TÓM TẮT
Để tìm hiểu về việc công bố thông tin về môi trường của các doanh
nghiệp, bài viết này xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông
tin môi trường của doanh nghiệp trên cơ sở lý thuyết của các bên liên quan, và
đưa ra một quan sát thực nghiệm về các doanh nghiệp Trung Quốc đã được
niêm yết. Mức độ công bố thông tin môi trường của các doanh nghiệp trong bối
cảnh hiện nay ở Trung Quốc rất thấp. Gần 40% trong tổng số mẫu không có dữ
liệu môi trường và vấn đề này được xác định rõ trong việc phân tích thông tin
được công bố. Trong điều kiện hiện nay, chiến lược công bố thông tin môi
trường của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng sự quan tâm của Chính phủ. Sự nổ
lực đáng kể của các doanh nghiệp trong việc công bố thông tin môi trường là
tương đối nhạy cảm và phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp. Về vai trò
giữa các bên liên quan, yếu tố cổ đông và chủ nợ doanh nghiệp được thử
nghiệm trong nghiên cứu này tác động đến EID còn rất yếu. Một khám phá thú
vị khác trong nghiên cứu này, các doanh nghiệp được chọn mẫu công bố thông
tin về môi trường của mình. Các doanh nghiệp hoạt động ven biển Đông, nơi
mà kinh tế khá phát triển thì có khả năng công bố thông tin về khí thải môi
trường hơn so với các doanh nghiệp ở khu vực khác. Các doanh nghiệp có hiệu
suất hoạt động tốt, thì việc công bố thông tin về đầu tư và chi phí kiểm soát ô
nhiễm thì thuận lợi và dễ dàng hơn. Mối quan ngại của các bên liên quan về vấn
đề môi trường của doanh nghiệp được thúc đẩy khuyến khích nhằm tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp Trung Quốc chủ động hơn trong việc công bố thông
tin môi trường nhằm cải thiện chất lượng môi trường xung quanh doanh
nghiệp.
1. Giới thiệu
Nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nhanh và liên tục, chủ yếu do lượng
vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng mang lại, đã gây tác động xấu đến môi trường.
Các công cụ lập pháp và hành chính của Chính phủ đóng vai trò quan trọng để
điều chỉnh hành vi về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp.Tuy nhiên, do
khuôn khổ pháp lý về môi trường hiện tại và năng lực thực thi pháp luật bộc lộ
nhiều yếu kém, nhiều doanh nghiệp hoạt động thể hiện sự không thân thiện với
cho thấy một bức tranh tổng thể về các tác động môi trường của các doanh
nghiệp. EID góp phần giúp doanh nghiệp thể hiện trách nhiệm xã hội của mình
về việc phủ xanh và làm sạch môi trường tuy nhiên trên thực tế đa số các báo
cáo môi trường có nội dung kém chất lượng và không rõ ràng nhất là trên cơ sở
tự giác công bố. Để giúp cho các doanh nghiệp nhận thức đúng đắn về việc
công bố thông tin môi trường doanh nghiệp, bài viết này nhằm mục đích xác
định các yếu tố tác động đến việc công bố thông tin môi trường doanh nghiệp
và minh họa bằng ví dụ cụ thể là các doanh nghiệp Trung Quốc được niêm yết.
2. Tổng quan tài liệu
Về các yếu tố tác động đến việc công bố thông tin môi trường doanh
nghiệp, chúng được xem như là các hoạt động có liên quan đến môi trường của
2
doanh nghiệp, và chúng có thể được nhóm lại thành các yêu tố bên trong và các
yếu tố bên ngoài, các nhà nghiên cứu chưa khẳng định nhóm nào là chiếm ưu
thế. Một số điểm nhấn của các yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như các quy định,
cơ chế cạnh tranh và áp lực từ các tổ chức phi chính phủ. Cơ cấu tổ chức doanh
nghiệp, năng lực học tập cũng tác động đến khả năng tổ chức quản lý môi
trường phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp.
Nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra sự xuất hiện của EID có thể chia thành
ba loại. Một là quan sát số lượng và chất lượng các nội dung của thông tin môi
trường được công bố. Xem xét các báo cáo hàng năm của 127 doanh nghiệp
được niêm yết trong thời gian 1992-2002 ở Trung Quốc, và thấy rằng thông tin
môi trường là khá hạn chế và chung chung. Các doanh nghiệp có xu hướng
cung cấp những thông tin môi trường có lợi cho hoạt động của mình. Loại
nghiên cứu thực nghiệm thứ hai là phân tích các mối quan hệ giữa số lượng
thông tin môi trường công bố và các yếu tố, sự kiện có liên quan. Bằng chứng
từ những tài liệu môi trường được tiết lộ này chủ yếu là ở các nước phương
Tây, cho rằng sự tự nguyện tiết lộ thông tin môi trường của doanh nghiệp tăng
3. Phát triển khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu
3.1. Khái niệm cơ bản về lý thuyết giữa các bên liên quan
Dựa trên lý thuyết kinh tế bị phản đối vì tập trung vào lợi ích cá nhân và
tối đa hóa sự giàu có là không phù hợp trong quan điểm về tầm quan trọng của
môi trường như là một lợi ích công cộng. Từ đó về sau, quan điểm kinh tế chính
trị, bao gồm cả lý thuyết bên tham gia và lý thuyết tính hợp pháp, được xem
như là các quan điểm lý thuyết chủ đạo cho việc phân tích các EID.
Lý thuyết các bên liên quan khẳng định sự tồn tại của tổ chức đòi hỏi sự
hỗ trợ của các bên liên quan và sự chấp thuận phải được tìm kiếm.
3.2. Khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu
Như đã giải thích ở trên, sự thành công của một doanh nghiệp dựa trên
việc quản lý mối quan hệ với các bên liên quan của nó như là một tổng thể. Nếu
một doanh nghiệp tin rằng các bên liên quan bên ngoài của nó là quan tâm
nhiều hơn đến vấn đề môi trường, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực công bố
thông tin liên quan đến môi trường. Do đó, một giả thuyết chung được nêu rõ
như sau:
“Giả thuyết chung: sức mạnh của các bên liên quan bên ngoài của một
doanh nghiệp có liên quan với mức độ công bố thông tin môi trường của doanh
nghiệp.”
Nghiên cứu này đã chọn đại diện các bên liên quan bên ngoài của các
doanh nghiệp niêm yết, cụ thể là: (a) chính phủ, có khả năng can thiệp thông
qua các quy định, (b) các cổ đông là những người chủ yếu cung cấp vốn cho các
doanh nghiệp niêm yết, và (c) các chủ nợ, có khả năng cung cấp sức mạnh kinh
tế cho doanh nghiệp thông qua việc cho vay nợ.
4
Các giả thuyết có thể kiểm chứng cụ thể của các bên liên quan có thể
được giải thích như dưới đây.
Sức ép của
trường như ngành công nghiệp kim khí, công nghiệp hóa chất,… sẽ phải đối
mặt với những quy luật nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường. Các nghiên cứu
trước đây cho thấy rằng, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công
nghiệp nhạy cảm với môi trường thường công bố thông tin môi trường của
doanh nghiệp mình nhằm giảm thiểu hoặc tránh các biện pháp cưỡng chế của
Chính phủ, do đó đây là mối quan hệ tích cực. Do vậy, giả thuyết đầu tiên của
nghiên cứu này là:
5
Ha: Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nhạy cảm
với môi trường có nhiều khả năng công bố thông tin môi trường hơn so với
những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phi công nghiệp.
3.2.2. Hb: Sức mạnh cổ đông (SP)
Sức mạnh của cổ đông có thể được đo bằng cách định lượng mức độ sở
hữu cổ phần. Việc cổ phiếu của một doanh nghiệp phân tán rộng hơn, khả năng
doanh nghiệp công bố thông tin môi trường nhiều hơn. Điều này được thể hiện
qua giả thuyết Hb:
“Hb: Mức độ tập trung của các cổ đông trong doanh nghiệp ảnh hưởng
đến việc công bố thông tin môi trường doanh nghiệp.”
Trong nghiên cứu này, mức độ tập trung quyền sở hữu chứng khoáng
được đo bằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu với sở hữu vốn của 10 cổ đông hàng đầu.
Tập trung cổ phiếu cao hơn, SP sẽ khuyến khích các doanh nghiệp công bố
thông tin môi trường. Những dữ liệu về cổ đông được thu thập từ báo cáo hàng
năm của các doanh nghiệp niêm yết.
3.2.3. Hc: Sức ép chủ nợ (CP)
Sức ép chủ nợ được đo lường bằng khoản nợ mà doanh nghiệp đã vay.
Rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thị trường quan tâm đến tình hình của môi
trường doanh nghiệp khi đánh giá trách nhiệm môi trường và rủi ro vay nợ của
doanh nghiệp.
