HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐINH THỊ HƯƠNG GIANG
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
HÀ NỘI - 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐINH THỊ HƯƠNG GIANG
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 62 38 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS. VŨ CÔNG GIAO
HÀ NỘI - 2019
thiện của pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động
công vụ
2.4. Pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về
kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ và những giá trị
tham khảo cho Việt Nam hiện nay
Chương 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG
CÔNG VỤ Ở VIỆT NAM
3.1. Quá trình phát triển của pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích
trong hoạt động công vụ ở Việt Nam
3.2. Thực trạng pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động
công vụ ở Việt Nam
Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
Trang
1
9
9
25
30
32
37
37
50
56
65
80
80
87
: Cán bộ, công chức
CB, CC, VC: : Cán bộ, công chức, viên chức
ICAC
:
Independent Commission Against Corruption (Uỷ ban
độc lập chống tham nhũng)
OECD
: The Organisation for Economic Co-operation and
Development (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế )
PCTN
: Phòng, chống tham nhũng
UNCAC
: The United Nations Convention against Corruption
(Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng )
VC
: Viên chức
XĐLI
chất chính là một trong 3 dạng tham nhũng, bao gồm: (i) Tham nhũng trắng
(white corruption) là dạng tham nhũng có thể nhận biết nhưng được xã hội
chấp nhận; (ii) Tham nhũng xám (grey corruption), là dạng tham nhũng xảy
ra trong thực tế nhưng rất khó nhận biết (iii). Tham nhũng đen (black
corruption) là dạng tham nhũng được nhận biết rõ ràng và bị trừng phạt [132].
Trong ba dạng này, XĐLI trong hoạt động công vụ được xem là dạng tham
nhũng xám [126].
Cho dù theo quan điểm nào ở trên thì việc kiểm soát XĐLI trong hoạt
động công vụ cũng sẽ giúp ngăn ngừa tham nhũng một cách có hiệu quả, vì
vậy hiện tại trên thế giới, việc kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ được
xem là một trong những biện pháp cốt lõi trong cuộc chiến chống tham
nhũng. Đây là lý do khiến vấn đề kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ đã
được nhấn mạnh trong Công ước Liên Hợp quốc về chống tham nhũng
(UNCAC) và trong pháp luật của nhiều quốc gia. Cụ thể, Khoản 4 Điều 7
UNCAC nêu rõ: "4. Mỗi quốc gia thành viên, trên cơ sở phù hợp với các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước mình, nỗ lực ban hành, duy trì và củng
cố các cơ chế tăng cường minh bạch và phòng ngừa xung đột lợi ích". Ngoài
quy định này, UNCAC còn có nhiều quy định khác đề cập gián tiếp đến việc
2
phòng ngừa XĐLI trong hoạt động công vụ, ví dụ như những quy định về
Quy tắc ứng xử cho công chức (Điều 8), về Mua sắm công và quản lý tài
chính công (Điều 9)…
Mặc dù, có vai trò quan trọng trong phòng, chống tham nhũng (PCTN),
tuy nhiên, khuôn khổ pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ
của nước ta còn chưa hoàn thiện. Xét trên phương diện pháp lý, mặc dù đã có
một số quy định liên quan đến XĐLI trong một số đạo luật như Luật PCTN
năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) Luật PCTN 2018 (hiệu lực
01/07/2019), Luật Cán bộ, Công chức (CB, CC) năm 2008, Luật Viên chức
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của Luận án là phân tích làm sáng tỏ các vấn đề
lý luận, thực tiễn, đánh giá thực trạng pháp luật, trên cơ sở đó đề xuất những
quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động
công vụ ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận án cần thực hiện các nhiệm vụ
sau đây:
Một là, đánh giá tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu trong và
ngoài nước liên quan đến pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công
vụ ở Việt Nam, từ đó xác định những nội dung luận án có thể kế thừa và
những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
Hai là, hệ thống hoá và phân tích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận của
pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam, xác định
phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, giả thuyết khoa học và các câu
hỏi nghiên cứu cần giải quyết trong luận án.
Ba là, phân tích, đánh giá quá trình phát triển và thực trạng pháp luật
Việt Nam về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ, chỉ ra những ưu điểm,
hạn chế và xác định nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế để làm cơ sở cho
việc đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát XĐLI
trong hoạt động công vụ ở Việt Nam.
4
Bốn là, đề xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về
kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ có tính toàn diện, khoa học và khả
thi trong điều kiện, hoàn cảnh của nước ta hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
hệ thống pháp luật trong vấn đề này của nước ta.
