TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA ĐỌC
ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
NGÀNH NGỮ VĂN, KHOA SƯ PHẠM –
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
M S : 14.05.SP
Chủ nhiệm đề tài: LÂM TRẦN SƠN NGỌC THIÊN CHƯƠNG
AN GIANG, 04-2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA ĐỌC
ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
NGÀNH NGỮ VĂN, KHOA SƯ PHẠM –
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
M S : 14.05.SP
Chủ nhiệm đề tài: LÂM TRẦN SƠN NGỌC THIÊN CHƯƠNG
Cán bộ phối hợp: TS. Lê Thị Linh Giang
CV. La Thị Kim Bách
KTV. Hà Lan Vi
AN GIANG, 04-2016
Hành chính tổng hợp, Thư viện Trường Đại học An Giang và các phòng ban khác đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
Tác giả cũng chân thành cảm ơn Lãnh đạo Khoa Sư phạm, các đồng nghiệp
trong Bộ môn Ngữ văn, các giảng viên tham gia phản biện và góp ý cho đề tài. Nhờ
đó mà tác giả có điều kiện sửa chữa và trau chuốt cho đề tài hoàn thiện hơn.
Tác giả
ời cảm ơn sâu sắc, đến các bạn sinh viên ngành Ngữ văn và
sinh viên khối ngành Tự nhiên của Khoa Sư phạm đã nhiệt tình tham gia thực hiện
điều tra khảo sát để
hoàn thành trong thời gian sớm và đạt kết quả tốt nhất.
An Giang, ngày 23 tháng 03 năm 2016
Người thực hiện
Lâm Trần Sơn Ngọc Thiên Chương
ii
TÓM TẮT
Mục đích nghiên cứu này là tìm ra các yếu tố của văn hóa đọc ảnh hưởng đến
kết quả học tập của sinh viên Khoa Sư phạm nhằm hướng đến nâng cao kết quả học
tập của người học và nâng cao chất lượng đào tạo. Mẫu nghiên cứu bao gồm 363
sinh viên Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang. Người tham gia hoàn thành
bảng hỏi gồm 2 phần: thông tin cá nhân của sinh viên và sự đánh giá mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố văn hóa đọc (thói quen đọc, sở thích đọc, kỹ năng đọc) đối với
kết quả học tập của sinh viên. Kết quả thu được từ phân tích thống kê cho thấy sinh
viên đều khẳng định thói quen đọc, sở thích đọc, kỹ năng đọc là những yếu tố hình
thành văn hóa đọc. Kết quả thống kê từ các phân tích tương quan cho thấy rằng 3 yếu
tố của văn hóa đọc có ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên. Những khuyến
nghị và giải pháp, dựa trên kết quả nghiên cứu, được đề xuất.
Người thực hiện
Lâm Trần Sơn Ngọc Thiên Chương
v
MỤC LỤC
Trang
CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU.................................................
1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.......................................
1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.............................................
2
1.3 Đối tượng nghiên cứu...........................................
2
1.4 Nội dung nghiên cứu............................................
3
1.5 Những đóng góp của đề tài..................................
3
1.5.1 Đóng góp về mặt khoa học...........................
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến Văn hóa
đọc.................................................................
