CƠ sở lý LUẬN về GIÁO dục kỹ NĂNG SỐNG CHO học SINH TIỂU học THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM tại CỘNG ĐỒNG - Pdf 55

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TẠI CỘNG ĐỒNG


Cơ sở lý luận
Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài
KNS và vấn đề giáo dục KNS cho con người đã xuất hiện
và được nhiều người quan tâm từ xa xưa như học ăn, học nói,
học gói, học mở, học dăm ba chữ để làm người, học để đối
nhân xử thế, học để đối phó với thiên nhiên. Đó là những kỹ
năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với
đời sống cộng đồng dân cư và các tầng lớp giai cấp của xã hội
ở những thời điểm khác nhau. Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ
khái quát, đại diện cho hướng nghiên cứu này có
P.Ia.Galperin, V.A.Crutexki, P.V. Petropxki, P.Ia.Galperin v.v
trong các công trình nghiên cứu của mình chủ yếu đi sâu vào
vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình
thành hành động trí tuệ theo các giai đoạn [V.A. Cruchetxki
(1981), Những cơ sở của tâm lý học Sư phạm, NXB Giáo
dục]. Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể, các nhà nghiên
cứu kỹ năng ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau như kỹ năng
lao động gắn với những tên tuổi các nhà Tâm lý - Giáo dục
như V.V.Tseburseva, Trần Trọng Thuỷ, kỹ năng học tập gắn
với G.X. Cochiuc, N.A. Menchinxcaia, Hà Thị Đức, Kỹ năng


hoạt động sư phạm gắn với tên tuổi X.I.Kixegops, Nguyễn
Như An, Nguyễn Văn Hộ v.v.
KNS được đề cập nhiều trong các chương trình hành
động của UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục

vực giáo dục; các KNS được quan tâm, đề cập là các kỹ năng
giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng
ra quyết định, kỹ năng quan hệ liên nhân cách v.v. Khái niệm
“Kỹ năng sống” thực sự được hiểu với nội hàm đa dạng sau
hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF,
Viện chiến lược và chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 2325 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó, những người làm
công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng
sống.
- Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam


Nội dung giáo dục con người biết đối nhân xử thế, thế hệ
trước truyền kinh nghiệm cho thế hệ sau giúp con người
đương đầu với thách thức của cuộc sống đã được phản ánh rất
rõ trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ. Trong hệ thống giáo dục
quan điểm học làm người, học biết ứng xử giữa con người với
con người, con người với tự nhiên và xã hội v.v được coi là
mục tiêu quan trọng của giáo dục. Tuy nhiên những nội dung
đó chưa được gọi tên là giáo dục kĩ năng sống và chưa được
quan tâm.
Năm 1996, UNICEF đã tổ chức một chương trình mang
tên “Giáo dục kĩ năng sống cho thanh thiếu niên nhằm bảo vệ
sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS” cũng từ đó thuật ngữ “kĩ
năng sống” xuất hiện ở Việt Nam. Quan niệm về kĩ năng sống
được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kĩ
năng cốt lõi như: kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng
xác định giá trị v.v nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe do
các chuyên gia Úc tập huấn.
Từ năm học 2002- 2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi
mới giáo dục phổ thông trong cả nước. Trong chương trình

năng sống cho học sinh được xác định là một trong những nội
dung cơ bản của phong trào.
Năm 2016, nhà xuất bản Giáo dục Việ Nam phát hành
bộ sách “Thực hành kỹ năng sống” của nhóm tác giả Phan
Quốc Việt (chủ biên) và Nguyễn Thị Thùy Dương, dành cho 5
khối lớp Tiểu học, với nội dung phù hợp với từng lứa tuổi bộ
sáchkhông chỉ cung cấp cho học sinh Tiểu học những kiến
thức cơ bản về các kĩ năng và hướng dẫn cách thức thực hành
những kĩ năng đó một cách thành thạo mà còn giúp cho giáo
viên, phụ huynh hướng dẫn tổ chức cho các em học tập, rèn
luyện tích hợp vào các môn học khác trên lớp hoặc trong các
tiết ngoại khoá.
Như vậy, giáo dục KNS đã nhận được sự quan tâm của
các tổ chức cũng như cộng đồng các nhà sư phạm, nhà giáo
dục trong và ngoài nước. Tuy nhiên, chưa có việc nghiên cứu


và đề xuất các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
Tiểu học thông qua hoạt động trải nghiệm tại cộng đồng. Vì
vậy, việc lựa chọn vấn để nghiên cứu: “Giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh Tiểu học thông qua hoạt động trải nghiệm
tại cộng đồng ở huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương” là có ý
nghĩa khoa học và thực tiễn.
- Khái niệm công cụ của nghiên cứu đề tài
- Khái niệm kỹ năng
Có nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về khái
niệm kĩ năng và sau đây chúng tôi xin trình bày một số quan
điểm của các nhà Tâm lí học và Giáo dục học về kĩ năng:
Theo quan điểm của các nhà Tâm lí học như: Ph. N.
Cônôbôlin, V.A. Crutetxki, V.X. Cudin, A.G. Covaliôp, V.A.