Bên cạnh đó, tác giả vận dụng một số lý thuyết và cách tiếp cận sau đây
để phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn
chế của hệ thống pháp luật về kiểm soát XĐLI ở Việt Nam:
- Lý thuyết về mô hình quản lý XĐLI của Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế (The Organisation for Economic Co-operation and Development
- OECD) mà được khái quát hoá thành 6 chữ R (6Rs), bao gồm [141, tr.16]:
REGISTER (Tuyên bố, ghi nhận XĐLI); RESTRICT (Hạn chế, giới hạn các
tình huống gây ra XĐLI); RECRUIT (Tuyển dụng, sử dụng một bên thứ ba
độc lập để giám sát tình huống XĐLI); REMOVE (Loại bỏ sự tham gia của
công chức có XĐLI vào quá trình ra quyết định); RELINQUISH (Từ bỏ
những lợi ích cá nhân để đảm bảo không xảy ra XĐLI); RESIGN (Từ chức để
giải quyết XĐLI). Mô hình 6Rs của OECD chủ yếu được sử dụng để đánh giá
tính toàn diện của hệ thống pháp luật về kiểm soát XĐLI của Việt Nam.
- Các phương pháp (hướng) tiếp cận được sử dụng phổ biến trên thế
giới trong xây dựng chính sách, pháp luật về kiểm soát XĐLI [140, tr.53] đó
là: Tiếp cận dựa trên các nguyên tắc (principles-based approach), trong đó
chú trọng đặt ra các nguyên tắc chung về hành vi ứng xử của công chức trong
công vụ, và Tiếp cận dựa trên các quy định (rules-based approach), trong đó
chú trọng đặt ra các chuẩn mực ứng xử cụ thể của công chức trong các tình
huống XĐLI. Hai phương pháp tiếp cận này chủ yếu được sử dụng để đánh
giá tính hợp lý của hệ thống pháp luật về kiểm soát XĐLI của Việt Nam.
Về các phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp sử dụng các phương
pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học xã hội để giải quyết các câu hỏi
nghiên cứu đặt ra, bao gồm: Phương pháp hệ thống, phương pháp lôgic,
phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và
phương pháp tổng hợp. Cụ thể:
6
7
5. Đóng góp mới của luận án, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của
luận án
5.1. Những đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện, hệ
thống khuôn khổ pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở
Việt Nam, cho nên luận án có những đóng góp mới sau đây:
Thứ nhất, củng cố và bổ sung những vấn đề lý luận về kiểm soát XĐLI
trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Luận án đã đưa ra khái niệm, xác định
các đặc điểm, đồng thời phân tích và chỉ ra vai trò, nội dung và những yêu cầu
đặt ra với việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công
vụ. Ngoài ra, một số vấn đề lý luận được bổ sung bao gồm: các lý thuyết,
quan điểm khoa học phổ biến trên thế giới có liên quan đến kiểm soát XĐLI
trong hoạt động công vụ; các quan điểm khoa học về việc hoàn thiện pháp
luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Những vấn đề
này có ý nghĩa quan trọng, là nền tảng lý luận cho việc hoàn thiện pháp luật
về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Đây cũng chính là
những đóng góp về mặt lý luận của Luận án.
Thứ hai, thông qua nghiên cứu quá trình phát triển của pháp luật về
kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam, luận án đã phân tích,
đánh giá có tính khoa học và toàn diện khuôn khổ pháp luật hiện hành về
kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Luận án đã hệ thống
hóa những nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động
công vụ qua các giai đoạn phát triển, chỉ ra những ưu điểm cũng như những
hạn chế của pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ với thực tế
trong nước và quốc tế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó.
Thứ ba, luận án đã xây dựng các quan điểm và đề xuất một hệ thống
giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật
hiện hành về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam.
học của các tác giả trong nước nghiên cứu pháp luật về kiểm soát XĐLI được
công bố thời gian qua gồm một (01) sách chuyên khảo; một (01) đề tài nghiên
cứu khoa học cấp bộ; một (01) đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở và một
số bài viết khoa học đăng trên các tạp chí khoa học. Ngoài ra, còn có một số
sách chuyên khảo, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu về
PCTN, hoạt động công vụ nói chung. Trong thực tế chưa có luận văn, luận án
nào nghiên cứu trực tiếp về đề tài hoàn thiện pháp luật kiểm soát XĐLI trong
hoạt động công vụ ở Việt Nam.
