kê khai:
-NNT phải tính số tiền thuế phải nộp NSNN, trừ trường hợp cơ quan thuế
ấn định thuế hoặc tính thuế theo quy định tại Điều 37 và Điều 38 của Luật quản lý
thuế.
-NNT phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế
với cơ quan thuế theo mẫu của Bộ tài chính quy định và nộp đủ chứng từ, tài liệu
quy định trong bộ hồ sơ khai thuế.
-Đối với loại thuế khai theo tháng, quý hoặc năm, nếu trong kỳ tính thuế
không phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc NNT đang thuộc diện được hưởng ưu đãi, miễn
giảm thuế thì NNT vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế theo đúng thời
hạn quy định, trừ trường hợp đã phát sinh hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế.
-Đối với loại thuế khai theo tháng hoặc khai theo quý, kỳ tínhthuế đầu tiên
được tính từ ngày bắt đầu hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế đến ngày cuối cùng của
tháng hoặc của quý; kỳ tính thuế cuối cùng được tính từ ngày đầu tiên của tháng
hoặc của quý đến ngày phát sinh hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế.
Khai thuế GTGT:
-Đối tượng khai thuế theo quý:
o
Khai thuế theo quý áp dụng đối với DN có tổng doanh thu bán hàng hóa và cung
cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ 50 tỷ trở xuống.
Khai thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp trên GTGT:
Các doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc, đá quý, ngoại tệ lưu giữ được đầy đủ
hóa đơn mua vào, hóa đơn bán ra để xác định được giá trị gia tăng thì áp dụng khai
thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp trên GTGT.
-
Khai thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu:
Các doanh nghiệp thực hiện lưu giữ được đầy đủ hóa đơn chứng từ bán hàng,
cung cấp dịch vụ nhưng không có đủ hóa đơn, chứng từ mua hàng hóa, dịch vụ đầu
vào nên không xác định được GTGT trong kỳ thì áp dụng khai thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp trên doanh thu.
-Đối tượng khai thuế GTGT theo tháng áp dụng đối với DN có tổng doanh thu
bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề trên 50 tỷ đồng.
1.2.4.2. Quản lý thu nộp thuế
Quản lý thu nộp tiền thuế là việc kiểm tra theo dõi số tiền thuế mà doanh
nghiệp nộp vào NSNN với số tiền thuế đã khai báo, ghi trong thông báo hoặc số
tiền thuế được quyết định truy thu. Từ đó, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời,
tránh dây dưa nợ đọng. Đối với các khoản thuế phát sinh còn trong hạn do được gia
hạn, trong thời gian ân hạn, hay khoản nợ thuế trong hạn thường không phải là vấn
đề đáng lo ngại. Những cán bộ quản lý cần theo dõi để nắm bắt, đôn đốc thu nộp kịp
thời khi đến hạn nộp. Đối với các khoản nợ quá hạn sẽ được phân loại theo khả
năng thu hồi để có biện pháp quản lý khác nhau và phù hợp. Vì vậy cán bộ thuế
18
SV: Nguyễn Thị Thu Thủy
18
Lớp: CQ50/02.02
trường nhằm mục đích sinh lời.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là toàn bộ các đơn vị sản xuất kinh
doanh của tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý.Các đơn
19
SV: Nguyễn Thị Thu Thủy
19
Lớp: CQ50/02.02
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
vị, DN NQD bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần,
công ty liên doanh và các đơn vị theo hình thức Hợp tác xã.
b) Đặc điểm
-Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các DN NQD đã có sự phát triển
nhanh chóng và đạt một số kết quả nhất định. Với chính sách khuyến khích và hỗ
trợ hoạt động cho thành phần này, số lượng các DN NQD ở nước ta đã tăng lên
nhanh chóng.Năm 1991 mới chỉ có 123 doanh nghiệp với số vốn điều lệ là 63 tỷ
đồng thì đến năm 1996 đã có 26.091 doanh nghiệp với số vốn điều lệ lên tới 8.257
tỷ đồng.Tính đến 31/12/2012, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, cả nước có
340.041 doanh nghiệp ngoài nhà nước đang hoạt động chiếm gần 97% số lượng DN
và tạo ra hơn 60% việc làm.