phải vận dụng vào thực tế.
Theo quan điểm của P.A.Ruđic: Kỹ năng là động tác mà
cơ sở của nó là sự vận dụng thực tế các kiến thức đã tiếp thu
được để đạt kết quả trong một hình thức vận động cụ thể.
Theo tác giả Vũ Dũng thì: “Kỹ năng là năng lực vận
dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được
chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [Vũ
Dũng (2006), Giáo trình tâm lý học quản lý, NXB ĐHSP
Hà Nội].
Theo quan điểm của các nhà Giáo dục học, lí luận dạy
học cho rằng kĩ năng là khả năng của con người thực hiện có
hiệu quả hành động tương ứng với các mục đích và điều kiện
trong đó hành động xảy ra.
Theo tác giả Thái Duy Tuyên, kỹ năng là sự ứng dụng
kiến thức trong hoạt động. Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ
thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ
thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho
hoạt động. Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn
luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ


một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định.
[Thái Duy Tuyên (2001), Giáo dục học hiện đại (những nội
dung cơ bản), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội].
Từ các quan niệm trên của các Tâm lí học và Giáo dục
học, chúng tôi cho rằng: khi nói đến khái niệm kĩ năng cần
hiểu những nội dung cơ bản sau:
+ Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kỹ năng.
Tri thức ở đây bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri
thức về đối tượng hành động.



kỹ năng cốt lõi như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên
định và kỹ năng đạt mục tiêu. Các nhà giáo dục Thái Lan xem
KNS là thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội gíúp cá nhân
đương đầu với tất cả tình huống hàng ngày một cách có hiệu
quả và có thể đáp ứng với hoàn cảnh tương lai để có thể sống
hạnh phúc, bao gồm:
Kỹ năng ra quyết định một cách đúng đắn;
Kỹ năng sáng tạo;
Kỹ năng giải quyết xung đột;
Kỹ năng phân tích và đánh giá tình hình;
Kỹ năng giao tiếp;
Kỹ năng quan hệ liên nhân cách;
Kỹ năng làm chủ cảm xúc;
Kỹ năng làm chủ được cú sốc;
Kỹ năng đồng cảm;
Kỹ năng thực hành.


Thuật ngữ KNS được biết đến ở Việt Nam qua các
chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để
bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên
trong và ngoài nhà trường”. Khái niệm KNS được giới thiệu
trong chương trình này bao gồm những kỹ năng sống cốt lõi
như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác
định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ
năng đạt mục tiêu. Tham gia chương trình đầu tiên này có
ngành Giáo dục và Hội chữ thập đỏ. Sang giai đoạn 2 chương

Bên cạnh đó các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh
Bình cũng đưa ra quan niệm về KNS: là năng lực, khả năng


tâm lý - xã hội của con người có thể ứng phó với những thách
thức trong cuộc sống, giải quyết các tình huống một cách tích
cực và giao tiếp có hiệu quả. [Nguyễn Thanh Bình (2006),
Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống, NXB ĐHSP Hà Nội].
Từ những quan niệm trên có thể thấy các quốc gia đều
dựa trên quan niệm về KNS của các tổ chức quốc tế (WHO,
UNESCO, UNICEF) nhưng có tính khác biệt do điều kiện
chính trị, kinh tế, văn hoá của từng quốc gia. Nội dung giáo
dục KNS vừa đáp ứng những cái chung có tính chất toàn cầu
vừa có tính đặc thù quốc gia. Một số quốc gia coi trọng một
số kỹ năng như: kỹ năng tư duy, kỹ năng thích ứng, kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng hợp tác và cạnh tranh, kỹ năng luân chuyển
công việc. Một số nước khác lại chú trọng đến kỹ năng xoá
đói giảm nghèo, kỹ năng phòng chống HIV/AIDS. Trong đề
tài này chúng tôi hiểu khái niệm KNS như sau:
KNS từ quan điểm giáo dục là tất cả những kỹ năng cần
thiết trực tiếp giúp cá nhân sống thành công và hiệu quả, trong
đó tích hợp những khả năng, phẩm chất, hành vi tâm lý, xã
hội và văn hoá phù hợp và đương đầu được với những tác
động của môi trường tự nhiên và xã hội. Những KNS cốt lõi
cần nhấn mạnh là kỹ năng tư duy, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng


ra quyết định, kỹ năng hợp tác và cạnh tranh, kỹ năng thích
ứng cao, kỹ năng làm chủ bản thân, kỹ năng tự nhận thức v.v.
Như vậy, kĩ năng sống được hiểu là tập hợp nhiều kỹ

Các nhóm kĩ năng sống từ góc độ giáo dục hành vi xã
hội (UNICEF)
Các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình (kĩ năng
tự nhận thức, kĩ năng tự trọng, kĩ năng kiên định, kĩ năng ứng
xử với cảm xúc, kĩ năng đương đầu với căng thẳng).


