BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI HÀNG
HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN
CẢNG CÁI LÂN - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chương trình: Điều hành cao cấp- EMBA
PHẠM VĂN HẢI
Hà Nội - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI HÀNG
HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN
CẢNG CÁI LÂN - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Ngành: Quản trị kinh doanh
Chương trình: Điều hành cao cấp- EMBA
Mã số: 60340102
Họ và tên học viên: Phạm Văn Hải
Người hướng dẫn: PGS. TS. Đào Thị Thu Giang
cục hải quan cảng Cái Lân đã giúp tác giả hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 9 năm 2018
Tác giả
6
MỤC LỤC
7
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASYCUDA
BTC
CBCC
CBL
CNTT
CO
CSDL
DN
GLTM
GS
HQ
HQĐT
HTTT
HTKB
HTXLDL
KS
TK
Giám Sát
Hải quan
Hải quan điện tử
Hệ thống thông tin
Hệ thống khai báo
Hệ thống xử lý dữ liệu
Kiểm soát
Tờ khai
Mạng nội bộ
Nhập khẩu
Nhập kinh doanh
Quản lý rủi ro
Sản xuất xuất khẩu
Tổng cục hải quan
Tờ khai
Thương mại
Thành phố
Thông quan điện tử
Trung tâm dữ liệu
Ngân hàng thế giới (World Bank)
Tổ chức hải quan thế giới ( World Customs Organization)
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
Xuất kinh doanh
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Xử lý dữ liệu thông quan điện tử
Xuất nhập khẩu
Xuất nhập cảnh
thủ tục HQĐT tại Chi cục hải quan cảng Cái Lân. Từ đó học viên đề xuất những
giải pháp nhằm hoàn thiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu tại chi cục, trong đó cụ thể là các giải pháp sau: hoàn thiện các hệ thống
quản lý (chương trình phần mềm), phát triển cơ sở hạ tầng CNTT; xây dựng mô
hình thủ tục HQĐT và mô hình tổ chức, bộ máy phù hợp; xây dựng và phát triển
nguồn nhân lực; xây dựng công cụ quản lý HQ hiệu quả bao gồm hệ thống thông tin
nghiệp vụ HQ, QLRR và KTSTQ…
Mặc dù đã hết sức cố gắng trong việc nghiên cứu, thu thập tài liệu, nhưng do
trình độ năng lực có hạn nên chắc chắn đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những
khiếm khuyết. Học viên rất mong nhận được những lời góp ý từ các thầy giáo, cô
giáo, bạn bè đồng nghiệp cũng như những người quan tâm đến đề tài nghiên cứu
của luận văn này.
10
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Với xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới đặc biệt là việc gia nhập sâu, rộng
vào tổ chức WTO, Việt Nam cần phải thực hiện các yêu cầu, các cam kết với các
nước, các tổ chức đã tham gia, ký kết như APEC, ASEAN, WTO v.v… Những công
việc mà ngành HQ phải thực hiện là đơn giản hóa thủ tục HQ theo công ước Kyoto
sửa đổi, thực hiện việc xác định trị giá hải quan theo Hiệp định trị giá GATT, thực
hiện Công ước hệ thống mô tả hài hòa và mã hóa hàng hóa (công ước HS), thực
hiện cam kết liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa (Hiệp định
TRIPs), đảm bảo hệ thống pháp luật về hải quan đầy đủ, thống nhất, rõ ràng và công
khai, phù hợp với các cam kết quốc tế, thực hiện nghiêm chỉnh, bình đẳng cho mọi
đối tượng. Việc thực hiện thủ tục hải quan chứng tỏ thiện chí, nỗ lực tích cực của
Nhà nước Việt Nam trong việc tham gia thực hiện các mục tiêu của các tổ chức này,
vì lợi ích quốc gia và quốc tế.
số tác giả tiến hành nghiên cứu, phân tích đánh giá về thương mại điện tử và một số
lĩnh vực hoạt động hải quan như:
-
Đoàn Thị Hồng Vân, Công trình NCKH cấp Bộ (2001): Một số giải pháp đẩy mạnh
-
quá trình hội nhập của Hải quan Việt Nam với Hải quan các nước.