Có thể phân chia các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận
án theo các nhóm nội dung như sau:
1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận về pháp luật
kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ
- Về khái niệm hoạt động công vụ: Hiện tại khái niệm này đã được đề
cập trong một số giáo trình và sách chuyên khảo ở Việt Nam, tiêu biểu như sau:
Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam định nghĩa: "Công vụ được hiểu
là hoạt động của mọi người "làm việc công" nghĩa là hoạt động của mọi CB,
CC, VC làm việc trong mọi tổ chức cấu thành của hệ thống chính trị nước ta,
phục vụ các công việc chung của xã hội" [124, tr.256].
Trong cuốn sách Một số thuật ngữ hành chính [122] thì công vụ là một
dạng của lao động xã hội chủ yếu do các CC, VC nhà nước thực hiện. Hoạt
động công vụ được điều chỉnh bởi ý chí nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm
vụ, chức năng của Nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và gắn bới quyền lực
nhà nước, nhân danh nhà nước.
10
Trong cuốn sách Phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ ở
Việt Nam - Lý luận và thực tiễn [96], tác giả Nguyễn Quốc Sửu cho rằng hoạt
động công vụ nhà nước là những hoạt động hay một mặt hoạt động có tính tổ
chức, quyền lực pháp lý của Nhà nước, được phân biệt với các hoạt động khác
Trong bài viết ''Xung đột lợi ích và tham nhũng'', tác giả Trần Văn
Long [60, tr.34-37] cho rằng, xung đột lợi ích được hiểu là bất kỳ một tình
huống nào trong đó cá nhân hay tổ chức được ủy thác trách nhiệm (được
trao quyền) có những lợi ích riêng hay chung đủ lớn đề ảnh hưởng (hay có thể
ảnh hưởng) đến việc thi hành các trách nhiệm được ủy thác một cách khách
quan, đúng đắn.
Theo các tác giả Vũ Công Giao và Đỗ Thu Huyền trong bài viết ''Kinh
nghiệm quốc tế về phòng ngừa, quản lý XĐLI của thế giới'' [37, tr.27] thì
"Xung đột lợi ích là khả năng một cá nhân hoặc tổ chức được giao quyền lực
công sử dụng vị trí công tác một cách không thích đáng để tư lợi".
Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu nêu trên chưa có sự
thống nhất hoàn toàn về cách hiểu XĐLI, đặc biệt là về chủ thể và khách thể
của XĐLI. Phần lớn các tác giả nêu trên cho rằng XĐLI là "tình huống" chứ
không phải là "hành vi". Bên cạnh đó, có tác giả cho rằng chủ thể của tình
huống XĐLI là cá nhân (CB, CC, VC) được giao quyền lực (thẩm quyền)
trong khi thực hiện công vụ [49, tr.82-86], nhưng có tác giả lại cho rằng ngoài
cá nhân, chủ thể của XĐLI còn là tổ chức được giao quyền [37, tr.27].
Dù vậy, các công trình nghiên cứu có sự thống nhất khá cao trong quan
niệm về khách thể, theo đó lợi ích có thể là lợi ích vật chất (tiền, tài sản...)
hoặc phi vật chất (trao đổi mối quan hệ, sự hàm ơn, khả năng thăng tiến trong
công việc...) [37; 60, tr.34-37]. Lợi ích này là lợi ích riêng đối với cá nhân
[49; 50; 60; 70] hoặc lợi ích chung (đối với tổ chức) [60, tr.34-37].
- Về các yếu tố cấu thành XĐLI: Vấn đề này mới chỉ được đề cập trong
hai (02) công trình nghiên cứu ở Việt Nam, cụ thể như sau:
Bài viết ''Kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa, quản lý XĐLI của thế
giới'' của các tác giả Vũ Công Giao và Đỗ Thu Huyền [37, tr.27] cho rằng có
hai yếu tố tạo nên tình huống XĐLI, trong đó về chủ thể là tổ chức hoặc cá
nhân được giao thẩm quyền nhất định, còn về khách thể, lợi ích bao gồm cả
vật chất và phi vật chất.
Bài viết ''Xung đột lợi ích và tham nhũng'' của tác giả Trần Văn Long
Trong đề tài Kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ tại Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [45], nhóm tác giả đã chỉ ra những điểm
chung và khác biệt giữa XĐLI và tham nhũng. Cụ thể, cả hai khái niệm XĐLI và
tham nhũng đều đề cập đến lợi ích riêng tư của CB, CC, VC, nhưng tham nhũng
có mục tiêu rõ ràng là vụ lợi còn XĐLI chưa nói đến mục tiêu vụ lợi mà mới nói
13
tới sự xung đột giữa lợi ích công và lợi ích tư trong quá trình ra quyết định của
CB, CC, VC.