Những kĩ năng nhận biết và sống với người khác (kĩ
năng quan hệ/tương tác liên nhân cách, kĩ năng cảm thông, kĩ
năng đứng vững trước áp lực một cách nhanh chóng nhất, kĩ
năng thương lượng).
Các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả (Tư duy
phê phán, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, ra quyết định …)
Các nhóm kĩ năng sống theo những quan điểm khác
nhau
Kĩ năng giao tiếp liên nhân cách như: giao tiếp bằng lời
nói, giao tiếp không lời, kĩ năng biểu hiện cảm xúc, kĩ năng
lắng nghe và kĩ năng xin lỗi.
Kĩ năng thương lượng và từ chối bao gồm: Kĩ năng thương
lượng và kiềm chế xung đột, kĩ năng từ chối, kĩ năng hợp tác và
làm việc theo nhóm v.v.
Kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề gồm: kĩ năng
thu nhập thông tin, kĩ năng phân tích, kĩ năng thực hành để
đạt được kết quả.
Các kĩ năng tư duy tích cực: kĩ năng nhận biết thông tin
và lĩnh hội nguồn thông tin thích ứng.


Các kĩ năng phát triển và kiểm soát nội tâm gồm: kĩ
năng xây dựng tự tin và lòng tự trọng, các kĩ năng tự nhận

Nhóm kĩ năng giao tiếp - hòa nhập cuộc sống:
Các em biết giới thiệu về bản thân, về gia đình, về
trường lớp học và bạn bè thầy cô giáo;
Biết chào hỏi lễ phép trong nhà trường, ở nhà và ở nơi
công cộng;
Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi. Thực tế trong nhà trường,
thông qua môn Đạo đức, các hoạt động tập thể HS được dạy
cách lễ phép nhưng khi đi vào thực tế, nhiều em thiếu kĩ năng


giao tiếp, không có thói quen chào hỏi, tự giới thiệu mình với
người khác, thậm chí có nhiều em còn không dám nói hoặc
không biết nói lời xin lỗi khi các em làm sai;
Biết phân biệt hành vi đúng sai, phòng tránh tai nạn. Đây
là kĩ năng quan trọng mà không phải em nào cũng xử lý được
nếu chúng ta không rèn luyện thường ngày.
Nhóm kĩ năng trong học tập, lao động – vui chơi giải trí:
Các kĩ năng nghe, đọc, nói, viết, kĩ năng quan sát, kĩ
năng đưa ra ý kiến chia sẻ trong nhóm;
Kĩ năng giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung;
Kĩ năng kiểm soát tình cảm – kĩ năng kìm chế thói hư tật
xấu sở thích cá nhân có hại cho bản thân và người khác;
Kĩ năng hoạt động nhóm trong học tập vui chơi và lao
động;
Kĩ năng giải quyết vấn đề;
Kĩ năng tư duy phê phán;
Kĩ năng giao tiếp hiệu quả;


Kĩ năng ra quyết định;

thời kĩ công nghiêp 4.0 đã và đang tạo ra cho giáo dục cả những
cơ hội và thách thức, nhiệm vụ giáo dục phải giải quyết những
vấn đề cấp thiết và thách thức của thời đại như: hòa bình, dân
số, môi trường, tệ nạn xã hội, chất lượng cuộc sống v.v. Để giáo
dục thế hệ trẻ có khả năng đương đầu với thách thức và giải
quyết các vấn đề trong cuộc sống, thích ứng được biến động
của xã hội hiện đại, giáo dục trong nhà trường đã bổ sung nội
dung giáo dục mới phù hợp: giáo dục môi trường, giáo dục dân
số, giáo dục giới tính, giáo dục các giá trị sống, giáo dục quốc tế


.Với sự phát triển của giáo dục có nhiều quan điểm về giáo dục
như: giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội,
giáo dục suốt đời, giáo dục cộng đồng, giáo dục không chính
quy, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục hướng nghiệp,v.v.
Từ các quan điểm trên cho thấy Giáo dục là một khái
niệm cơ bản thường được dùng trong khoa học và thực tiễn
đời sống xã hội. Giáo dục là quá trình nhà giáo dục tác động
có mục đích, kế hoạch, nội dung đến người được giáo dục để
giúp họ hình thành nhân cách, phẩm chất, có khả năng giao
tiếp, ứng xử, thích ứng, đương đầu với thách thức trong cuộc
sống.
-Khái niệm giáo dục kĩ năng sống
Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình “Giáo dục kĩ năng
sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là
xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành
vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có các kiến
thức, giá trị, thái độ và kĩ năng thích hợp” [Nguyễn Thanh
Bình (2011), Giáo trình chuyên đề giáo dục kĩ năng sống
(in lần thứ 3), NXB Đại học sư phạm Hà Nội]. Cũng theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status