CƠ sở lý LUẬN về GIÁO dục ý THỨC bảo vệ môi TRƯỜNG CHO hội VIÊN PHỤ nữ NÔNG THÔN - Pdf 55

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý
THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO
HỘI VIÊN PHỤ NỮ NÔNG THÔN

1


TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tác động của ô nhiễm môi trường
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên & Môi trường
(TN&MT) năm 2016 (tại lễ công bố báo cáo hiện trạng môi
trường Quốc gia năm 2016, ngày 20/7/2016) môi trường nước
ta đang chịu nhiều áp lực lớn từ các hoạt động phát triển kinh
tế - xã hội trong nước, sức ép cạnh tranh của quá trình hội
nhập quốc tế cùng các tác động xuyên biên giới. Theo đó:
Hàng năm, có hơn 2.000 dự án đầu tư thuộc đối tượng
phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (TĐMT) nếu
không được đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện và thực hiện
các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát hiệu quả thì sẽ là những
nguy cơ rất lớn đến môi trường. Các vấn đề môi trường theo
dòng chảy sông Mê Công, sông Hồng, các sông xuyên biên
giới ngày càng phức tạp. Việc xây dựng các dự án thủy điện
của một số quốc gia trên dòng chính sông Mê Công đã và
đang có những tác động, ảnh hưởng lớn đến vùng đồng bằng
sông Cửu Long. Bên cạnh đó, trên cả nước hiện có 283 khu
công nghiệp với hơn 550.000m3 nước thải/ngày đêm; 615
cụm công nghiệp (CCN) trong đó chỉ khoảng hơn 5% có hệ

2



hại khó phân hủy…
Những vấn đề này có mối tương tác lẫn nhau và đều ảnh
hưởng trực tiếp tới cuộc sống con người cũng như sự phát
triển của xã hội. Trong đó, dù ở mức độ quốc gia hay toàn cầu
thì BĐKH luôn được xem là vấn đề môi trường nóng bỏng
nhất và hơn thế nữa còn được coi là một vấn đề quan trọng tác
động tới tiến trình phát triển bền vững hiện nay trên toàn thế
giới.
Bức tranh chung toàn cầu
Theo dự đoán, nhiều thành phố của các quốc gia ven
biển đang đứng trước nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do
mực nước biển dâng - hậu quả trực tiếp của sự tan băng ở Bắc
và Nam cực. Trong số 33 thành phố có quy mô dân số 8 triệu
người vào năm 2015, ít nhất 21 thành phố có nguy cơ cao bị
nước biển nhấn chìm toàn bộ hoặc một phần và khoảng 332

4


triệu người sống ở vùng ven biển và đất trũng sẽ bị mất nhà
cửa vì ngập lụt.
Nước biển dâng còn kèm theo hiện tượng xâm nhập
mặn vào sâu trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm,
tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và tài nguyên nước
ngọt. Theo dự đoán, đến năm 2080, sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ
người phải đối mặt với sự khan hiếm nước, khoảng 600 triệu
người sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dưỡng do nguy cơ
năng suất trong sản xuất nông nghiệp giảm.
Bên cạnh đó còn có khuynh hướng làm giảm chất lượng
nước, sản lượng sinh học và số lượng các loài động, thực vật

Tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) ở Việt Nam
Tác động của BĐKH tới lĩnh vực nông nghiệp:
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 75% dân số sống
bằng nông nghiệp và 70% lãnh thổ là nông thôn với cuộc

6


sống người dân còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và
tài nguyên thiên nhiên. Trong nhiều năm qua sản xuất nông
nghiệp ở nông thôn chiếm 25-40% tổng sản phẩm trong nước
và đạt trên 40% tổng giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên nước ta là 1
trong 5 nước chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu do:
Là một đất nước nằm ở vùng Châu Á Thái bình dương,
một trong năm vùng bão của thế giới, chịu ảnh hưởng của khí
hậu nhiệt đới gió mùa. Có bờ biển dài 3260 km. Việt nam là
một nước đang phát triển, dân số tăng ngày một nhanh; đồng
thời còn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hiện tượng băng tan ở
Hymalay.
Tác động của BĐKH tới tài nguyên rừng:
Việt Nam có ĐDSH cao, có các hệ sinh thái (HST) đa
dạng. Tuy nhiên trong thời gian qua, do những nguyên nhân
khác nhau, ĐDSH, các HST, đặc biệt là các HST rừng - HST
có ĐDSH cao nhất bị suy thoái trầm trọng. Diện tích rừng
giảm rừng ngập mặn ven biển cũng bị suy thoái nghiêm trọng
(giảm 80% diện tích) do bị chuyển đổi thành các ao đầm nuôi
trồng thủy hải sản thiếu quy hoạch. Trong những năm gần
đây, rừng tuy có tăng lên về diện tích, nhưng tỷ lệ rừng