Trong cuốn sách Kiểm soát XĐLI trong khu vực công. Quy định và thực
tiễn ở Việt Nam [70] các tác giả cũng phân biệt giữa XĐLI và tham nhũng
thông qua một số yếu tố như: Về đối tượng điều chỉnh, tham nhũng nói tới các
"hành vi", trong khi XĐLI nói tới các "tình huống"; Các tình huống XĐLI có
thể dẫn đến hành vi tham nhũng trong trường hợp CB, CC, VC ra quyết định vì
lợi ích riêng và làm tổn hại tới lợi ích chung, trong trường hợp ngược lại, CB,
CC, VC ra quyết định vì lợi ích chung thì XĐLI không dẫn tới tham nhũng; Về
mặt lý thuyết, tham nhũng có thể bị loại bỏ hoặc giảm cơ bản, song các tình
huống XĐLI thì luôn tồn tại và cần kiểm soát để tránh dẫn tới tham nhũng.
Trong bài viết ''Kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa, quản lý XĐLI của
thế giới'' [37, tr.28], các tác giả Vũ Công Giao và Đỗ Thu Huyền cho rằng: Xung
đột lợi ích là một trong những nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, tuy không phải
tất cả các tình huống XĐLI đều dẫn đến tham nhũng và ngược lại Tuy nhiên,
trong đa số trường hợp, tham nhũng xuất hiện khi một công chức đã vì lợi ích cá
nhân của mình để tác động không thỏa đáng tới quá trình thực hiện công vụ, vì
vậy, cần coi phòng ngừa XĐLI là một công cụ quan trọng để PCTN.
Trong bài viết ''Xung đột lợi ích và tham nhũng'', tác giả Trần Văn
Long cũng cho rằng XĐLI có thể dẫn đến tham nhũng [60]. Còn trong bài viết
Kiểm soát "xung đột lợi ích" trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị
góp phần phòng, ngừa tham nhũng, tác giả Ngô Mạnh Hùng khẳng định:
Xung đột lợi ích có thể tiềm ẩn hành vi tham nhũng bởi trong một tình huống
những nguyên tắc, quy định chính của Công ước và nêu ra những thuận lợi và
thách thức đối với Việt Nam trong việc phê chuẩn và thực thi công ước. Trong
số các vấn đề được đề cập và phân tích có việc kiểm soát XĐLI.
Cuốn sách Một số kinh nghiệm quốc tế về phòng chống tham nhũng của
Thanh tra Chính phủ đề cập đến chính sách, pháp luật về phòng ngừa tham
nhũng và thực tiễn thực hiện UNCAC của một số quốc gia trên thế giới, trong
đó có kinh nghiệm liên quan đến kiểm soát XĐLI, cụ thể trong các lĩnh vực
như mua sắm công và quản lý tài chính công; sự hợp tác giữa khu vực công
và khu vực tư... [100].
Luận án Tiến sĩ Luật học của Lê Đinh Mùi Pháp luật về đạo đức công
chức ở Việt Nam hiện nay [67], nghiên cứu pháp luật về đạo đức của một số
nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, OECD trong đó có các nội dung liên
15
quan đến nguyên tắc ứng xử của CB, CC, VC khi thi hành công vụ, hạn chế
đối với CB, CC, VC khi tham gia các hoạt động tư nhân... Đây là những nội
dung có liên quan và hữu ích trong việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về
kiểm soát XĐLI.
Luận văn thạc sĩ Luật học của Lã Văn Huy, Pháp luật về phòng chống
tham nhũng của Singapore và bài học cho Việt Nam [53], đề cập đến quy định
pháp luật của Singapore về PCTN trong đó có vấn đề kiểm soát XĐLI.
Bài viết ''Một số kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của Hàn
Quốc'' của tác giả Trần Anh Tuấn phân tích các quy định của Hàn Quốc về
ngăn ngừa XĐLI trong hoạt động công vụ [111].
Bài viết ''Luật đạo đức trong chính quyền Mỹ: chi tiết đến từng hạng
mục'' do Hoàng Kim Phượng lược dịch từ tài liệu của Open Secrets giới thiệu
đạo luật của Hoa Kỳ có tên là "Đạo đức trong chính quyền", trong đó bao
gồm các quy định liên quan đến chức vụ, các hợp đồng, đi lại, quà biếu thu
nhập, thù lao, tài sản các giao dịch... [74].
XĐLI và nhận diện các lĩnh vực hoạt động có nhiều nguy cơ xảy ra XĐLI.