Hình 1.1. Số lượng DN ngoài nhà nước đang hoạt động và tốc độ tăng giai đoạn
2000-2012
Hợp
Hợp tác
tác xã
xã
Hình 1.2: Hệ thống DN NQD
-Dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là chủ yếu, được tổ chức ở đủ
loại quy mô lớn, vừa và nhỏ, nhưng đều do tư nhân quản lý và phân phối lợi nhuận.
-Số lượng cơ sở rất lớn, thường xuyên biến động, tùy thuộc vào tình hình
kinh doanh (chu kì kinh tế) và chính sách, chế độ của Nhà nước trong từng thời kì.
20
SV: Nguyễn Thị Thu Thủy
20
Lớp: CQ50/02.02
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài chính
-Hoạt động trong hầu hết mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
-Số thu hàng năm chiếm tỷ trọng quan tọng trong tổng thu NSNN.
-Mục tiêu của chủ DN chính là lợi nhuận. Do vậy, có tính cạnh tranh cao
mặt khác có khá nhiều DN lợi dụng sơ hở của cơ quan Thuế, cán bộ Thuế, chính
sách, chế độ …để trốn thuế.
1.3.2. Vai trò của DN NQD đối với nền kinh tế
Học viện Tài chính
Khu vực kinh tế NQD là khu vực phát triển phong phú và năng động, nó có vai
trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên đây cũng là khu vực
phức tạp cần có sự điều chỉnh của Nhà nước thông qua các công cụ pháp luật, hành
chính và đặc biệt là công cụ thuế.Và thuế GTGT là sắc thuế gián thu với nhiều ưu
điểm vượt trội cũng như chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số thu vào NSNN.Để thuế
GTGT phát huy hết vai trò, tác dụng của nó thì chúng ta cần thiết phải tăng cường
công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp đặc biệt là DN NQD.
Xuất phát từ đặc điểm nền kinh tế NQD là mang tính sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất, hoạt động mang tính tự chủ cao. Do thành phần kinh tế này rất nhạy
bén, linh hoạt nên nó cũng bộc lộ nhiều hạn chế cho thị trường như: kinh doanh trái
phép, làm hàng giả, trốn lậu thuế nhằm thu lợi nhuận cao. Bên cạnh đó hệ thống kế
toán cũng chưa thực hiện triệt để, đôi khi chỉ là hình thức chống đối, có biểu hiện
thiếu trung thực trong ghi chép hóa đơn và phương pháp hạch toán để trốn thuế.
Mặt khác, số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh đa dạng nhiều ngành nghề do đó
quản lý trở nên phức tạp. Chính về điều này gây khó khăn cho công tác quản lý thuế
của cơ quan Thuế nói chung và cán bộ Thuế nói riêng.
Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo nguồn thu cho NSNN: NSNN là vấn đề mà tất
cả các quốc gia đều quan tâm, nó không chỉ giúp đảm bảo mà nó còn tạo điều kiện
phát triển kinh tế xã hội. Để đảm bảo cho nguồn thu ngân sách được ổn định, nhiệm
vụ của ngành thuế là hết sức quan trọng, hàng năm số thu từ thuế chiếm 90% tổng
thu NSNN. Thuế GTGT là một sắc thuế đem lại số thu lớn thương xuyên ổn định
cho NSNN, hàng năm thu cường công tác quản lý thuế GTGT từ DN NQD để đảm
bảo nguồn thu cho NSNN.từ sắc thuế này chiểm khoảng 20% tổng thu từ thuế, do
vậy tăng cường quản lý thuế GTGT là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa. DN NQD với
sự phát triển hết sức đa dạng và quy mô ngày càng lớn thì số thu từ thuế ở khu vực
kinh tế sẽ ngày trở nên quan trọng cần có sự quan tâm đúng mức. Do vậy cần thiết
phải tăng cường quản lý thuế GTGT.