14
2.2.3.1 Môi trường xã hội..................................
14
2.2.3.2 Lứa tuổi.................................................
15
2.2.3.3 Trình độ văn hóa....................................
15
2.2.3.4 Sự phát triển của khoa học công
nghệ
15
2.2.3.5 Hoạt động của thư viện 15
2.2.3.6 Phương pháp đào tạo đại học hiện
nay
16
2.2.4 Văn hóa đọc ảnh hưởng đến kết quả
học tập
17
2.2.4.1 Thói quen đọc, sở thích đọc, kỹ
năng đọc ảnh hưởng đến KQHT
17
2.2.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thư
viện đến kết quả học tập
CHƢƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.............................................................32
4.1 Thực trạng về Văn hóa đọc của SV Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang32
4.1.1 Thói quen đọc..............................................................................................32
4.1.2 Sở thích đọc.................................................................................................37
4.1.3 Kỹ năng đọc................................................................................................ 38
4.2 Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố Văn hóa đọc đến kết quả học tập của sinh
viên ngành Ngữ văn............................................................................................. 40
4.2.1 Yếu tố thói quen đọc................................................................................... 40
4.2.2 Yếu tố sở thích đọc......................................................................................43
4.2.3 Yếu tố kỹ năng đọc......................................................................................46
4.3
So sánh VHĐ của SV ngành Ngữ văn và SV khối ngành Tự nhiên của Khoa Sư phạm
51
4.3.1 Về thói quen đọc......................................................................................... 51
4.3.2 Về sở thích đọc............................................................................................54
4.3.3 Về kỹ năng đọc............................................................................................55
CHƢƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP.............................................................58
5.1 Kết luận.......................................................................................................... 58
5.2 Giải pháp........................................................................................................ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................64
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Đặc điểm mẫu trong nghiên cứu chính thức................................... 26
Bảng 3.2. Thống kê số lượng SV được ph ng vấn.......................................... 28
Bảng 4.1. Thống kê lý do thích/không thích đọc sách..................................... 38
Bảng 4.2. Thống kê điểm trung bình về năng lực tạo lập văn bản của SV Khoa
Hình 4.10. Thống kê các đối tượng ảnh hưởng đến thói quen đọc của SV ngành Ngữ
văn.............................................................................................................................. 42
Hình 4.11. Biểu đồ các loại tài liệu mà SV ngành Ngữ văn thường tìm đọc.............43
Hình 4.12. Nhu cầu đọc sách của SV ngành Ngữ văn...............................................45
Hình 4.13. ĐTB tự đánh giá của SV ngành Ngữ văn về các tiêu chí........................46
Hình 4.14. Thống kê đối tượng hướng dẫn SV ngành Ngữ văn kỹ năng đọc tài liệu 47
Hình 4.15. Thống kê tần suất SV ngành Ngữ văn và................................................. 51
Hình 4.16. Thống kê số lượng tài liệu mà SV ngành Ngữ văn và SV khối ngành Tự
nhiên đã đọc................................................................................................................52
Hình 4.17. Thống kê thời gian đọc tài liệu trung bình hàng ngày của....................... 53
Hình 4.18. Thống kê tần suất đến Thư viện hàng tuần của SV ngành Ngữ văn.........53
Hình 4.19. Thống kê về việc lựa chọn tài liệu đọc của SV ngành Ngữ văn và..........55
ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐHAG
Đại học An Giang
ĐTB
Điểm trung bình
GV
Giảng viên
HS
VHĐ
Văn hóa đọc
x
CHƢƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Văn hóa đọc (VHĐ) là một khái niệm chưa hoàn thiện. Mỗi người có một cách
nghĩ và quan niệm khác nhau về VHĐ. VHĐ đã được nhiều người đề cập với ý nghĩa là
một hoạt động văn hoá của con người thông qua việc đọc sách báo, tài liệu để tiếp nhận
và xử lý thông tin, tri thức một cách khoa học và bổ ích. VHĐ góp phần to lớn vào việc
bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, hình thành và phát triển nhân cách con người. Vậy tại
sao VHĐ hiện nay đang được đặc biệt quan tâm? Thực tế của xã hội hiện nay cho thấy,
việc đọc sách online, sách điện tử (e-book), báo điện tử, học trực tuyến (e-learning)…,
đang trở nên phổ biến hơn. Mua sách báo giấy lậu giá rẻ, nhanh chóng, dễ dàng hơn so
với việc đến thư viện và tìm kiếm mất thời gian và công sức nhưng nhiều lúc không
th a mãn yêu cầu của mình. Do vậy, người ta lo ngại VHĐ bị “xuống cấp”, bị “lấn át”
và đang bị mai một dần hay “đọc” sẽ vẫn thắng “xem”, VHĐ không bao giờ triệt tiêu?
Phát triển VHĐ hiện nay không phải là làm tăng số lượng sách, báo trong xã hội mà làm
tăng hiệu quả chất lượng sử dụng chúng. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã xây dựng
dự thảo đề án “Phát triển VHĐ trong cộng đồng giai đoạn 2011-2020”. Để phát triển
VHĐ cho cộng đồng UNESCO cũng sáng lập ngày Sách Quốc tế là ngày 23 tháng 4
hàng năm để cổ vũ phong trào đọc sách và xây dựng thói quen đọc sách trên toàn Thế
giới. Quyết định và lời kêu gọi này của UNESCO được nhiều quốc gia hưởng ứng trong
đó có Việt Nam. Ngày 23 tháng 4 cũng là “Ngày Đọc sách Việt Nam” nhằm khơi dậy
phong trào đọc sách và VHĐ ở Việt Nam. Như vậy, phát triển VHĐ luôn là vấn đề có
cho họ, đồng thời giúp họ nhanh chóng tiếp cận đến nội dung cũng như các loại hình tài
liệu khác nhau. Có nhiều cách khác nhau để tiếp nhận thông tin từ sách, báo, tài liệu
nhưng trong đó đọc là một hoạt động tích cực nhất cho SV - những người bắt đầu làm
quen với NCKH. Để có cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp khả thi, nhóm nghiên cứu
quyết định lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của VHĐ đến KQHT của SV ngành Ngữ vănKhoa Sư phạm - Trường ĐHAG” với mong muốn qua quá trình khảo sát tìm hiểu về
thực trạng VHĐ của SV Sư phạm, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố VHĐ đến
KQHT của SV và đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển thói quen, rèn kỹ năng
đọc sách cho SV giúp họ nhận ra sở thích đọc của mình. Đồng thời, giúp họ vận dụng
những điều đã đọc vào việc học để có KQHT tốt hơn.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá mức độ ảnh hưởng của VHĐ đến KQHT
của SV ngành Ngữ văn - Khoa Sư phạm - Trường ĐHAG và đề xuất giải pháp nhằm
nâng cao VHĐ cho SV ngành Ngữ văn - Khoa Sư phạm, góp phần cải thiện KQHT của
họ.
1.3 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Yếu tố VHĐ ảnh hưởng đến KQHT của SV ngành Ngữ văn- Khoa Sư phạm Trường ĐHAG.
2
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung vào 03 nội dung chính:
Một là, tìm hiểu các yếu tố của VHĐ có ảnh hưởng đến KQHT của SV ngành
Ngữ văn;
Hai là,so sánh mức độ ảnh hưởng của VHĐ của SV ngành Ngữ văn và SV khối
ngành Tự nhiên Khoa Sư phạm;
Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao VHĐ cho SV ngành Ngữ văn-Khoa Sư
phạm, góp phần cải thiện KQHT của họ.
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 Đóng góp về mặt khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp bức tranh tổng thể về VHĐ của SV
ngành (bao gồm trên 300 thư viện các trường đại học, cao đẳng, gần 25.000 thư viện
trường phổ thông các cấp và gần 80 thư viện bộ ngành, các viện nghiên cứu,…). Bên
cạnh mạng lưới thư viện Nhà nước, với chủ trương xã hội hóa của Nhà nước trong lĩnh
vực văn hóa, đã bắt đầu hình thành và phát triển mô hình thư viện tư nhân (trên 40 thư
viện trong cả nước), tủ sách dòng họ,…có phục vụ cộng đồng, đáp ứng nhu cầu đọc của
người dân ở cơ sở. Công tác luân chuyển sách báo trong các thư viện công cộng được
chú trọng, trở thành nhiệm vụ thường xuyên của các thư viện. Đầu tư phát triển thư viện
ngày càng được các cấp, các ngành quan tâm.