Đặc biệt, bài viết đã chỉ ra mô hình quản lý XĐLI gồm 6 chữ R (6Rs) của
OECD mà đang được nhiều quốc gia tham khảo, vận dụng, xem đó là giải
pháp tốt để quản lý XĐLI. Đây là nghiên cứu có tính tổng quát có giá trị tham
khảo rất tốt cho đề tài luận án.
Bài viết "Kiểm soát XĐLI, góp phần tăng cường hiệu quả công tác
PCTN ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Vũ Thu Hạnh [40, tr.34] đã dẫn
chứng quy định của Cộng hòa Séc, Cộng hòa Slovak, Cộng hòa Coroatia,
Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc về chế định XĐLI với các nội dung về
mục đích của kiểm soát XĐLI là tăng cường liêm chính, khách quan và minh
bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, khái niệm XĐLI, phân loại
XĐLI, quy định về tặng quà, quy định tránh XĐLI…
- Về khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về kiểm soát XĐLI
trong hoạt động công vụ:
Đề tài khoa học cấp bộ Kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ tại
Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [45] do Phạm Thị Huệ làm chủ
nhiệm cho rằng: Pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ quy
định những nguyên tắc chung nhất để thiết lập nền công vụ liêm chính, với
một đội ngũ CB,CC,VC liêm khiết, chuyên nghiệp và một cơ chế để đảm bảo
tính liêm chính, liêm khiết đó được thực hiện nhằm phục vụ người dân, xã
17
hội. Pháp luật là căn cứ để xác định lợi ích hợp pháp của các chủ thể và các
hành vi cần thực hiện để bảo vệ lợi ích hợp pháp đó. Mặt khác, pháp luật cũng
quy định cơ chế để đảm bảo hiệu quả thực hiện các biện bảo bảo vệ. Pháp luật
về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ có vai trò loại bỏ nguy cơ nảy
sinh tham nhũng thiết lập cơ chế phòng ngừa tham nhũng hiệu quả xây dựng
nền quản trị tốt.
Đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2016 của Thanh tra Chính phủ về Kiểm
giám sát, theo dõi và xử lý XĐLI trong hoạt động công vụ. Các tác giả đã chỉ
ra một số ưu điểm cũng như những hạn chế của pháp luật về kiểm soát XĐLI
trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham
khảo hữu ích cho nghiên cứu đề tài luận án.
Cuốn sách Việt Nam với Công ước Liên Hợp quốc về chống tham
nhũng của tập thể tác giả do Nguyễn Văn Thanh chủ biên [105] đã đề cập đến
những quy định pháp luật điều chỉnh hành vi xử sự của CB, CC, VC. Các tác
giả cho rằng cần tiếp tục hệ thống hóa và hoàn thiện các quy định có liên
quan, trong đó bao gồm việc yêu cầu CB, CC, VC phải báo cáo về những hoạt
động ngoài công việc mà công chức đó đảm nhiệm như các khoản đầu tư bên
ngoài hay tài sản, quà tặng, những thứ có thể gây XĐLI khi họ thực hiện
nhiệm vụ công.
Cuốn sách Một số vấn đề về tham nhũng và những nội dung chủ yếu
của Luật Phòng chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành [65]
do tác giả Đinh Văn Minh và cộng sự biên soạn tập trung phân tích những
quy định về quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc tặng quà, nhận
quà của CB, CC, VC trong Luật PCTN 2005, trong đó có so sánh với Pháp
lệnh PCTN năm 1998. Các tác giả khẳng định, phòng ngừa XĐLI là một
trong những biện pháp quan trọng để phòng ngừa tham nhũng và những yêu
cầu mang tính nguyên tắc của UNCAC liên quan đến phòng ngừa XĐLI đã
được pháp luật Việt Nam quy định khá đầy đủ, chi tiết.
Cuốn sách Kiểm soát XĐLI trong khu vực công: Quy định và thực tiễn
ở Việt Nam [70] do nhóm Ngân hàng Thế giới và Thanh tra Chính phủ ấn
hành đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến XĐLI trong khu vực công ở Việt
Nam, trong đó phần Phụ lục 4 của sách trình bày kết quả rà soát quy định
pháp luật Việt Nam về kiểm soát XĐLI trong khu vực công. Đây là công trình
chuyên khảo đầu tiên rà soát một cách tổng thể hệ thống pháp luật Việt Nam
về vấn đề XĐLI, vì vậy luận án có thể kế thừa rất nhiều kết quả nghiên cứu
trong cuốn sách này.
từ đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của chính sách, pháp luật trong lĩnh vực
này và đề xuất một số quan điểm, giải pháp bảo đảm kiểm soát thu nhập của
người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay.