PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TẾ BÀO - Pdf 55

MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ...............................................................................................2
PHẦN II: NỘI DUNG.................................................................................................3
I. Kính hiển vi...............................................................................................................3
II. Các nguyên lí cơ bản của các loại kính hiển vi....................................................3
III. Kính hiển vi điện tử..............................................................................................5
1. Kính hiển vi điện tử truyền qua........................................................................5
2. Kính hiển vi điện tử quét đầu dò (Scanning Probe Microscope - SPM).........8
3. Kính hiển vi hiệu ứng đường hầm......................................................................9
IV. Phương pháp nguyên tử đánh dấu.....................................................................10
V.Phương pháp phóng xạ tự ghi...............................................................................11
VI. Phương pháp ly tâm............................................................................................12
VII. Máy vi quang phổ...............................................................................................13
VIII. Phương pháp điện di........................................................................................14
IX. Đánh dấu các phân tử của tế bào đồng vị phóng xạ và các chất kháng thể....15
PHẦN: KẾT LUẬN...................................................................................................16
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................17
1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Muốn nghiên cứu tế bào, cần phải phát minh, chế tạo dụng cụ phóng đại; các loại
kính hiển vi, phân tích cấu trúc bằng tia rơnghen. Các dụng cụ phóng đại khác nhau
được xây dựng dựa trên cơ sở sử dụng các dạng của bức xạ điện tử. Từ bức xạ tia
Rơnghen, sóng cực ngắn, tia điện tử, các loại tia tử ngoại(10-380 nm) các tia sáng nhìn
thấy(380-780 nm) và các tia hồng ngoại đều có thể sử dụng chế tạo các dụng cụ phóng
đại. Các bức xạ điện từ giống nhau là truyền theo hạt hay sóng và khác nhau do độ dài
bước sóng của chúng khác nhau. Độ phóng đại tỷ lệ nghịch với độ dài bước sóng.
2
PHẦN II: NỘI DUNG
I. Kính hiển vi.
Kính hiển vi là một thiết bị dùng để quan sát vật chất nhỏ bé so với kích thước
của con người mà mắt thường không quan sát được. Những kính hiển vi đầu tiên quan

vật hoàn thiện của kính vật hoàn thiện có độ phóng đại tối đa 120 lần, độ phóng đại tối
đa của kính mắt là 30 lần. Do đó độ phóng đại tối đa của kính hiển vi quang học là
3.600 lần. Trong nghiên cứu sinh học, người ta thường sử độ phóng đại vài nghìn lần,
nếu lớn hơn thì có những quang sai do kính. Có nhiều loại kính hiển vi như: kính hiển vi
phân cực, kính hiển vi đối pha,kính hiển vi giao thoa… trong đó kính hiển vi đáy đen
được xem là tiến bộ nhất (kính siêu vi). Loại kính này khác với kính hiển vi quang học
thông thường ở chỗ nó được thiết kế để ánh sáng không đi trực tiếp xuyên qua tiêu bản
đi lên vật kính, mà đi chéo qua tiêu bản và do đó vật kính được chiếu sáng bằng các tia
4
tán xạ trên nền tối. ví dụ: nếu ta để lên tiêu bản một giọt nước cất, có cấu tạo đồng nhất
thì nhìn vào kính hiển vi không thấy gì cả. Ngược lại, nếu để trên mâm kính một vâth
thể có cấu tạo không đồng nhất ( ví dụ: tế bào ) thì tế bào sẽ nhiễu xạ ánh sáng(ánh sáng
tán xạ), chiếu vào vật kính và tạo ra ảnh ảo tế bào như nhân, các bào quan, các thể vùi
trên nền đen thể trong suốt nên cho ảnh rõ hơn.
III. Kính hiển vi điện tử
Ta biết rằng kính hiển vi quang học sử dụng ánh sáng khả kiến để quan sát các
vật nhỏ, do đó độ phân giải của kính hiển vi bị giới hạn bởi bước sóng ánh sáng khả
kiến, và không thể cho phép nhìn thấy các vật có kích thước nhỏ hơn.
Một điện tử chuyển động với vận tốc v, sẽ có xung lượng p = m
0
.v, và nó tương ứng với
một sóng có bước sóng cho bởi hệ thức de Broglie:
Ta thấy rằng bước sóng của điện tử nhỏ hơn rất nhiều so với bước sóng ánh sáng khả
kiến nên việc sử dụng sóng điện tử thay cho sóng ánh sáng sẽ tạo ra thiết bị có độ phân
giải tốt hơn nhiều kính hiển vi quang học. Người phát minh ra kính hiển vi điện tử là
Ruska, sinh năm 1906 là kỹ sư điện tử ở viện đại học kỹ thuật Berlin. Năm 1934 đạt
được học vị tiến sĩ vật lý. Năm 1959 đạt học hàm giáo sư ở viện đại học Berlin. Kính
hiển vi điện tử phát minh năm 1932, nhưng mãi đến năm 1939 thì kính hiển vi điện tử
mới sử dụng được vào lĩnh vực nghiên cứu sinh học. Về nguyên tắc, nguyên lý cấu tạo
kính hiển vi điện tử giống kính hiển vi quang học. Đường đi của tia điện giống tia sáng

được tạo bằng hệ vật kính phía sau vật, hiện ra trên màn huỳnh quang, hay trên phim
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status