Trần Đình Thọ, Luận văn thạc sỹ (2001): Những biện pháp cải cách và hiện đại hóa
-
công tác quản lý hành chính Hải quan Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006.
Lê Hương Thủy, Luận văn Thạc sỹ (2001): Hoàn thiện kiểm soát nội bộ ngành Hải
-
quan.
Nguyễn Hồng Sơn, Luận văn Thạc sỹ (2002): Một số giải pháp ứng dụng tin học
-
vào quản lý hành chính ngành Hải quan giai đoạn 2002-2005.
Bùi Lê Hùng, luận văn thạc sỹ (2001): Giải pháp hoàn thiện thủ tục hải quan tại
chi cục hải quan thành phố Hồ Chí Minh để góp phần thực hiện Hiệp định thương
-
mại Việt Mỹ.
trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đây.
1.3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về thủ tục hải quan điện tử, khẳng định sự cần
thiết phải áp dụng thủ tục hải quan điện tử, nghiên cứu cơ sở pháp lý của thủ tục hải
-
quan điện tử, kinh nghiệm thực hiện thủ tục hải quan điện tử của một số nước.
Phân tích, đánh giá một cách khách quan tình hình thực hiện thủ tục hải quan điện
tử tại Chi cục hải quan cảng Cái Lân. Chỉ rõ những ưu điểm, nhược điểm của quy
-
trình thủ tục và những nhân tố tác động.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quy trình thủ tục hải quan điện
tử tại Chi cục hải quan cảng Cái Lân, nói riêng và phát triển mô hình thông quan
-
điện tử tại Việt Nam, nói chung.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thủ tục Hải quan điện tử.
Thủ tục Hải quan điện tử tại Chi cục hải quan cảng Cái Lân.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Tiếp cận dưới góc độ Chi cục Hải quan.
Kinh nghiệm thực hiện thông quan điện tử của một số nước trên thế giới đặc biệt là
những quốc gia trong vùng Đông Nam Á do có những nét tương đồng về vị trí địa
-
1.1.1. Khái niệm thủ tục hải quan
Để hiểu rõ khái niệm về thủ tục hải quan điện tử, trước hết cần phải hiểu khái
niệm về thủ tục hải quan.
Công ước Kyoto định nghĩa như sau: “Thủ tục hải quan là tất cả những công
việc mà những người liên quan và cơ quan hải quan phải thực hiện theo quy định
của pháp luật hải quan”. (Công ước Kyoto, 1973, p. 10)
Ở Việt Nam, thủ tục hải quan được Luật Hải quan năm 2014, tại khoản 23,
Điều 4 quy định: “Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và
công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của luật này đối với hàng hóa,
phương tiện vận tải”. (Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014, n.d., p. 27)
Định nghĩa này được cụ thể hóa tại Điều 21, tóm tắt như sau: Khi làm thủ tục hải
quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu, người khai hải quan phải: Khai, nộp/xuất trình
tờ khai hải quan và các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan bằng giấy hoặc ở dạng chứng
từ điện tử, xuất trình hàng hóa để hải quan kiểm tra, nộp thuế theo quy định của
pháp luật; công chức hải quan phải: Đăng ký hồ sơ hải quan, kiểm tra hồ sơ hải
quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, thu thuế theo quy định của pháp luật, quyết định
việc thông quan.
Hiểu đơn giản thì thủ tục hải quan là những thủ tục cần thiết để hàng hóa,
phương tiện vận tải được nhập khẩu/nhập cảnh vào trong quốc gia hoặc xuất
khẩu/xuất cảnh ra khỏi biên giới, lãnh thổ quốc gia đó.