Bởi vậy, việc tăng cường công tác quản lý thuế GTGT đối với khu vực kinh tế
Học viện Tài chính
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GÍA TRỊ GIA TĂNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN TIỀN HẢI
2.1. Vài nét về huyện Tiền Hải
2.1.1.Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Tiền Hải.
Huyện Tiền Hải được thành lập vào ngày 14 tháng 10 năm 1930. Nằm ở phía
Đông tỉnh Thái Bình, có tọa độ địa lý là 20’17’’30’’’- 20’28’’30’’’ vĩ bắc; 106’27’’106’30’’ kinh đông.
+ Phía Bắc giáp huyện Thái Thụy
+ Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ
+ Phía Tây giáp huyện Kiến Xương
Huyện Tiền Hải cách Thị xã Thái Bình 21km, thủ đô Hà Nội 130km, và thành
phố Hải Phòng 70km với hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy thuận lợi cho
giao lưu hội nhập trao đổi hàng hóa, thông tin khoa học kĩ thuật, tiếp thu các thành
tựu khoa học công nghệ tiên tiến, khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài huyện cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
Huyện Tiền Hải là vùng ven biển được thiên nhiên ưu đãi,có 25km đường bờ
biển với vùng hải lưu rộng lớn, nằm giữa hai của sông lớn là sông Trà Lý và sông
Hồng nên vùng ven biển Tiền Hải có nhiều điều kiện thuận lợi cho nhiều loại thủy
sản phát triển, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như : ngao, vọp, tôm, các
loại cá biển và nước lợ, tạo nên các bãi biển đẹp như Đồng Châu, khu sinh thái Cồn
Vành, Cồn Thủ …. Là những nơi nghỉ ngơi an dưỡng tham quan lí tưởng.
Tiền Hải là vùng đất có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp. Mỏ khí đốt vừa
là nguồn nguyên liệu, nhiên liệu có trữ lượng khá lớn là cơ sở cho các ngành công
nghiệp sủ dụng năng lượng hình thành và phát triển. Nguyên liệu để sử dụng vào các
ngành công nghiệp chế biến rất dồi dào như nông sản, thủy hải sản, cây hoa màu…
và phục vụ xuất khẩu. Sự phát triển ngày càng mạnh của kinh tế biển Tiền Hải đòi hỏi
phát triển công nghiệp sửa chữa, đóng mới tàu thuyền, xây dựng cảng phục vụ khai
Chi Cục Thuế huyện Tiền Hải được thành lập theo quyết định số 316 TC-QĐTTCB ngày 28/8/1990 của Bộ trưởng Bộ tài Chính là tổ chức trực thuộc Cục thuế
tỉnh Thái Bình, chịu sự song trùng lãnh đạo của chính quyền cùng cấp, có chức
năng tổ chức thực hiện quản lý thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác trên đị
bàn huyện theo quy định của pháp luật.
Qua từng thời kỳ, tổ chức bộ máy Chi Cục thuế huyện Tiền Hải vừa xây dựng,
vừa hoàn thiện, đội ngũ cán bộ công chức được tăng cường cả về số lượng và chất
lượng. Hiện nay toàn Chi cục có 46 cán bộ công chức ở 8 đội thuế trong đó trình độ
đại học chiếm 60%. Các đội thuế trực thuộc Chi Cục thuế huyện Tiền Hải là:
* Ban lãnh đạo Chi Cục thuế
1. Đội Hành chính- nhân sự-tài vụ-ấn chỉ
2. Đội Kê khai, kế toán thuế và tin học
25
SV: Nguyễn Thị Thu Thủy
25
Lớp: CQ50/02.02