Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin phát triển bền vững của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 55

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRƢƠNG NAM HỒNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG
ĐẾN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC LĨNH VỰC
NÔNG NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Đà Nẵng - 2019


Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Ngƣời hƣớng dẫn KH: GS.TS. TRƢƠNG BÁ THANH

Phản biện 1: PGS.TS. Đoàn Ngọc Phi Anh
Phản biện 2: PGS.TS. Chúc Anh Tú

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn
tốt nghiệp Thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại
học Đà Nẵng vào ngày 23 tháng 2 năm 2019

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng

Cần làm gì để gia tăng mức độ CBTT PTBV của các doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam?
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu


2
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc CBTT
PTBV của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên
TTCK Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Công bố thông tin về phát triển bền vững trên báo thường niên,
báo cáo tài chính năm 2016, 2017 của các doanh nghiệp thuộc lĩnh
vực nông nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp là các số liệu, mục, chỉ mục
thông tin của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp đã được
công bố trên báo thường niên, báo cáo thông tin về môi trường trong
hai năm 2016, 2017.
- Sử dụng thang đo không trọng số để phân tích;
6. Ý nghĩa nghiên cứu của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ khung lý thuyết về PTBV và
thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT PTBV của các DN
thuộc lĩnh vực NN niêm yết trên TTCK Việt Nam.
7. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Công bố thông tin bền vững đã được các nhiều nhà kinh tế quan
tâm và nghiên cứu từ lâu thế giới.
8. Bố cục của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT
PTBV của các doanh nghiệp.

chuẩn mực kế toán
d. Đảm bảo công bằng đối với các đối tượng nhận thông tin
công bố
e. Đối tượng CBTT phải có trách nhiệm với thông tin công bố


4
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CBTT PTBV
1.2.1. Khái niệm về CBTT PTBV
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của chính
các doanh nghiệp ở hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng phát
triển của các thế hệ tương lai.
Công bố thông tin về phát triển bền vững của một doanh nghiệp
là việc cung cấp những thông tin tài chính và phi tài chính, bao gồm
3 khía cạnh chính trong phát triển bền vững. Đó là khía cạnh về kinh
tế (hay thành quả tài chính), trách nhiệm xã hội và môi trường liên
quan đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2. Vai trò của việc CBTT PTBV
Việc công bố thông tin trên TTCK là một công cụ quan trọng tác
động lên lợi ích của các doanh nghiệp niêm yết và bảo vệ các nhà
đầu tư tránh được những rủi ro. CBTT PTBV cho phép các doanh
nghiệp huy động vốn từ bên ngoài thông qua giảm chi phí huy động
vốn và giảm chi phí nợ, đồng thời tăng giá trị doanh nghiệp và cải
thiện tính thanh khoản của thị trường, do đó có thể đóng góp vào sự
tăng trưởng chung của nền kinh tế.
1.2.3. Ý nghĩa của báo cáo phát triển bền vững của doanh
nghiệp
Báo cáo phát triển bền vững của doanh nghiệp đang ngày được
các quốc gia trên thế thời ngày càng quan tâm. Người tiêu dùng, nhà
đầu tư, các cơ quan quản lý... ngày càng trông đợi vào quá trình giải

- Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài
chính hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK, thay thế Thông tư số
52/2012/TT-BTC.


6
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CBTT PTBV
1.4.1. Tổng hợp từ những nghiên cứu đi trƣớc
Từ kết quả tổng hợp một số công trình nghiên cứu đi trước có thể
thấy các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT PTBV nói chung có thể kể
đến là: Những nhân tố thuộc về quản trị công ty như: mức độ độc lập
của HĐQT, sở hữu của người quản lý, nhân tố kiểm toán công ty.
Nhóm nhân tố thuộc về cơ cấu sở hữu như Sở hữu nhà nước, sở hữu
nước ngoài. Ngoài những yếu tố trên các công trình nghiên cứu cũng
chứng mình một số yếu tố như quy mô doanh nghiệp, tài sản cố định
hay giải thưởng về SCR cũng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông
tin PTBV của doanh nghiệp.
Trong một số nghiên cứu khác như tác giả Cooke TE. (1992)
cũng đã chứng minh nhân tố thời gian hoạt động cũng có ảnh hưởng
đến mức độ CBTT của doanh nghiệp.
1.4.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến CBTT PTBV
Từ kết quả tổng hợp từ các công trình nghiên cứu đi trước, các
nhân tố ảnh hưởng đến việc CBTT PTBV của các nghiên cứu trước
được xác định như sau:
- Nhân tố quy mô doanh nghiệp
- Nhân tố sở hữu nước ngoài
- Nhân tố sở hữu nhà nước
- Nhân tố sở hữu của người quản lý
- Nhân tố lợi nhuận
- Nhân tố mức độ độc lập của hội đồng quản trị

TTCK Việt Nam có thời gian hoạt động càng lâu sẽ CBTT PTBV
càng nhiều.


8
Bảng 2.1. Mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc
TT

Biến độc lập

Mối quan hệ với
biến phụ thuộc

Nguồn tác giả
Ho & Taylor (2007), Barako và

1

Quy mô doanh
nghiệp

+

cộng sự (2006) Lan, Wang,
Zhang (2013), Muttanachai
(2015)

2

3


Wang, Zhang (2013), Tagesso
(2013)

Mức độ độc lập
6

của Hội đồng

+

Barako và cộng sự (2006)

quản trị

7

8

Đòn bẩy tài
chính
Thời gian hoạt
động

+

+

Zhang (2013), Barako và cộng
sự (2006)

Bảng 2.1. Phƣơng pháp đo lƣờng các biến độc lập
Nhân tố

TT
1
2
3

Đo lƣờng các biến

Quy mô doanh
nghiệp

Logarith của tổng doanh thu

Sở hữu nước Tỷ lệ số cổ phần được sở hữu bởi cá nhân, tổ
chức nước ngoài/Tổng số cổ phần

ngoài
Sở

hữu

nhà Tỷ lệ số cổ phần được sở hữu bởi nhà nước/Tổng


10
nước
4



Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản
Số thành viên hội đồng quản trị không tham gia
điều hành/Tổng số thành viên hội đồng quản trị
Nợ phải trả/Tổng tài sản
Năm tồn tại - Năm thành lập

2.3.2. Đo lƣờng biến phụ thuộc
a. Đề xuất danh mục thông tin phát triển bền vững
Luận văn này dựa trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước và chọn
lọc danh mục công bố thông tin theo hướng dẫn của Hội đồng Doanh
nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (Phần lớn theo hướng dẫn
Báo cáo phát triển bền vững GRI G4) có điều chỉnh loại trừ một số
thông tin bắt buộc công bố theo quy định Thông tư số 52/2012/TTBTC hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK. Một số mục và chỉ mục
bị loại trừ khỏi danh sách cho phù hợp với điều kiện đặc thù của Việt
Nam, cuối cùng tác giả chọn danh mục CBTT PTBV gồm 87 chỉ mục
(Xem Phụ lục 01 đính kèm).
b. Phương pháp đo lường biến phụ thuộc
Trên cơ sở danh mục thông tin phát triển bền vững có thể được
công bố, nếu thông tin được công bố sẽ được nhận giá trị 1, nếu


11
không công bố sẽ nhận giá trị 0. Như vậy, chỉ số CBTT PTBV của
doanh nghiệp sẽ được tính như sau:
Ij: Chỉ số công bố thông tin của doanh nghiệp j, 0≤Ij≤1
dij = 1 nếu mục thông tin i được công bố, = 0 nếu mục thông
tin i không được công bố.
nj = số lượng mục thông tin phát triển bền vững mà doanh
nghiệp j có thể công bố, nj≤87

khá thấp.
3.2. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC
CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
3.2.1. Thống kê các thông tin cơ bản về các biến số trong mô
hình hồi quy
* Tỷ lệ mức độ độc lập trung bình của HĐQT là 68.05%, tỷ lệ
độc lập nhỏ nhất là 28.6% và tỷ lệ độc lập cao nhất là 100%.
* Tỷ lệ sở hữu của người quản lý trung bình là 11.50%, trong đó
tỷ lệ cao nhất là 85.4%, tỷ lệ thấp nhất là 0%.
* Tỷ lệ sở hữu nước ngoài trung bình là 17.71%, tỷ lệ sở hữu
nước ngoài cao nhất là 49%, tỷ lệ thấp nhất là 0%.
* Tỷ lệ sở hữu nhà nước trung bình là 14.69%, trong đó tỷ lệ cao
nhất là 96.7%, tỷ lệ thấp nhất là 0%.
* Đòn bẩy tài chính có tỷ lệ thấp nhất là 0.023 lần cao nhất là
3.051 lần mức trung bình là 0.489 lần.
* Tỷ lệ khả năng sinh lời lớn nhất là 84%, thấp nhất là -1.1%, tỷ
lệ trung bình là 33%.
* Số năm hoạt động của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông


13
nghiệp trung bình là 3 năm. Thấp nhất là 1.1 năm, dài nhất là gần 11
năm.
* Tỷ lệ CBTT PTBV của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn
chứng khoán Việt Nam cao nhất là 73%, thấp nhất là 13%, tỷ lệ
trung bình là 42.48%.
3.2.2. Kiểm định giả thuyết về phân phối chuẩn của các biến
trong mô hình hồi quy
Các biến quan sát trong mô hình nhìn chung đều đạt phân phối
chuẩn của dữ liệu

3.2.4. Phân tích tƣơng quan giữa các biến trong mô hình
 Về mối quan hệ tương quan giữa biến phụ thuộc với các biến
độc lập
Dựa vào hệ số Pearson và Sig trên cho thấy các biến SHQL,
SHNNGOAI, QMDN, DBTC, ROA, TGHD có giá trị Sig
Hay
Chỉ số CBTTPTBV = 0.240 Sở hữu nƣớc ngoài + 0.342 Quy
mô doanh nghiệp + 0.153 Đòn bảy tài chính + 0.174 Lợi nhuận
trên tài sản
+ 0.160 Thời gian hoạt động
Từ mô hình hồi quy chuẩn hóa cho thấy Quy mô là yếu tố ảnh
hưởng nhiều nhất (Beta = 0.342) đến chỉ số công bố thông tin bền
vững của doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên
TTCK Việt Nam. Tiếp theo là yếu tố sở hữu nhà nước có tác động
lớn thứ nhì với hệ số Beta = 0.240. Tỷ suất sinh lời trên tài sản có
mức ảnh hưởng thứ 3 với beta = 0.174, thời gian hoạt động có mức
ảnh hưởng thứ 4 với beta = 0.160. Đòn bẩy tài chính có mức ảnh
hưởng thấp nhất đến chỉ số công bố thông tin bền vững của doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp với hệ số Beta = 0.153.
*Kiểm tra phần dư
Kiểm tra phần dư cho thấy xấp xỉ chuẩn với trị trung bình (Mean
= 0.000) và độ lệch chuẩn (Std. Deviation) = 0.985 (xấp xỉ bằng 1).
Bên cạnh đó, biểu đồ phần dư với đường cong chuẩn có dạng hình
chuông đối xứng với tần số cao nhất nằm ngay giữa và các tần số
thấp dần nằm ở 2 bên. Nên phần dư cũng có phân phối chuẩn, điều
này chứng tỏ sự phù hợp khi sử dụng phương pháp hồi quy bội.


17
CHƢƠNG 4
BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
4.1. BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1.1. Thực trạng việc CBTT PTBV của các doanh nghiệp
thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên TTCK Việt Nam

Kết quả phân tích cho thấy, Quy mô doanh nghiệp được đo lường
bằng giá trị tổng doanh thu quân trong năm là biến có ảnh hưởng
cùng chiều đến việc CBTT PTBV và mức độ ảnh hưởng lớn nhất. Do
đó, giả thuyết H5 được chấp nhận, tức là các doanh nghiệp có quy
mô càng lớn thì mức độ CBTT PTBV càng cao.
Ngoài ra, xét theo quy luật chung có thể thấy rằng, khi một doanh
nghiệp có quy mô tài sản càng lớn, công ty sẽ có nhiều giao dịch
phát sinh và tiếp xúc với rất nhiều các bên liên quan khác nhau. Do
đó, nhằm mục đích xây dựng và nâng cao lòng tin của các bên liên
quan, đảm bảo với họ về sự phát triển bền vững của doanh nghiệp thì
việc chú ý đến các hoạt động trách nhiệm xã hội và công bố thông tin
về phát triển bền vững luôn được doanh nghiệp này xem là nhiệm vụ
quan trọng và mang lại hiệu quả cao.
* Sở hữu nước ngoài
Tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài có ảnh hưởng đến
mức độ CBTT PTBV theo hướng cùng chiều, tương ứng với giả
thuyết H3 được chấp nhận, rằng các doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu
vốn của nước ngoài càng cao thì sẽ có mức độ CBTT PTBV cao
tương ứng.
Có thể thấy rằng, việc có các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào
thành phần chủ sở hữu của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông
nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam đã góp phần vào việc gia tăng


19
mức độ CBTT PTBV của các doanh nghiệp này. Điều này là tương
đối phù hợp khi kết quả thống kê cho thấy thực trạng CBTT PTBV
của các doanh nghiệp nghiên cứu ở Việt Nam là chưa cao. Trong khi
đó, các nhà đầu tư nước ngoài đến từ các TTCK đã phát triển khá lâu
với mức độ minh bạch về thông tin cao, khi họ tham gia vào doanh

Kết quả nghiên cứu chứng mình các doanh nghiệp trong lĩnh vực
nông nghiệp có thời gian hoạt động càng dài thì càng có xu hướng
CBTT PTBV. Theo kết quả này giả thuyết H8 của mô hình được
chấp nhận.
Thời gian hoạt động trung bình của các doanh nghiệp thuộc lĩnh
nông nghiệp niêm yết trên thị trường Việt Nam không nhiều, trung
bình là chỉ hơn 3 năm. Có thể nói, lĩnh vực doanh nghiệp chưa được
các nhà đầu tư quan tâm. Theo thống kê Bộ KH-ĐT, đến hết quý
2/2018 có tới 92,35% DN đầu tư vào nông nghiệp là quy mô nhỏ và
siêu nhỏ, quy mô vừa 2,06% và quy mô lớn chiếm 5,59% (nguồn
Báo thanhnien.vn). Tuy nhiên, với lợi thế điều kiện tự nhiên thuận
lợi, xu thế phát triển của ngành nông nghiệp và sự tăng trưởng xuất
khẩu cũng như tiêu dùng các sản nông nghiệp chất lượng cao. Đây
được xem là mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp đầu tư.
Thời gian qua, không ít công ty đã đi tắt, đón đầu xu hướng bằng
việc phát triển công nghệ xanh, nâng cao giá trị của chính sản phẩm
của mình. Các công ty có thời gian tồn tại càng lâu, càng có xu
hướng CBTT PTBV. Đây vừa là bước đi vững chắc của doanh
nghiệp, vừa là một kênh để thu hút nguồn đầu tư từ trong nước và
ngoài nước.
b. Nhóm chưa cho thấy có ảnh hưởng đến mức độ CBTT PTBV
* Mức độ độc lập của hội đồng quản trị
Mức độ độ lập của hội đồng quản trị thể hiện qua số lượng thành
viên Hội đồng quản trị không có mối quan hệ tương quan với mức độ
CBTT PTBV. Khi kiểm tra bằng phương pháp kiểm định trung bình
2 mẫu độc lập và hồi quy tuyến tính biến này không đạt yêu cầu về
mặt thống kê. Do đó, giả thuyết H1 của nghiên cứu không được chấp
nhận, tức là các doanh nghiệp có quy mô Hội đồng quản trị lớn



Có thể thấy rằng, đã có nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới nghiên


22
cứu về ảnh hưởng của tỷ lệ sở hữu của các nhà quản lý đến mức độ
CBTT PTBV của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc đưa ra các kết quả
trái ngược nhau bao gồm ảnh hưởng cùng chiều, ảnh hưởng ngược
chiều hoặc không có ảnh hưởng cho thấy mối quan hệ tương quan
giữa hai nhân tố này là không thực sự rõ ràng.
Xét ở Việt Nam, kết quả này phản ánh rằng, việc các nhà quản lý
nắm giữ tỷ lệ sở hữu nhiều hay ít thì vẫn không ảnh hưởng đến mức
độ CBTT PTPTBV. Điều này cho thấy, lợi ích mang lại cho các chủ
sở hữu từ việc CBTT PTBV của các doanh nghiệp này là chưa lớn.
4.2. HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Từ kết quả nghiên cứu trên, học viên đưa ra một số hàm ý nhằm
cải thiện chỉ số CBTT PTBV của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực
nông nghiệp như sau:
* Đối với các cơ quan nhà nước
- Bổ sung thêm các tiêu chí về phát triển bền vững trong Thông tư
số 155/2015/TT-BTC, hiện nay, thông tư này đã có các tiêu chí cụ
thể các tiêu chí về môi trường và xã hội mà các doanh nghiệp niêm
yết trên TTCK Việt Nam cần phải công bố. Tuy nhiên, so với tiêu
chuẩn G4 của GRI vẫn còn thiếu.
- Các cơ quan nhà nước và các bên hữu quan cần khuyến khích,
hỗ trợ nhằm nâng cao công tác kế toán báo cáo các chỉ tiêu PTBV
của các doanh nghiệp như định kỳ hàng năm, các cơ quan Nhà nước
đều có trao các giải thưởng để tôn vinh các doanh nghiệp có báo cáo
thường niên, báo cáo phát triển bền vững chất lượng nhất trên sàn
chứng khoán. Ngoài ra, để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc
lập báo cáo phát triển bền vững, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

số nhân tố thuộc quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin về
trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp.
Đi từ lý thuyết đến thực tiễn thuộc phạm vi nghiên cứu, tác giả đã
tổng hợp và chỉ ra được một số nhân tố thuộc quản trị công ty có ảnh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status