Thực tế cho thấy, thủ tục hải quan là một thủ tục bắt buộc ở tất cả hơn 200
vùng lãnh thổ, quốc gia trên toàn thế giới, trong đó bao gồm Việt Nam. Mục đích
của việc làm thủ tục hải quan được thể hiện trên 2 phương diện chính:
-
Phương diện kinh tế: Mục đích quan trọng nhất của thủ tục hải quan là giúp Nhà
nước tính và thu thuế. Hoàng hóa, phương tiện xuất – nhập khẩu khi đưa đi hoặc
nhập vào Việt Nam đều phải tính thuế. Đây là biện pháp đảm bảo cân đối và ổn định
thị trường.
các hãng vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu…; cung cấp các dịch vụ điện tử cho
người khai hải quan như: Dịch vụ khai báo điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử,
thông quan điện tử…
Theo nghĩa rộng: Thủ tục HQĐT là thủ tục hải quan theo đó cơ quan hải quan
áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin và trang
16
thiết bị hiện đại để cung cấp các dịch vụ về thông quan hải quan cho người khai hải
quan, phương tiện, hành khách xuất cảnh, nhập cảnh và các bên có liên quan khác.
Có thể hiểu nôm na, khái niệm thủ tục HQĐT là thủ tục hải quan, trong đó
việc khai báo và gửi hồ sơ của người khai hải quan cùng với việc tiếp nhận và đăng
ký hồ sơ hải quan của công chức hải quan được thực hiện thông qua hệ thống xử lý
dữ liệu điện tử của hải quan. Nói cụ thể hơn, thủ tục hải quan điện tử là công việc
người khai và công chức hải quan phải thực hiện đối với hàng hóa xuất nhập khẩu,
phương tiện vận tải; trong đó người khai hải quan phải khai báo, gửi hồ sơ của mình
và tiếp nhận, đăng ký hồ sơ hải quan của công chức hải quan qua hệ thống xử lý dữ
liệu điện tử của hải quan.
Bảng 1.1. Bảng tổng hợp so sánh hai phương thức thực hiện thủ tục hải quan
Tiêu chí so sánh
Thủ tục hải quan truyền thống
Thủ tục hải quan điện tử
1. Quy trình
Phức tạp
Chuyên môn hóa cao
7. Bộ máy
Cồng kềnh
Tinh giảm
8. Cơ chế vận hành
Xin – cho
Chuẩn mực, thông lệ
9. Chính sách
Thay đổi khó lường
Dễ định lượng
10. Khả năng hội nhập
Khó khăn
Thuận lợi
Nguồn: Tác giả tổng hợp
1.1.3. Quy trình thực hiện thủ tục Hải quan điện tử:
1.1.3.1. Đối với doanh nghiệp có hàng hóa xuất – nhập khẩu:
1.2.1. Vai trò đối với hội nhập quốc tế
Trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế thế giới hiện nay, Việt Nam cần phải
thực hiện các yêu cầu cam kết với các nước, các tổ chức đã tham gia ký kết như
ASEAN, APEC … Nhiệm vụ của ngành hải quan là phải đơn giản hóa thủ tục hải
18
quan theo công ước Kyoto sửa đổi, thực hiện việc xác định giá trị hải quan theo
hiệp định trị giá GATT, thực hiện công ước hệ thống mô tả hài hòa và mã hóa hàng
hóa (công ước HS), thực hiện cam kết liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối
với hàng hóa (Hiệp định TRIPs), đảm bảo hệ thống pháp luật về hải quan đầy đủ,
thống nhất, rõ ràng và công khai, phù hợp với các cam kết quốc tế, thực hiện
nghiêm chỉnh, bình đẳng cho mọi đối tượng. Việc thực hiện HQĐT chứng tỏ được
thiện chí và nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc tham gia thực hiện các mục
tiêu của các tổ chức này, vì lợi ích quốc gia và quốc tế.
