Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về đạo đức trong việc xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức cho quận hải châu, thành phố đà nẵng hiện nay - Pdf 55

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

DƢƠNG NGỌC PHƢỢNG

VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
ĐẠO ĐỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC
CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC QUẬN
HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Ngọc Ánh

Đà Nẵng – Năm 2017



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài...................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu............................................................................5
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu...................................................... 6
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.................................................................... 6
5. Bố cục đề tài........................................................................................7
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu.............................................................7
CHƢƠNG 1. TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC...................10
1.1. NGUỒN GỐC TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH......................10

QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY......................... 51
2.2.1. Đặc điểm tình hình của đội ngũ cán bộ công chức quận Hải
Châu, thành phố Đà Nẵng................................................................................51
2.2.2. Đánh giá thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức quận
Hải Châu..........................................................................................................52
2.3. NHỮNG NGUYÊN NHÂN ẢNH HƢỞNG ĐẾN ĐẠO ĐỨC CỦA ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG HIỆN NAY..........................................................................................59
2.3.1. Khách quan..................................................................................59
2.3.2. Chủ quan..................................................................................... 62
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG
ĐẠO ĐỨC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC QUẬN HẢI CHÂU,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG............................................................................. 69
3.1. PHƢƠNG HƢỚNG NHẰM XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CHO ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CÔNG CHỨC QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG....69
3.1.1. Phƣơng hƣớng chung................................................................. 69
3.1.2. Các nguyên tắc cần quán triệt......................................................69
3.2. GIẢI PHÁP...............................................................................................71
3.2.1. Về công tác giáo dục chính trị tƣ tƣởng cho đội ngũ cán bộ công
chức quận Hải Châu.........................................................................................71


3.2.2. Về đẩy mạnh tính tự giác, tự học tập, rèn luyện, tu dƣỡng đạo
đức theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh của cán bộ công chức quận Hải Châu.........72
3.2.3. Về cụ thể hóa chuẩn mực đạo đức theo ngành nghề...................73
3.2.4. Về xây dựng và thực hiện quy chế thi đua - khen thƣởng..........75
3.2.5. Về xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát...................78
KẾT LUẬN.....................................................................................................83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)



2
cần có thang thuốc hay nhất là thực hiện phê bình và tự phê bình. Làm đƣợc
nhƣ vậy, thì cán bộ công chức sẽ ngày càng tốt và những khuyết điểm ngày
càng mất dần đi, đảng viên, cán bộ ngày càng đƣợc nhân dân tin yêu, Đảng
ngày càng vững mạnh.
Trong sự nghiệp cách mạng, tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh đã ảnh
hƣởng sâu rộng đến đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức. Dƣới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội ngũ cán bộ công chức đã có những bƣớc
trƣởng thành vƣợt bậc về nhiều mặt. Những thành tựu to lớn, nổi bật của đất
nƣớc sau 30 năm đổi mới gắn liền với tính tiên phong, gƣơng mẫu của đội
ngũ cán bộ công chức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuyệt đại
bộ phận cán bộ công chức đã phát huy tốt vai trò của mình trong công cuộc
đổi mới và phát triển đất nƣớc; có bản lĩnh vững vàng, kiên định con đƣờng
đi lên chủ nghĩa xã hội do Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã
lựa chọn. Là những hạt nhân gƣơng mẫu trong việc thực hiện đƣờng lối,
chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, đội ngũ cán bộ công chức đã thể hiện rõ ý
thức vƣơn lên trong học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ học vấn, năng lực
tƣ duy lý luận, trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả công
tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao. Và những thành tựu sau 30 năm đổi
mới đã tạo tiền đề vật chất, tinh thần để tiếp tục củng cố và nâng cao đạo đức
cách mạng cho đội ngũ cán bộ công chức với tính cách là chủ thể năng động,
tích cực của sự phát triển xã hội nói chung và lĩnh vực đạo đức nói riêng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh cải cách mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng,
mỗi cán bộ công chức hàng ngày, hằng giờ phải đối mặt với những tác động
tiêu cực từ đời sống xã hội.
Thực tế đã và đang cho thấy, sự suy thoái về chính trị, tƣ tƣởng đạo
đức và lối sống không chỉ tiềm tàng ở một nơi nào đó mà nó hiện diện
tại không ít nơi, không chỉ ở một vài ngƣời hay nhóm ngƣời