Xã hội đã quan tâm về vấn đề đọc sách và phát triển VHĐ nên đã có sự hợp tác
giữa các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội trong việc tuyên truyền, khích lệ, quảng bá
cho VHĐ trong đời sống xã hội, góp phần tạo ra thói quen đọc, từng bước hình thành
VHĐ trong cộng đồng. Trên một số diễn đàn, VHĐ đã được đưa ra và được nhiều trí
thức, các nhà quản lý, doanh nhân bàn thảo và đề xuất nhiều các giải pháp, khuyến nghị
để duy trì và phát triển VHĐ. Một số trang thông tin điện tử về VHĐ đã được thiết lập
và trở thành diễn đàn để những người yêu sách, quan tâm tới VHĐ trao đổi chia sẻ
những cuốn sách hay, phương pháp, kỹ năng đọc, hoặc là cầu nối giữa tác giả, tác phẩm
với người đọc. Cụ thể, chúng ta đã xây dựng được nhiều mô hình VHĐ:
Tủ sách dòng họ, Nguyễn Quang Thạch, 14 năm miệt mài theo đuổi “sự nghiệp”
đưa sách về nông thôn với mong muốn cung cấp cho người dân sống ở nông thôn cả
nước được tiếp cận với tri thức rộng lớn của nhân loại góp phần nâng cao VHĐ cũng
như đời sống tinh thần cho người dân. Từ năm 1997, Nguyễn Quang Thạch đã thiết kế
rất nhiều mô hình thư viện khác nhau nhưng mô hình đạt yếu tố tự nhân rộng và được
cho là hợp lí nhất là mô hình Tủ sách dòng họ. Cho đến nay, anh đã xây dựng được gần
100 tủ sách với gần 10.000 đầu sách ở hơn 20 tỉnh, phục vụ hàng ngàn độc giả ở nông
thôn Việt Nam.
4
Câu lạc bộ sách, ở nước ta đã hình thành rất nhiều câu lạc bộ sách, trong đó tiêu
lượng giáo dục - đào tạo cũng như chất lượng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay.
Thói quen đọc: Hiện nay, số người đọc nhiều, đọc thường xuyên chiếm tỷ lệ 30%,
số người thỉnh thoảng đọc là 44%, trong khi đó số lượng người hoàn toàn không đọc là
26 %, một tỷ lệ khá cao so với thế giới. Bạn đọc của thư viện chỉ chiếm khoảng 8 – 10
% dân số. Có thể nói, thói quen đọc của người Việt Nam chưa được hình thành một
cách vững chắc.
Xu hướng đọc: Xu hướng đọc hiện nay ít nhiều có biểu hiện lệch lạc. Giới trẻ
(thanh, thiếu niên) - đối tượng chúng ta đang hướng tới xây dựng thế hệ đọc tương lai
có xu hướng đọc những truyện tranh với những nội dung đơn giản, vô bổ, thậm chí
thiếu lành mạnh, ngại đọc các loại sách kinh điển, lý luận, đặc biệt các sách dày, nhiều
5
tập, sách chữ,...xu hướng văn hóa nghe - nhìn đang có phần lấn lướt VHĐ. Thời gian
dành cho lướt web, chơi game, xem truyền hình của HS, SV tương đối cao tới 55%.
Môi trường đọc: Môi trường đọc chưa thật sự đáp ứng nhu cầu đọc đa dạng, luôn
thay đổi của cộng đồng, đặc biệt ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải
đảo - nơi mà trình độ dân trí còn thấp, đời sống vật chất, văn hóa nghèo nàn rất cần đến
ánh sáng tri thức, thông tin để nâng cao dân trí, để cải thiện cuộc sống của mình. Mạng
lưới thư viện, tủ sách công cộng đã phát triển nhưng chất lượng tổ chức và hoạt động
chưa đáp ứng được các nhu cầu đọc của người dân, đặc biệt mạng lưới thư viện cơ sở.
Vốn sách báo ít, không được bổ sung thường xuyên, cơ sở vật chất nghèo nàn, cán bộ
thiếu, kinh phí hoạt động thấp, thậm chí không được cấp v.v…Thư viện lưu động - một
mô hình phục vụ VHĐ cho người dân ở cơ sở hết sức có hiệu quả về mặt xã hội cũng
như hiệu quả kinh tế nhưng chưa được quan tâm đầu tư. Thư viện - một công cụ phục
vụ đắc lực cho công tác giảng dạy, học tập trong nhà trường chưa được quan tâm đúng
mức, đặc biệt mạng lưới thư viện các trường phổ thông hết sức nghèo nàn, yếu kém.
Việc giáo dục thói quen đọc, kỹ năng đọc: Giáo dục thói quen đọc, kỹ năng đọc –
một vấn đề có tính chất quyết định tới việc hình thành VHĐ vẫn chưa được quan tâm.
Gia đình, nhà trường, thư viện chưa phát huy được vai trò quan trọng trong việc hình
nhìn 2030”. Đề án là bước cụ thể hóa thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm
2020 với mục tiêu “Xây dựng phong trào đọc sách trong xã hội, góp phần xây dựng có
hiệu quả thế hệ đọc tương lai”. Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận thấy được tầm quan
trọng của VHĐ trong đời sống xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu tự đặt ra những câu h i
“Thế kỷ XXI, liệu VHĐ có còn nữa không?”, “Người Việt có VHĐ?”, “VHĐ có cần báo
động?”. Để trả lời được câu h i đặt ra, đã có không ít bài viết tìm hiểu về VHĐ thời đại
hiện nay: “VHĐ và phát triển VHĐ ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Viêm – Thư
viện Quốc Gia Việt Nam; “Đọc và VHĐ trước ngưỡng cửa thông tin” của Phạm Văn
Tình đăng trên Tạp chí Thư viện số 3/2006; bài viết “VHĐ: Cơ hội và thách thức” của
Phạm Đức - SV Trường Đại học Văn Hiến Thành phố Hồ Chí Minh, “Cảm nhận về
VHĐ” của tác giả Nguyễn Quang A – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS hay
bài báo cáo “VHĐ của SV trường Đại học Lao động – Xã hội trước ngưỡng cửa công
nghệ thông tin” của Nhóm SV khoa Công tác xã hội, trường Đại học Lao động – Xã hội
năm 2011.
Về vấn đề phát triển VHĐ, nhiều tác giả đã nghiên cứu như: “VHĐ trong thanh
niên hiện nay” của học viên Nguyễn Thị Khánh Hòa, Luận văn thạc sỹ Khoa Văn hóa
học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009;
“Nghiên cứu đánh giá nhu cầu đọc sách để định hướng xuất bản sách phục vụ bạn đọc,
góp phần phát triển VHĐ tại các vùng miền” của tác giả Đỗ Kim Thịnh, Cục Xuất bản Bộ Thông tin và Truyền thông, đề tài khoa học năm 2009; “Tăng cường và mở rộng
phong trào đọc sách báo ở nông thôn tỉnh Hậu Giang” của tác giả Võ Thị Thu Hương,
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Thư viện, Trường Đại học Văn hoá, năm 2006; “Thực trạng
VHĐ của thanh thiếu niên tại Bình Dương hiện nay” của học viên Nguyễn Văn Thục,
đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cấp tỉnh, năm 2011; “Phát triển VHĐ
cho SV Học viện Cảnh sát nhân dân” của học viên Đỗ Thu Thơm, chuyên ngành Khoa
học Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011. Các công trình nghiên cứu trên đều
đi từ thực trạng VHĐ và mục đích cuối cùng là đưa ra những giải pháp, chiến lược
nhằm phát triển VHĐ, khẳng định vai trò VHĐ trong đời sống xã hội. Như vậy, đề tài
“Ảnh hưởng của VHĐ đến KQHT của SV ngành Ngữ văn- Khoa Sư phạm - Trường
Đại học An Giang” đi sâu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến VHĐ và các yếu tố của
VHĐ ảnh hưởng đến KQHT của SV ngành Ngữ văn - Khoa Sư phạm - Trường Đại học
trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình
xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã
hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu
hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như
trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, con người được tiếp thu mọi
lĩnh vực tri thức thông tin qua truyền thanh, truyền hình và các phương tiện truyền
thông khác nhưng sách vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống. Đọc sách
là một hoạt động có tính chất văn hóa của người đọc. Tuy nhiên, đọc sách gì và đọc như
thế nào cũng là một phương diện của văn hóa mà chúng ta vẫn gọi là VHĐ.
Có nhiều quan niệm khác nhau về VHĐ:
Trần Dương (2013) trong bài viết “Những yếu tố ảnh hưởng đến VHĐ của sinh
viên hiện nay”, quan niệm đọc đến một mức độ, trình độ nhất định nào đó thì mới được
coi là VHĐ.
Trần Thị Thanh Vân (2013) cho rằng VHĐ là sự tổng hợp của mọi phương thức,
hình thức ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, mỗi nhà quản lý
và của cộng đồng xã hội nhằm hoàn thiện nhân cách, hoàn thiện xã hội. Ứng xử đọc, giá
trị đọc, chuẩn mực đọc được tạo nên bởi ba yếu tố quan trọng đó là thói quen đọc, sở
thích đọc và kỹ năng đọc. Tham gia vào hoạt động VHĐ không chỉ có cá nhân là những
người sáng tạo, bảo quản, phổ biến giá trị văn hóa mà còn có nhiều thiết chế như thư
viện, viện nghiên cứu, hội nghề nghiệp, bảo tàng, nhà trường, xuất bản, phát thanh
truyền hình và những người làm công tác xã hội,...tạo nên một hạ tầng cơ sở vật chất –
8
công nghệ cho các hoạt động VHĐ. Như vậy, phát triển VHĐ là những hoạt động của
con người để biến đổi việc tiếp nhận thông tin (ứng xử, giá trị và chuẩn mực tiếp nhận
thông tin) của con người nhằm giúp họ nâng cao khả năng tiếp nhận và tiếp tục tạo ra
những giá trị vật chất và tinh thần (văn hóa) cao hơn hướng tới chân, thiện, mỹ với mục
năng đọc cho họ nhằm giúp họ vận dụng VHĐ vào việc học để nâng cao KQHT.
2.2.2.2 Nội dung của Văn hóa đọc
Từ các khái niệm đã nêu trên, theo nhóm nghiên cứu, VHĐ được biểu hiện qua
các đặc điểm của người đọc đó là nhu cầu đọc, thói quen đọc, sở thích đọc, kỹ năng đọc
và văn hóa ứng xử với tài liệu:
9
Nhu cầu đọc
Trần Văn Hà trong bài viết “Đẩy mạnh VHĐ trong thời đại công nghệ thông tin”
(Trần Văn Hà, 2007, tr.69) đã nêu rõ nhu cầu là một hiện tượng tâm lý trong cấu trúc
tâm lý chung của con người. Nhu cầu đọc là đòi h i khách quan của chủ thể (cá nhân,
nhóm, xã hội) đối với việc tiếp nhận và sử dụng tài liệu nhằm duy trì và phát triển các
hoạt động sống của con người. Nói cách khác, nhu cầu đọc là thái độ của chủ thể với
việc đọc như một hoạt động sống không thể thiếu được. Yêu cầu đọc là biểu hiện cụ thể
của nhu cầu đọc. Khi người đọc đã xác định được đối tượng tài liệu cụ thể th a mãn
được nhu cầu của mình thì họ đưa ra yêu cầu tương ứng. Yêu cầu tương tự sẽ lặp đi lặp
lại nhiều lần ở những đối tượng cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, cũng có trường hợp đặc
biệt, yêu cầu đọc không phản ánh nhu cầu mà xuất phát từ những yêu cầu công việc đột
xuất. Ví dụ để thực hiện bài tập của một môn học ở một thời điểm cụ thể nào đó.
Nhu cầu đọc bắt nguồn từ yêu cầu tiếp nhận thông tin khi con người tham gia các
hoạt động sống khác nhau, nhưng nó chỉ thực sự hình thành với điều kiện chủ thể có
khả năng giải mã thông tin được mã hóa trong tài liệu. Khi đòi h i đối với việc đọc trở
nên cấp bách, thường xuyên, nhu cầu đọc xuất hiện. Nhu cầu đọc bao giờ cũng gắn liền
với số lượng và chất lượng tài liệu được lưu hành trong một xã hội cụ thể. Thư viện là
nơi lưu trữ và truyền tải tri thức thông qua vốn tài liệu và công tác phục vụ bạn đọc. Vì
vậy, nhu cầu đọc là nguồn gốc của hoạt động thư viện. Hoạt động thư viện không thể
tồn tại và phát triển ở những nơi không có nhu cầu đọc, thói quen đọc và sở thích đọc.
Ngày nay, giới trẻ nói chung, SV nói riêng được tiếp cận nhiều hơn với các loại
hình truyền thông đa phương tiện, xu hướng tìm kiếm một cách nhanh chóng, ngắn gọn,
dễ hiểu thay vì ngồi đọc, nghiền ngẫm suy nghĩ, ghi chép thông tin. Như vậy, việc hình
thành thói quen đọc sách và tạo hứng thú đọc cần được rèn luyện không chỉ trong môi
trường giáo dục gia đình, nhà trường mà cả sự quan tâm của Thư viện.
Kỹ năng đọc
Việc đọc được miêu tả như một phương tiện giao tiếp và mục tiêu chính của đọc là
hiểu được ý nghĩa của các tài liệu in ấn hoặc các tài liệu viết. Đọc có nghĩa là đọc và
hiểu, nhưng để hiểu được các vấn đề đã đọc thì bản thân mỗi người đọc cần có kỹ năng.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng và thường được nhắc đến trong
đời sống hàng ngày như kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng
mềm,...Tuy nhiên, hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi
chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại
một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó một cách có ý thức. Kỹ năng luôn có
chủ đích và định hướng rõ ràng. (Bùi Trọng Giao, 2013).
Vậy, kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay
một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết
quả mong đợi. Kỹ năng đọc là một loại kỹ năng mềm, phương thức giúp người đọc có
thể tiếp nhận thông tin một cách nhanh nhất. Cùng với nhu cầu đọc, hứng thú đọc thì kỹ
năng đọc là yếu tố quan trọng cấu thành VHĐ.
Nếu xét theo tổng quan thì kỹ năng phân ra làm 3 loại: Kỹ năng chuyên môn, kỹ
năng sống và kỹ năng làm việc. Nếu xét theo liên đới chuyên môn kỹ năng bao gồm: kỹ
năng cứng, kỹ năng mềm và kỹ năng hỗn hợp.
Ninh Thị Kim Thoa (2006) trong bài viết: “Giáo dục người sử dụng trong thư viện
đại học” cho rằng: kỹ năng đọc là thành tố quan trọng nhất trong cấu trúc VHĐ, là khả
năng hiểu, lĩnh hội và cảm thụ tác phẩm, biến tri thức, kinh nghiệm trong sách thành tri
thức, kinh nghiệm của bản thân để có thể vận dụng một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo
trong khi tiến hành các hoạt động sống khác nhau. (Ninh Thị Kim Thoa, 2006, tr.112).
Kỹ năng đọc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tri thức, kinh nghiệm, năng lực và
mục đích đọc của mỗi cá nhân. Trong đó, mục đích đọc là yếu tố quan trọng trong việc