Thủ tục HQĐT từ phạm vi quốc gia đã mở ra phạm vi toàn cầu trong một thời
gian ngắn đã làm giảm thiểu sự phức tạp và xung đột về thủ tục hải quan giữa các
nước, tạo ra hàng loạt thuận lợi và thống nhất trong hợp tác và giao thương quốc tế,
tránh tổn thất và rủi ro xuất phát từ lỗi thủ tục gây ra. Khi không có thủ tục HQĐT
thì từng quốc gia sẽ gặp nhiều khó khăn trong phát triển thương mại, đầu tư, du lịch
quốc tế. Mặt khác, những lợi ích và thuận lợi trong hợp tác quốc tế về các lĩnh vực
đó cũng rất khó thâm nhập vào từng quốc gia.
Vai trò gắn kết nhanh, hiệu lực cao, hiệu quả tốt của thủ tục hải quan điện tử
trong hợp tác và phát triển giao thương tại mỗi quốc gia đều được thể hiện rõ ràng
trên thực tiễn trong nhiều thập kỷ qua. Minh chứng cho vai trò của thủ tục hải quan
điện tử là hàng loạt quốc gia đã đưa tốc độ phát triển thương mại quốc tế lên cao
hơn tốc độ tăng trưởng GDP của mình.
1.2.2. Vai trò đối với công tác quản lý Nhà nước
Mỗi quốc gia đều phải quản lý mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của mình,
-
đảm bảo phục vụ người dân và nâng cao hiệu quả quản lý.
TTHQĐT với ưu thế như công khai, rõ ràng, minh bạch nên cho phép tăng cường
hiệu lực và hiệu quả của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hải quan, trong đó dễ thấy
nhất là: giao thương quốc tế của quốc gia được tăng trưởng và phát triển bền vững
hơn; ngân sách Nhà nước giảm thất thoát vì sự minh bạch từ những nguồn thu hải
quan; an ninh quốc gia, an ninh thương mại, trật tự an toàn xã hội trong hội nhập
quốc tế về thương mại, đầu tư, du lịch được cải thiện rõ rệt.
1.2.3. Vai trò đối với doanh nghiệp
Trong lĩnh vực giao thương quốc tế, các doanh nghiệp ngoài việc theo đuổi
mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận tối đa, còn kỳ vọng đạt nhiều mục tiêu phát sinh
khác như: giảm chi phí, giảm rủi ro, tăng thuận lợi hội nhập, tăng năng lực cạnh
tranh.
Trước khi TTHQĐT ra đời, việc đạt lợi nhuận tối đa không phải là trường hợp
hiếm hoi của doanh nghiệp trong giao thương toàn cầu. Tuy nhiên, để đạt được điều
đó, các doanh nghiệp đã phải giảm thiểu các mục tiêu phát sinh, trong đó phải chấp
nhận: tăng chi phí, rủi ro cao, khó khăn trong hội nhập, suy giảm năng lực cạnh
tranh.Với việc xuất hiện TTHQĐT và Nhà nước đưa vào vận hành, doanh nghiệp
ngày càng nhận ra phương thức thực hiện thủ tục hải quan này có vai trò quan trọng
đối với Nhà nước và cả đối với doanh nghiệp.
-
TTHQĐT cho phép doanh nghiệp giảm thiểu nhiều loại chi phí về hải quan, trong
đó nổi bật là: giảm chi phí làm tờ khai hải quan; giảm thời gian kiểm tra hải quan
(nhất là đối với luồng vàng và luồng đỏ); giảm thời gian kiểm tra sau thông quan;
giảm thời gian xử lý các lỗi kỹ thuật nghiệp vụ; giảm chi phí đưa và nhận hối lộ
lớn trong việc thi hành đúng các quy định của pháp luật.
-
Các chương trình phần mềm chưa hoàn thiện
Các hệ thống phần mềm tích hợp rất quan trọng trong việc giúp cho một công
chức hải quan không phải sử dụng nhiều chương trình cùng một lúc trong quá trình
làm thủ tục hải quan. Chương trình tự động hóa thủ tục HQĐT giúp Doanh nghiệp
và đơn vị hải quan thực hiện các thao tác tra cứu được nhanh hơn.