4
cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc [27, tr.22].
Nghị quyết Trung ƣơng 4 khoá XII, một lần nữa, khẳng định:
Tình trạng suy thoái về tƣ tƣởng, chính trị, đạo đức, lối sống của
một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức chƣa bị đẩy lùi, có mặt,
có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng,... Trong khi đó, sự suy thoái về
tƣ tƣởng, chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” chỉ là một bƣớc ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm
khôn lƣờng, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu,
thù địch, phản bội lại lý tƣởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng,
của dân tộc [28, tr.22-23].
Thực trạng này là nguy cơ làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm
tổn thƣơng tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một
nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Đó là thực trạng
chung của cả nƣớc. Và ở mỗi địa phƣơng, đơn vị, thực trạng này có những
biểu hiện và mức độ trầm trọng khác nhau.
Hải Châu là quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng. Trong sự nghiệp
dựng nƣớc và giữ nƣớc, với bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa đã hình
thành nên đặc điểm con ngƣời Hải Châu với những đức tính quý báu: có lòng
yêu nƣớc, thƣơng nòi sâu sắc, giữ vững sự đoàn kết thống nhất, trung dũng,
kiên cƣờng, bất khuất của trƣớc mọi gian lao, thử thách dù khắc nghiệt đến
bao nhiêu của thiên tai, địch họa.
Trong 20 năm xây dựng và phát triển, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về công tác cán bộ “cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy,
huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [42, tr.309], Đảng bộ, chính
quyền quận Hải Châu đã chú trọng đầu tƣ trong công tác đào tạo, bồi dƣỡng
đội ngũ cán bộ công chức cả về tƣ tƣởng, đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ,

nhằm xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu, thành


6
phố Đà Nẵng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong
việc xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu, thành
phố Đà Nẵng hiện nay.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc xây dựng đạo
đức cho đội ngũ cán bộ công chức thuộc 3 cơ quan Quận ủy, Ủy ban nhân
dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
trong giai đoạn (2011 - 2016).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
- Luận văn dựa trên cơ sở hệ thống tri thức lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức và đạo đức cách mạng.
- Hệ thống quan điểm lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa,
đạo đức và xây dựng con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp cách mạng.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn là quán triệt các nguyên tắc
phƣơng pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử; kết hợp với sử dụng các phƣơng pháp nhƣ phân tích, so sánh, đối
chiếu, tổng hợp, khái quát hoá, điều tra.
4.3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Góp phần làm rõ thêm về nguồn gốc, bản chất, nội dung tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh về đạo đức.



8
đọc những thu hoạch bổ ích, cảm nhận mới về con ngƣời, sự nghiệp và tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh trên nhiều bình diện, từ đó thấy rõ hơn tầm vóc, ảnh
hƣởng và giá trị nhiều mặt của nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh đối với dân
tộc và thời đại; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2009), Mãi mãi học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh - Phân viện Đà Nẵng (1995), Góp phần nghiên cứu tư tưởng Hồ
Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trần Ngọc Ánh (2011), “Về mối
tương quan giữa đức và tài trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Triết học,
số 5 (240): các tác giả đã nêu rõ quan điểm về vai trò, sức mạnh của đạo đức
cách mạng, mối quan hệ giữa đức và tài, những nội dung cơ bản về tƣ tƣởng
đạo đức Hồ Chí Minh nhƣ trung với nƣớc, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm,
chính, chí công, vô tƣ; yêu thƣơng quý trọng con ngƣời, luôn tin tƣởng ở
quần chúng, sống có tình có nghĩa; tinh thần quốc tế trong sáng.
Nhóm thứ hai, vai trò và tầm quan trọng của việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức đối với cán bộ công chức, làm rõ thực trạng đạo đức của đội
ngũ cán bộ công chức và một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức cho đội ngũ
cán bộ công chức hiện nay: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Phân
viện Đà Nẵng (1998), Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới,
Nxb Đà Nẵng: trong bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường cách
mạng Việt Nam, PGS, PTS. Mạch Quang Thắng khẳng định tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh là tài sản tinh thần quý báu của toàn Đảng và toàn dân ta và tƣ tƣởng của
Ngƣời vẫn luôn luôn có trong hành trang của dân tộc Việt Nam; Lê Hữu Nghĩa
(2016), Bản lĩnh chính trị của cán bộ công chức trong thời đại công nghiệp hóa
và hội nhập quốc tế, Tạp chí Cộng sản, số 879: tác giả đã khẳng định, bản lĩnh
chính trị của mỗi cán bộ công chức cũng nhƣ của Đảng đã tạo nên sức mạnh, sự
thống nhất ý chí, bảo đảm cho Đảng ta vƣợt qua mọi khó khăn, thử thách lãnh
đạo cách mạng Việt Nam; Trần Ngọc Ánh (2012),



