CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG
TIỂU HỌC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI
NGHIỆM CỘNG ĐỒNG
.Tổng quan nghiên cứu vấn đề
-Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nguyễn Thanh Bình (2007), nước Lào, trước năm 2001
GDKNS chủ yếu là giáo dục phòng chống HIV/AIDS lồng
ghép vào chương trình đào tạo giáo viên. Sau đó, GDKNS
đựợc đưa vào các trường Tiểu học và Trung học cơ sở của 8
tỉnh của Lào. Những kỹ năng cơ bản là: giao tiếp, giải quyết
vấn đề, tuy duy sáng tạo, ra quyết định, nhận thức, đương đầu
cảm xúc và stress, xác định giá trị. Tài liệu và giáo trình giảng
dạy GDKNS ở Lào còn nhiều hạn chế.[2, tr33]
Tại Campuchia, GDKNS, phân loại có hai dạng (1)các
kỹ năng chung gồm các kỹ năng đơn giản trong cuộc sống :
bảo vệ sức khỏe, ăn uống và giao tiếp trong gia đình; các kỹ
năng quản lý gia đình và phương pháp học tập; các kỹ năng
nâng cao chất lượng cuộc sống hàng ngày; hiểu về các giá trị
đạo đức, tự chủ cao, ý thức và kỹ năng thực hiện quyền và
trách nhiệm công dân tốt; (2)Các kỹ năng tiền nghề nghiệp
như: giao tiếp, tính toán, công nghệ, thông tin, quyền và trách
nhiệm của người làm chủ, người làm thuê, …; (3)Các kỹ năng
nghề nghiệp như trồng trọt, nuôi gia súc, sửa chữa đồ điện, sử
dụng máy tính, nói tiếng nước ngoài,…
Tại Malaysia, GDKN sống được Bộ GD và các cơ quan
nhà nước thực hiện đưa vào trường học từ cấp Tiểu học và
phó hay là nhưng kỹ năng cần thiết để tồn tại.
Tại Philipine, KNS được quan niệm là nhưng năng lực
thích nghi và tính tích cực của hành vi giúp cá nhân có thể
ứng phó một cách hiệu quả với nhưng yêu cầu thay đổi,
nhưng trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày.
Tại Bhuttan, KNS được quan niệm là bất kỳ kỹ năng nào
góp phần phát triển xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, tinh
thần và tạ quyền cho cá nhân trong cuộc sống hàng ngày của
họ, đồng thời giúp họ xóa bỏ nghèo khổ để có nhân phẩm và
cuộc sống hạnh phúc trong xã hội.
Mục tiêu giáo dục KNS các nước vùng Châu Á - Thái
Bình Dương là nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có
hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay
đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra
sự đổi thay và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Các quốc gia khác nhau có sự nhận thức khác nhau về
giáo dục KNS, tuy nhiên nội dung giáo dục KNS các nước
này cũng có điểm tương đồng gồm các kỹ năng cơ bản và
nâng cao của mỗi cá nhân trong xã hội. Những quan niệm,
nhưng nội dung giáo dục KNS được triển khai thể hiện nét
chung, đồng thời mang tính đặc thù mỗi quốc gia, vùng lãnh
thổ riêng biệt.
-Các nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thanh Bình (2007), “Giáo trình Giáo dục kĩ
năng sống”, thuộc dự án Đào tạo giáo viên trung học cơ sở,
do Bộ GD-ĐT chủ trì. Tài liệu nghiên đã cứu về: (1)một số
vấn đề chung về kỹ năng sống và giáo dục kĩ năng sống; (2)
Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2012), với nghiên cứu “Quản
lý công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động Đội
thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh ở trường Tiểu học Lý
Thường Kiệt, Hà Nội”, do PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa
hướng dẫn khoa học. Đề tài đã nghiên cứu một số biên pháp
quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt
động Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh tại trường Tiểu
học Lý Thường Kiệt, thành phố Hà Nội, nhằm góp phần nâng
cao chất lượng hoạt động Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí
Minh tại trường Tiểu học này.
Hà Văn Ruệ (2016), với đề tài “Quản lý hoạt động giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học huyện Nậm
Nhùn, tỉnh Lai Châu”, do TS Phạm Thị Kim Anh hướng dẫn
khoa học. Đề tài đã nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản
lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại các trường Tiểu học
huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu một cách khoa học, toàn
diện tại cơ sở.
Nguyễn Thị Hồng Nga (2017), với đề tài “Quản lý giáo
dục ký năng sống cho học sinh các trường Tiểu học quận
Dương Kinh, thành phố Hải Phòng theo định hướng chương
trình giáo dục phổ thông mới”, do PGS.TS Vũ Thị Lan Anh
hướng dẫn khoa học. Đề tài đã đề xuất một số biện pháp quản
lý giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học theo chương trình
giáo dục phổ thông mới, tại quận Dương Kinh, thành phố Hải
Phòng một cách khoa học, toàn diện.
Trịnh Thị Phương (2017), với đề tài “Quản lý hoạt động
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường Tiểu học thị
xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hiện nay”, do
Nguyễn Công Khanh (2014), Kỹ năng là khả năng là khả
năng thực hiện một hành động hay hoạt động nào đó, bằng
cách lựa chọn và vận dụng, những tri thức, những kinh
nghiệm , kỹ xảo đã có để hành động phù hợp với những mục
tiêu và điều kiện thực tế đã cho.[15 tr160]
Như vậy, cũng có thể hiểu kĩ năng là năng lực hay khả
năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía
cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công
việc nào đó phát sinh trong cuộc sống.
Mặt khác, kỹ năng muốn đề cao sự đo lường các thao tác
kỹ thuật ở mức độ thành thạo nhất định trong từng hành động.
Có nhiều mức độ đánh giá sự thành thạo của kỹ năng qua một
thao tác cụ thể nào đó, thể hiện mức độ kỹ thuật cao, điêu
luyện hay còn sơ sài cụ thể qua hoạt động thực tế của con
người.
- Kỹ năng sống
UNESCO cho rằng, “kĩ năng sống là năng lực của cá
nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc
sống hàng ngày một cách có hiệu quả”.[2 tr9; 15 tr160]
Đồng quan điểm nêu trên, WHO cũng cho rằng, kĩ năng
sống là những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng về
giao tiếp được vận dụng trong nhưng tình huống hàng ngày để
tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có
hiệu quả những vấn đề, nhưng tình huống của cuộc sống hàng
ngày đặt ra.[2tr9; 15 tr160]
Kĩ năng sống là những trải nghiệm có hiệu quả nhất,
giúp giải quyết hoặc đáp ứng các nhu cầu cụ thể,trong suốt
quá trình tồn tại và phát triển của con người. Kĩ năng sống
Kỹ năng sống là khả năng tâm lý xã hội của mỗi cá nhân
thể hiện trong hành vi thích ứng hay thích nghi tích cực để
giúp cá nhân ứng xử một cách hiệu quả trước nhu cầu, đòi hỏi
và thách thức của cuộc sống hàng ngày.[15, tr 161]
-Giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục là hoạt động gắn liền với tiến trình đi lên của
xã hội, ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử cụ thể đều có
nền giáo dục tương ứng. Giáo dục mang tính giai cấp.
Theo từ điển Từ và Ngữ Hán Việt đã nêu: Giáo dục là
quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ
chức, nhằm bồi dưỡng cho người học những phẩm chất đạo
đức và tri thức cần thiết để họ có khả năng tham gia mọi mặt
của đời sống xã hội”[33].
Với tác giả Trần Thị Tuyết Oanh, khái niệm giáo dục
được hiểu hai góc độ:
(i)Nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình tác động có mục
đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương
pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục
trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho
họ.[24]
(ii)Nghĩa hẹp: Giáo dục là quá trình hình thành cho
người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin,
những nét tính cách của nhân cách, những hành vi thói quen
cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ
các hoạt động và giao lưu.[24]
Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình (2007) “ Giáo dục kĩ
năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện
đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những
kế hoạch nhằm trang bị kiến thức, thái độ, hành động giúp
người học có KNS cần thiết, phù hợp lứa tuổi, điều kiện kinh
tế- xã hội, môi trường sống...GDKNS cho HS nói chung và
HS Tiểu học nói riêng là điều hết sức cần thiết vì giúp người
học phát triển nhân cách đúng đắn và thích ứng với mọi thay
đổi thách thức của môi trường sống một cách có hiệu quả,
giúp người học tránh được khó khăn, vượt qua thách thức, có
đủ khả năng giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống.
- Hoạt động trải nghiệm giáo dục
Theo Nguyễn Dục Quang (2010), Kỹ năng sống chỉ
được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình
huống thực tế. Kinh nghiệm được hành động trong các tình
huống đa dạng, giúp trẻ dễ dàng dịch chuyển các kỹ năng đó
trong các tình huống phù hợp, biết điều chỉnh kỹ năng phù
hợp với điều kiện thực tế.[27, tr15]
Nguyễn Thị Liên (2016), Hoạt động trải nghiệm cùng
với các môn học khác được coi là một phương pháp học của
học sinh, làm tăng giá trị cho bản thân người học. Đó là một
quá trình, trong đó chủ thể (học sinh) trực tiếp tham gia vào
các loại hình hoạt động và giao lưu phong phú, đa dạng, học
sinh tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu
lượm và xử lý thông tin từ môi trường xung quanh. Quan
điểm này làm vai trò người thầy phải thay đổi: hỗ trợ, hướng
dẫn, trọng tài, cố vấn nhằm phát huy cao độ tính năng động,
chủ quan của người học (dạy học hợp tác).[17, tr10]
Hoạt động trải nghiệm giúp học sinh trong quá trình trải
Nguyễn Kim Liên (2008), Cộng đồng hiểu chung nhất là
một thực thể sống hay là cơ quan hoặc là tổ chức nơi sinh sống
và tương tác giữa cái này với cái khác. Cộng đồng người có tính
đa dạng, phức tạp hơn nhiều so với các cộng đồng sinh vật
khác. Khi nói tới cộng đồng người, người ta thường quy vào
những nhóm xã hội có cùng một hay nhiều đặc điểm chung nào
đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung của những thành viên trong
cộng đồng. Trong đời sống xã hội, cộng động là danh từ chung
chỉ một tập hợp người nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan
trọng (1) họ cùng tương tác (tác động qua lại) với nhau; (2) họ
cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài
đặc điểm vật chất hay tinh thần nào đó.[16, tr10]
Một số quan niệm về công đồng: (1)Cộng đồng là một
nhóm người cùng chia sẻ và chịu sự ràng buộc bởi các đặc điểm
và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi
giữa các thành viên; (2) Cộng đồng là những khó khăn mang
tính xã hội mà cộng đồng đang phải đối mặt, cản trở sự phát
triển của cộng đồng; (3)Cộng đồng là một xã hội thu nhỏ, trong
cộng đồg có thành viên là những cư dân trong cộng đồng những
gia đình, dòng họ, những tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, tổ
chức của người dân,...Vấn đề cộng đồng thực chất là vấn đề xã
hội nảy sinh trong quá trình tương tác giữa các thành viên trong
cộng đồng với nhau, giữa cá nhân với tổ chức, giữa các tổ chức
với nhau, giữa người quản lý và người bị quản lí,...liên quan
đến môi trường sống, sự phân phối sản phẩm xã hội, điều kiện
phát triển của người dân trong cộng đồng.[16, tr42]
Khi con người có những điểm chung tập hợp họ lại với
nhau đều có thể gọi là cộng đồng như: dân tộc, văn hóa, điều
Tổ chức các hoạt động cộng đồng ở cấp Tiểu học tập
trung tạo dựng cho người học thái độ, kỹ năng biết chung
sống hòa hợp với mọi người trong cộng đồng, biết suy nghĩ
tới hướng đi trong tương lai của bản thân, đồng thời biết tự
phát hiện và khẳng định bản thân.
Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, hoạt
động giáo dục (nghĩa hẹp) thực hiện các mục tiêu giáo dục
trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập
thể, sinh hoạt Đoàn, Đội… Trong chương trình giáo dục phổ
thông mới, các mục tiêu của hoạt động giáo dục được thực
hiện chỉ trong một dạng hoạt động, đó là tổ chức các hoạt
động cộng đồng.
Như vậy, căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu đổi mới giáo dục,
chức năng nhiệm vụ, có thể khái quát chung về tổ chức các
hoạt động cộng đồng như sau:
- Tổ chức các hoạt động cộng đồng thực hiện các mục
tiêu của hoạt động giáo dục nói chung, đòi hỏi sự phối kết
hợp giữa nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.
- Là hoạt động mà ở đó học sinh tiếp nhận kiến thức,
năng lực nhờ quá trình chuyển hóa kinh nghiệm và chỉ có
được từ quá trình trải nghiệm riêng của bản thân.
- Tổ chức các hoạt động cộng đồng có nội dung phong
phú cùng các hình thức đa dạng, nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo và tự giác của bản thân học sinh.
Từ cách nhìn nhận cụ thể như ở trên, có thể hiểu tổ
chức hoạt động giáo dục trải nghiệm cộng đồng là một dạng
của hoạt động giáo dục, trong đó dưới sự hướng dẫn của nhà
giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào
Nét đặc điểm tâm lí học sinh Tiểu học mà các nhà quản
lí giáo dục Tiểu học cần đặc biệt quan tâm đó là: (1)Mỗi học
sinh Tiểu học là một chỉnh thể, một thực thể hồn nhiên;
(2)Trong mỗi học sinh Tiểu học tiềm tàng khả năng phát triển;
(3)Mỗi học sinh Tiểu học là một nhân cách đang hình thành
và phát triển.[32]
(2) Về tri giác
Học sinh Tiểu học tri giác mang tính chung chung, đại
thể, ít đi sâu vào chi tiết, ít đi vào bản chất sự vật và mang
tính không chủ định. Các em thích quan sát những gì có màu
sắc sặc sỡ, động đậy đập vào mắt. Học sinh thường quên mục
đích quan sát. Ở lớp cuối cấp Tiểu học, học sinh từng bước
biết tri giác vào bản chất sự vật, biết phân tích, suy luận, nhận
xét, phán đoán mỗi khi quan sát sự vật, hiện tượng. Sau khi tri
giác riêng lẻ, các em đã có năng lực tổng hợp các chi tiết đó
lại. Dạy học chú ý đặc điểm này của trẻ sẽ phát huy được “em
nghe thì em quên, em nhìn thì em nhớ, em làm thì em hiểu”.
[32]
(3). Về khả năng chú ý của học sinh Tiểu học.
Sự tập trung chú ý, độ bền vững của chú ý phụ thuộc vào
đối tượng vật thể cần chú ý của học sinh. Cùng một lúc các em
chưa chú ý bao quát hết đặc điểm của đối tượng, hoặc nhiều
đối tượng. Từ đó, trong dạy học giáo viên cần tổ chức cho học
sinh chú ý từng hoạt động riêng lẻ sẽ hiệu quả hơn. Chính vì
vậy giáo viên cần tổ chức thay đổi liên tục các hình thức hoạt
động dạy học trong cùng một tiết học hoặc có những trò chơi
vận động giữa những hoạt động hoặc giữa tiết học (1 phút) để
tăng sự chú ý cho học sinh một cách hiệu quả. [32]