7

Thiên tai, bão, lũ gia tăng sẽ làm tăng hiện tượng xói mòn, rửa
trôi, sạt lở bờ sông, bờ biển, bồi lắng lòng dẫn ảnh hưởng
nghiêm trọng tới tài nguyên đất. Hiện tượng thiếu nước và
hạn hán sẽ dẫn tới hoang mạc hóa, đặc biệt là các tỉnh miền
Trung.
Tác động của BĐKH tới sức khỏe:
Báo cáo gần đây nhất của Ủy ban liên quốc gia về
BĐKH đã khẳng định, BĐKH gây ra tử vong và bệnh tật
thông qua hậu quả của các dạng thiên tai như sóng nhiệt/nóng,
bão, lũ lụt, hạn hán… Do nhiều bệnh sẽ gia tăng dưới tác
động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh, nhất là các bệnh
truyền qua vật trung gian như sốt rét (do muỗi truyền), sốt
xuất huyết (muỗi), viêm não (muỗi) qua môi trường nước (các
bệnh đường ruột), và các bệnh khác (suy dinh dưỡng, bệnh về

9


phổi…). Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn tới các vùng
kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao.
Đặc biệt, ở Việt Nam, trong thời gian qua cũng xuất hiện
một số bệnh mới ở người và động vật (tả, cúm gia cầm, bệnh
tai xanh…) nhiều bệnh có diễn biến phức tạp và bất thường
hơn (sốt xuất huyết) và gây ra những thiệt hại đáng kể.
Tác động của BĐKH tới vùng ven biển (VVB):
VVB cũng sẽ là nơi chịu tác động nặng nề nhất của thiên
tai mà trước hết là bão, sóng thần, lũ lụt gây những tổn thất
năng nề về nguời và tài sản. Chỉ tính riêng năm 2006, thiệt hại
do bão gây ra ở Việt Nam lên tới 1,2 tỷ USD.
Nước biển dâng gây hiện tượng ngập lụt, mất nơi ở và

sông lớn (sông Hồng, sông Cửu Long) sẽ là một khó khăn rất

11


lớn cho chúng ta trong sử dụng nguồn nước và bảo vệ môi
trường. BĐKH sẽ làm suy thoái tài nguyên nước, trong khi
nhu cầu dùng nước của các quốc gia đều tăng lên, làm tăng
các bất đồng và xung đột có thể có trong sử dụng chung
nguồn nước.
Tị nạn môi trường/ khí hậu (trong nước và quốc tế) do
mất nơi ở hoặc do bệnh tật và nghèo đói. Có những cảnh báo
cho rằng, vấn đề tị nạn khí hậu không chỉ đơn thuần là vấn
đề xã hội, kinh tế mà có thể còn là vấn đề chính trị, chiến
tranh.
An ninh sinh thái do sự nhiễu loạn của nhiều HST, sự
xâm lấn của các sinh vật lạ và sinh vật biến đổi gen.
Tác động của BĐKH tới cơ sở hạ tầng…
Cơ sở hạ tầng ở đây được hiểu là những công trình xây
dựng thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống và sản xuất như
xây dựng, năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, nông
nghiệp, du lịch - dịch vụ. Đặc trưng của những đối tượng này
là thời gian tồn tại tương đối dài, có thể hàng thế kỷ và chịu
tác động trực tiếp và liên tục của khí hậu, thời tiết, và hiện nay
là BĐKH với xu hướng ngày càng gia tăng.

12


BĐKH sẽ tác động tới tính tiện nghi, tính hữu dụng, sức

các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của
Đảng và Nhà nước ta, chẳng hạn như:
Huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế, các tổ
chức khoa học, chính trị - xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức
phi chính phủ trong ứng phó với biến đổi khí hậu; xây dựng
cộng đồng thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản
lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động
qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước;
là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh
xã hội. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
của cả hệ thống chính trị; là trách nhiệm và nghĩa vụ của các

14


cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, trong đó
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự
tham gia, giám sát của toàn xã hội. Chủ động ứng phó với biến
đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi
trường phải trên cơ sở phương thức quản lý tổng hợp và thống
nhất, liên ngành, liên vùng. Vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt,
vừa bảo đảm lợi ích lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản.
Vừa bảo đảm toàn diện, vừa phải có trọng tâm, trọng điểm; có
bước đi phù hợp trong từng giai đoạn; dựa vào nội lực là
chính, đồng thời phát huy hiệu quả nguồn lực hỗ trợ và kinh
nghiệm quốc tế.
Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ

trường.

16


+ Nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công
nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi
trường.
+ Đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất thiết bị, dụng cụ bảo
vệ môi trường; cung cấp dịch vụ bảo vệ môi trường; thực hiện
kiểm toán môi trường; tín dụng xanh; đầu tư xanh.
+ Bảo tồn và phát triển nguồn gen bản địa; lai tạo, nhập
nội các nguồn gen có giá trị kinh tế và có lợi cho môi trường.
+ Xây dựng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, khu
dân cư thân thiện với môi trường.
+ Phát triển các hình thức tự quản và tổ chức hoạt động
dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư.
+ Hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi
trường, xóa bỏ hủ tục gây hại đến môi trường.
+ Đóng góp kiến thức, công sức, tài chính cho hoạt động
bảo vệ môi trường; thực hiện hợp tác công tư về bảo vệ môi
trường.
NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI
17


Giáo dục
Theo từ điển Tiếng Anh giáo dục là “Education”, gốc
latinh “Educatio” theo nghĩa chung là hình thức học tập theo

ràng nhất giữa con vật và con người đó là ý thức. Ý thức là
một cấp độ phản ánh tâm lý đặc trưng cao cấp chỉ ở con
người mới có.
Một quá trình nhận thức nào đó tạo ra trong não một
hình ảnh tâm lý, như có ngôn ngữ, chính hình ảnh tâm lý đó
được khách quan hóa và trở thành đối tượng để ta tiếp tục
phản ánh, làm cho kết quả phản ánh sâu sắc hơn, chất lượng
hơn, tinh vi hơn. Quá trình phản ánh cấp hai như vậy được gọi
là ý thức. Vì thế, có thể hiểu ý thức là phản ánh của phản ánh.

19


Nếu cảm giác, tri giác, tư duy... mang lại cho con người
những tri thức. Trong thế giới khách quan thì ý thức là năng
lực hiểu biết tri thức đó. Vì vậy cũng có thể nói ý thức là tri
thức của tri thức, là hiểu biết của hiểu biết.
Như vậy, ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất
chỉ có ở người, là quá trình phản ánh bằng ngôn ngữ những gì
con người đã tiếp thu được trong quá trình quan hệ qua lại với
thế giới khách quan.
Môi trường
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về môi trường. Theo
khoản Điều 1, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam thì
“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân
tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người
và sinh vật”[Error: Reference source not found-Tr1]. Môi
trường sống của con người dựa theo chức năng được chia
thành các loại:
Môi trường tự nhiên:

cảnh quan, quan hệ, xã hội...
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên
thiên nhiên mà chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội
trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. Ví
dụ: Môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo,
bạn bè, nội quy của nhà trường, lớp học, sân chơi, phòng thí
nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Hội phụ nữ, Đội
với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy
định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được
công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với
luật pháp, nghị định, thông tư, quy định.
Theo UNESCO (1981) “MT con người bao gồm toàn
bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo
ra (các hệ sinh thái, những nhóm, hội, MT văn hóa), trong
đó con người sống và khai thác bằng lao động của mình các
tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những
nhu cầu của con người. MT đối với con người không chỉ là
nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực tế sinh
vật là con người, mà còn là nơi lao động nghỉ ngơi. Với
phương diện đó, MT có ba chức năng cơ bản: là nơi cung
22


cấp tài nguyên, nơi thu nhận các hoạt động của con người
nhằm phục vụ cho các nhu cầu về đời sống vật chất và tinh
thần cho con người và là nơi đồng hóa các chất thải do kết
quả của các hoạt động đó”[15.Tr1].
Tóm lại, có thể nói môi trường là tất cả những gì có
xung quanh con người, cho con người nói riêng và các thực
thể sinh vật nói chung cơ sở để sống và phát triển và đó còn là

phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ
độc hoặc đặc tính nguy hại khác.
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc
chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến
mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát

24


triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các
tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải),
lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác
nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ,
bức xạ.
Ở Việt Nam, theo khoản 8, Điều 3 Luật bảo vệ môi
trường ban hành ngày 23/6/2014 định nghĩa ô nhiễm môi
trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không
phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến
con người, sinh vật.
Bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi
trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo
cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do
con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử
dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi
cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Gắn kết hài hòa với
phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc
đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status