10
CHƢƠNG 1

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
1.1. NGUỒN GỐC TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

1.1.1. Tƣ tƣởng và văn hóa truyền thống Việt Nam
Trƣớc hết, đó là chủ nghĩa yêu nƣớc và ý chí đấu tranh bất khuất để
dựng nƣớc và giữ nƣớc. Từ văn hóa dân gian đến văn hóa bác học, từ nhân
vật truyền thuyết đến các tên tuổi sáng ngời trong lịch sử nhƣ Hai Bà Trƣng,
Ngô Quyền, Trần Hƣng Đạo, Nguyễn Trãi đều đã phản ánh chân lý đó một
cách hùng hồn. Chủ nghĩa yêu nƣớc là dòng chủ lƣu chảy xuyên suốt trƣờng
kỳ lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất, đứng đầu bảng văn hóa - tinh
thần Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nƣớc đã trở thành động lực, sức mạnh truyền
thống, đạo lý làm ngƣời, niềm tự hào và là nhân tố hàng đầu trong bảng giá
trị tinh thần của con ngƣời Việt Nam. Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ
nƣớc ngoài du nhập vào Việt Nam đều đƣợc tiếp nhận khúc xạ qua lăng kính
của tƣ tƣởng yêu nƣớc đó.
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở một dân tộc có bề dày chống ngoại
xâm hàng nghìn năm. Thực tiễn của sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc đã làm
nảy sinh một cách tự nhiên truyền thống yêu nƣớc và trở thành một “hằng số”
bất biến trong quá trình tồn tại và phát triển của ngƣời Việt Nam. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã viết:
Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nƣớc. Đó là một truyền thống
quý báu của ta. Từ xƣa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì
tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh
mẽ, to lớn, nó lƣớt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm
tất cả lũ bán nƣớc và lũ cƣớp nƣớc [44, tr.38].


12
Ngƣời thƣờng nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình
có nghĩa. Tình nghĩa ấy đƣợc Ngƣời nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình
nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Ngay cả khi
tiếp thu lý luận Mác-Lênin - đỉnh cao của trí tuệ nhân loại cũng phải trên nền
tảng của giá trị truyền thống đó. Ngƣời nhấn mạnh: Hiểu chủ nghĩa MácLênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu kinh sách
mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin đƣợc.
Tƣ tƣởng đại nhân, đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải
phóng dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của con ngƣời, là cứu nƣớc, độc lập, tự do
và chủ nghĩa xã hội, tạo mọi điều kiện cho con ngƣời phát triển. Trong văn
hóa đạo đức Việt Nam, chữ “Nghĩa” có ý nghĩa là lẽ phải, ngay thẳng.
Nguyễn Trãi đã từng nói: Phàm mƣu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc,
nên “công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, Hồ Chí Minh lấy chữ nghĩa để
phân rõ bạn thù. Ai làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn.
Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù.
Trong những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế
thừa tinh thần cộng đồng, lối sống thành thực, thân ái, những thuần phong mỹ
tục, trở thành những yếu tố đậm nét trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Ngay từ năm
1947, trong khi cuộc chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, Ngƣời
đã nói đến đời sống mới của một ngƣời, một nhà, một làng và khắp cả nƣớc.
Xoay quanh hạt nhân của đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính. Hồ Chí Minh
đã nói đến thuần phong mỹ tục, không có cờ bạc, hút xách, bợm bài, trộm cắp.
Ngƣời nhắc đến tục ngữ “Lá lành đùm lá rách”, “Đói cho sạch rách cho thơm”.
Và, nếu một mình no ấm mà nỡ để đồng bào xung quanh đói rét, thì dù giàu cũng
không hƣởng đƣợc. Ngƣời nói rằng cách cƣ xử đối với đồng bào thì nên thành
thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ. Nhiều lần, Ngƣời nhấn mạnh đến việc xây dựng
và phát triển thuần phong mỹ tục, tức là phát triển