-
Hệ thống cơ sở hạ tầng
Hệ thống backup chuyên dụng để phục vụ việc sao lưu dữ liệu trong khi nhu
cầu sao lưu dữ liệu là rất quan trọng và cần thiết. Việc thực hiện quản lý rủi ro đòi
hỏi phải có hệ thống thông tin, nắm tình hình đối với các lô hàng và doanh nghiệp
hoạt động XNK phải được cập nhật thường xuyên giữa các đơn vị với nhau nắm bắt
thông tin kịp thời còn thiếu.
-
Nguồn nhân lực
21
Trình độ năng lực của cán bộ công chức không đồng đều, năng lực còn nhiều
hạn chế sẽ tạo phản ứng khiến công việc không nhanh nhậy, gây sai sót trong việc
thực hiện công việc, động cơ công tác chưa đúng, có tư tưởng chọn việc.
1.4. Kinh nghiệm thực hiện thủ tục hải quan điện tử của một số nước trên thế
22
ninh vì chỉ phải quản lý một đầu mối duy nhất. (2) dữ liệu chuyển đến hệ thống hải
quan được chuẩn hóa; (3) toàn bộ việc xây dựng hạ tầng kết nối với doanh nghiệp
để thực hiện TTHQĐT: đường truyền, máy móc, phần mềm, vận hành, bảo trì đều
do doanh nghiệp này đảm nhiệm; (4) là đầu mối kết nối với hải quan quốc tế để trao
đổi thông tin (thông qua các VAN của nước đó); (5) giúp hải quan thu thập, chuẩn
hóa, tổng hợp và gửi thông tin về manifest, vận tải đơn của các cơ quan vận tải, cơ
quan giao nhận để phục vụ cho TTHQĐT.
Các doanh nghiệp phải trả phí cho VAN khi thực hiện TTHQĐT tại tổ chức
duy nhất này. Hàng năm, các cơ quan hải quan, VAN, doanh nghiệp thống nhất cùng
nhau về mức trả phí cho VAN.
- Thứ hai, tổ chức hải quan theo mô hình hai cấp.
Cấp trung ương gồm 6 đơn vị: quản lý và kế hoạch, thanh tra và kiểm toán nội bộ,
tạo thuận lợi thông quan, kiểm tra sau thông quan, điều tra, quan hệ quốc tế và tình
báo. Ngoài các đơn vị trên còn có bộ phận văn phòng và người phát ngôn ra công
cộng.
Cấp thực thi gồm: 6 đơn vị làm thủ tục hải quan chính (main customs house), 24
đơn vị làm thủ tục hải quan (customs house) và 13 dây chuyền làm thủ tục hải quan
(customs branch), trong đó:
Main customs house trực tiếp làm thủ tục hải quan tại những nơi có lưu lượng
hàng hóa xuất nhập khẩu tập trung lớn. Customs house trực tiếp làm thủ tục hải
quan tại những nơi có lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu không lớn. Đơn vị này về
mặt chuyên môn, báo cáo trực tiếp với hải quan trung ương, về mặt nhân sự chịu sự
quản lý của main customs house; customs branch đặt trực thuộc customs house để
làm các thủ tục hải quan.
- Thứ ba, áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.
Thực hiện thủ tục hải quan tự động hóa đối với hàng xuất khẩu do bộ phận tạo
thuận lợi thông quan chịu trách nhiệm, gồm các đối tượng:
Người khai thông qua VAN để thực hiện khai điện tử đến hệ thống tự động của
hải quan. Đối với những lô hàng cần giấy phép của cơ quan chuyên ngành, hệ thống
tự động yêu cầu các cơ quan đó cấp phép điện tử (một số cơ quan chưa nối mạng
được thì làm bằng thủ công). Hệ thống dựa trên tiêu chí quản lý rủi ro sẽ tự động
phân 2 loại: thông quan ngay (luồng xanh) và kiểm tra hồ sơ giấy (luồng vàng).
Trên thực tế, luồng xanh chiếm 95% tổng lượng số hồ sơ xuất nhập khẩu.
Đối với hồ sơ kiểm tra giấy (luồng vàng), hải quan yêu cầu doanh nghiệp xuất
trình chứng từ có liên quan để kiểm tra; nếu có nghi ngờ, hải quan thực hiện việc
kiểm tra thực tế hàng hóa (luồng đỏ). Trên thực tế, luồng đỏ chỉ chiếm khoảng 1%
tổng lượng số hồ sơ xuất nhập khẩu. Nếu việc kiểm tra hồ sơ giấy và kiểm tra hàng
24
hóa không có vấn đề gì, hải quan sẽ cấp “quyết định thông quan bằng giấy” để làm
chứng từ đi đường xuất khẩu.
-
Thứ tư, mở rộng áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro.
Kỹ thuật quản lý rủi ro ngoài việc được sử dụng vào các TTHQĐT trên đây,
Hàn Quốc còn lần lượt áp dụng vào tất cả các nghiệp vụ hải quan với những tiêu chí
khác nhau, trong đó:
Kiểm tra sau thông quan đối với những lô hàng nhập khẩu và liên quan đến áp mã
và giá.
Giám sát hàng hóa để lựa chọn lô hàng cần kiểm tra trước khi doanh nghiệp khai
25
- Thứ hai, NACCS có 3 đặc điểm nổi bật là:
Là một hệ thống thông quan tự động, có các tiêu chí đánh giá rủi ro cho phép tự
động phân loại tờ khai thành các luồng xanh/vàng/đỏ. Bên cạnh đó, hệ thống cũng
xây dựng các tiêu chí về kiểm tra tờ khai và tự động tính toán số tiền thuế phải nộp
dựa trên khai báo của doanh nghiệp. Ở Nhật Bản, có khoảng 2/3 số tờ khai được phân
vào luồng xanh, cho nên cán bộ hải quan có thể tập trung nhiều hơn vào các tờ khai
có nghi vấn. Thêm vào đó, các thông tin được cung cấp bởi hệ thống thông tin tình
báo hải quan được sử dụng một cách rất hiệu quả trong công tác kiểm tra.
Đây còn là một hệ thống sử dụng chung cho cả khối doanh nghiệp và khối nhà
nước. NACCS ngày càng mở rộng phạm vi và cho phép nhiều người sử dụng tham
gia vào hệ thống, bao gồm: các doanh nghiệp nhập khẩu, xuất khẩu, đại lý làm thủ
tục hải quan, ngân hàng, chủ kho, điều vận hàng không, doanh nghiệp cung ứng
suất ăn trên máy bay, doanh nghiệp đóng hàng, đại lý vận chuyển hàng đường
không, hãng hàng không, môi giới vận tải đường biển, hãng vận tải đường biển; các
cơ quan cảng vụ, cơ quan quản lý chuyên ngành và các Bộ, Ngành liên quan.
NACCS không chỉ xử lý các thủ tục hải quan và các thủ tục hành chính liên quan
mà còn xử lý các thông tin về quản lý hàng hóa được trao đổi trong khối doanh
nghiệp. Trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu bằng đường biển, công ty tàu biển sẽ
gửi các thông tin manifest đến NACCS. Đại lý tàu biển hoặc khai thuê tàu biển
cũng có thể gửi thông tin manifest đến NACCS thay cho công ty tàu biển. NACCS
sẽ lưu trữ các thông tin hành hóa này vào cơ sở dữ liệu để khai thác theo nhiều
cách:
+ Thông tin hàng hóa được cung cấp cho cơ quan hải quan như là một báo cáo
hàng hóa. Dựa trên những thông tin này, hải quan kiểm soát quá trình di chuyển của
hàng hóa và có thể tiến hành kiểm tra thực tế.
+ Thông tin hàng hóa được cung cấp cho đơn vị quản lý bến bãi container. Thông
thường thì công ty quản lý bến bãi container có một hệ thống máy tính riêng để quản lý