13

lại tinh thần lạc quan ấy cho toàn dân tộc. Ngƣời tin vào sự tất thắng của nhân
dân ta, tin rằng cuộc chống Mỹ, cứu nƣớc dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh
nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Và Ngƣời khẳng định:
“Dù khó khăn, gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng
lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nƣớc ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ
thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” [52, tr.612].
Thứ tƣ, dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh,
sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu; ham học hỏi và không ngừng mở rộng cửa
đón nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại, từ Nho, Phật, Lão của Phƣơng Đông
đến tƣ tƣởng - văn hóa hiện đại phƣơng Tây. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi,

ở giữa đầu mối của sự giao lƣu văn hóa Bắc - Nam và Đông - Tây, ngƣời Việt
Nam từ xƣa đã rất xa lạ với đầu óc hẹp hòi, thủ cựu, thói bài ngoại cực đoan.
Trên cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp
thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của ngƣời thành những giá trị
riêng của mình. Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của truyền
thống đó.
Những giá trị truyền thống của dân tộc đƣợc hình thành qua hàng ngàn
năm dựng nƣớc và giữ nƣớc là cơ sở quan trọng để hình thành nên tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh về đạo đức. Hồ Chí Minh là ngƣời đã đặt nền móng cho sự
nghiệp xây dựng nền đạo đức mới ở Việt Nam.
1.1.2. Tinh hoa văn hoá nhân loại
- Tư tưởng và văn hóa phương Đông
Văn hóa phƣơng Đông nổi bật lên 2 trung tâm văn hóa lớn là Trung
Quốc và Ấn Độ. Hồ Chí Minh là ngƣời có vốn hiểu biết rất uyên thâm về văn
hóa phƣơng Đông. Với tƣ duy và tầm nhìn xa rộng của mình, Ngƣời đã nhận
thấy những hạn chế, tiêu cực trong các học thuyết triết học hoặc trong tƣ
tƣởng của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn



kinh; Nho giáo gắn liền với các nhà nho thời kỳ lập thuyết (thời Tiên Tần)
nhƣ Khổng Tử, Tăng Tử, Mạnh Tử; Nho giáo tinh tuý nhƣng không kinh
viện, mà gắn liền và dung nhập chủ nghĩa yêu nƣớc Việt Nam, dung nhập hơi
thở của thời cuộc ở bƣớc chuyển biến có ý nghĩa bản lề của lịch sử dân tộc.
Nét đặc sắc của Nho giáo là chú trọng dạy đạo làm ngƣời, hƣớng vào
rèn luyện đạo đức con ngƣời, đề cao vấn đề tu dƣỡng đạo đức cá nhân - tu
thân. Theo Nho giáo, tu thân đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Ở đây Nho
giáo đã nhận thức đƣợc một thực tế là những ngƣời cầm quyền mà mất đạo
đức thì không thể cai trị đƣợc nhân dân. Theo Nho giáo, đạo đức ngƣời cầm
quyền có ảnh hƣởng lớn đến sự hƣng vong của một triều đại. Vì vậy, muốn
có năng lực trị quốc, con ngƣời cần phải trải qua một quá trình học tập, tu
dƣỡng để có đạo đức cao cả, làm tấm gƣơng cho ngƣời dƣới. Theo Nho
giáo, tự kiểm điểm bản thân là công việc bắt buộc đối với tất cả mọi ngƣời,
không chừa một ai. Trên từ bậc thiên tử, dƣới đến thứ dân ai ai cũng phải tự
kiểm điểm mà đổi mới, tiến bộ. Kiểm điểm bản thân giúp cho mọi ngƣời gạt
bỏ đƣợc thói hƣ, tật xấu, xây dựng nhân cách mới tốt đẹp hơn. Nho giáo cũng
chỉ ra rằng, học tập chính là phƣơng pháp để tu thân, rèn luyện phẩm chất đạo
đức. Các đức tính nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trực, dũng phải học tập rèn luyện
mới có. Ngƣời quân tử làm điều tốt cho ngƣời khác, không gây ác cho ngƣời
khác nên phải học để nhận thức đúng, tránh sai lầm, không bị che lấp.
Từ những giá trị tốt đẹp cũng nhƣ hạn chế của Nho giáo, Hồ Chí Minh
rút ra bài học: “Những ngƣời An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về
mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách mạng
thì cần đọc các tác phẩm của Lênin” [39, tr.563]. Là ngƣời tiếp thu, vận dụng
Nho giáo một cách nhuần nhuyễn nhất, thành công nhất, song Chủ tịch Hồ
Chí Minh chỉ tiếp thu Nho giáo nguyên thuỷ (tức Khổng Mạnh) mà ít nói


17
đến Hán Nho, Tống Nho, và trong 4 vế tƣ tƣởng chính trị - đạo đức của

ai, không sợ ai. Trời Đất sinh ra muôn vật, cây cỏ, chim muông, nhân loại,
không phải cốt để chúng ăn thịt nhau mà các sinh vật đều khắc chế lẫn nhau,
nuôi dƣỡng nhau, bổ trợ nhau để cùng tồn tại. Đức Lão Tử không lấy cuộc
đời làm lạc thú, xem việc sống nhƣ một nghĩa vụ, không yếm thế, không lạc
quan, và xem cái chết là một việc phục tùng theo lẽ tự nhiên nhất định. Lão
giáo thể hiện tinh thần bao dung bằng chủ trƣơng sống hoà hợp với tự nhiên,
tôn trọng quy luật của đất trời, từ đó nêu lên thuyết “vô vi, bất tranh”, “đƣợc
ít không chê, đƣợc nhiều không mừng, cái vui đến thì tận hƣởng, cái vui đi
không than tiếc, vui vẻ với bốn mùa, hoà hợp cùng ngoại vật”.
Tiếp thu tƣ tƣởng nhân sinh của Lão giáo, triết lý sống Hồ Chí Minh
không phải là sống khổ hạnh, càng không phải là diệt dục, mà là một quan
niệm sống hài hòa, giản dị, khiêm nhƣờng, thanh cao về tinh thần và vật chất.
Với Ngƣời, cách sống đẹp là sự hài hòa giữa con ngƣời với tự nhiên, giữa cá
nhân với đồng bào, đồng chí. Vào đầu năm 1946, sau thắng lợi của cuộc tổng
tuyển cử đầu tiên của nƣớc Việt Nam độc lập và Hồ Chí Minh trở thành Chủ
tịch chính thức của nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, khi trả lời các nhà báo
nƣớc ngoài, Ngƣời nói:
Tôi tuyệt nhiên không ham công danh phú quý chút nào… Tôi chỉ
có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nƣớc ta
đƣợc hoàn toàn độc lập, dân ta đƣợc hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đƣợc học hành. Riêng phần tôi thì
làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nƣớc biếc để câu cá,
trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn
trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi [41,tr.187].
Với Ngƣời, cƣơng vị trọng trách không phải là quyền lực, quyền lợi mà
là nghĩa vụ, trách nhiệm đƣợc giao nhằm phục vụ cho hạnh phúc của nhân


19
dân. Còn nhu cầu có tính chất riêng tƣ thì đó là một cuộc sống giản dị, hòa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status