Số lượng mẫu
Tỷ lệ (%)
Khai thác mỏ
6
3.4
Hàng dệt may
9
5.1
Thực phẩm và đồ uống
9
5.1
Giấy
5
2.9
Dầu khí, hóa chất và nhựa
28
16
Điện tử
6
3.4
Kim loại và phi kim
26
14.9
Máy móc thiết bị
25
14.3
Dược phẩm
15
8.6
Phát điện
GP: nhận giá trị là 1 đối với các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp
nhạy cảm về môi trường; nhận giá trị là 0 nếu ngược lại;
SP: phần trăm cổ phần nổi của doanh nghiệp sở hữu bởi top 10 cổ đông tại thời
gian t;
CP: tỷ lệ trách nhiệm hữu tài sản của doanh nghiệp ở thời kỳ t;
LC: phần trăm của các nhân viên có trình độ giáo dục đại học trên tổng nhân
viên;
TUỔI: tuổi kể từ khi doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán
tại thời gian t;
PLACE: nhận giá trị là 1 đối với các doanh nghiệp trong khu vực ven biển phía
Đông, nhận giá trị là 0 nếu ngược lại;
ROE: lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ở thời kỳ t;
LSIZ: cập nhật nguồn tài nguyên thiên nhiên của doanh nghiệp ở thời kỳ t;
e: phần dư
4.3. Giải thích các biến
4.3.1. Biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc trong nghiên cứu này là mức độ EID doanh nghiệp. Việc
xác định mức độ EID của các mẫu dựa theo hướng dẫn của GRI và báo cáo đo
lường mức độ công bố thông tin môi trường của SEPA. Các mặt hàng, được đề
nghị theo hướng dẫn của GRI, gồm 5 đặc trưng chính và 30 chỉ số được xác
định từ vòng đời của sản phẩm. Chỉ có 9 mặt hàng được quy định cụ thể trong
thông báo của SEPA mà chủ yếu là liên quan đến các tác động môi trường của
8
quá trình sản xuất và các biện pháp kiểm soát ô nhiễm. Thích ứng với tình trạng
thực tế năng lực quản lý môi trường và tập trung ở Trung Quốc, sáu hạng mục
này được xác định để đánh giá mức độ EID của các mẫu. Các mặt hàng cốt lõi
theo hướng dẫn của GRI, các hạng mục theo quy định của SEPA và những hạng
mục được chọn cho nghiên cứu này được thể hiện trong Bảng 2.
6. Xử lý chất thải và tái chế sử dụng chất thải.
7. Tự nguyện thoả thuận với cơ quan môi trường để thực hiện cải thiện
8. Thông tin về các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
9. Thông tin khác liên quan đến việc công bố thông tin môi trường doanh nghiệp.
Các mục được lựa chọn trong nghiên cứu này
I1: Chính sách bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, chiến lược và mục tiêu.
I2: Tiêu thụ năng lượng, nước và các nguồn tài nguyên khác
I3: Phân loại, số lượng và tác động ảnh hưởng của khí thải, nước thải
I4. Tổ chức và hoạt động của cơ sở môi trường
I5. Đầu tư và chi phí kiểm soát ô nhiễm môi trường
I6. Thông tin khác liên quan đến môi trường
9
4.3.2. Biến độc lập
Nhắc lại khung phân tích và mô hình kinh tế lượng, biến độc lập GP, SP,
CP đại diện cho các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến mức độ EID. Thông qua
thực tiễn kinh tế, có thể xác định mỗi yếu tố này có thể giải thích cấp độ EID
được bao nhiêu .
Sức mạnh của chính phủ (GP) được định nghĩa như là một biến giả đại
diện cho sự nhạy cảm môi trường của ngành công nghiệp nơi mà doanh nghiệp
hoạt động, ví dụ: nhận giá trị là 1 đối với các doanh nghiệp hoạt động nhạy cảm
với môi trường và nhận giá trị là 0 đối với các doanh nghiệp không nhạy cảm.
Các ngành công nghiệp nhạy cảm với môi trường ở Trung Quốc bao gồm khai
thác mỏ, nhiệt điện, vật liệu xây dựng, bột giấy và sản phẩm từ giấy, luyện kim,
dầu khí, nhà máy bia, lên men, dệt may, dược phẩm, thuộc da và các ngành
công nghiệp hóa chất. Những ngành khác được coi là không thuộc ngành công
nghiệp nhạy cảm với môi trường. Phần trăm cổ phiếu thả nổi sở hữu bởi top 10
cổ đông được sử dụng như đại diện cho quyền lực cổ đông (SP). Đối với áp lực
(z= 0,816 trong thử nghiệm K-S và có thể vượt qua các kiểm nghiệm thông thường)
Bảng 3 : Tóm tắt thống kê các biến
4.3.3.4. Năng lực học tập (LC)
Năng lực học tập của một doanh nghiệp được cho là quan trọng để nâng
cao năng lực của nó. Trình độ học vấn của người lao động có thể cho thấy năng
lực của doanh nghiệp để tìm hiểu và thực hiện cách tiếp cận quản lý môi trường
mới.
4.3.3.5. Trả lại vốn chủ sở hữu (ROE)
Nghiên cứu này sử dụng yếu tố trả lại vốn chủ sở hữu (ROE) để trình
bày các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp niêm yết. ROE của năm trước
cũng được thu thập cho việc kiểm tra đánh giá tác động làm chậm hiệu suất
kinh tế đến mức EID.
5. Kết quả và thảo luận
5.1. Đánh giá kết quả cấp EDI
Khoảng 30% của 175 doanh nghiệp trong mẫu đã chỉ ra rằng đầu tư cho
môi trường và chi phí kiểm soát ô nhiễm của họ trong năm 2006. Gần 37%
trong tổng số mẫu mô tả nỗ lực về môi trường nhất định như chứng nhận
12
ISO14001 và kiểm toán minh bạch hơn, vv các doanh nghiệp dường như là
miễn cưỡng để nêu ra những tác động của họ đến môi trường như thông tin về
các loại khí thải, số lượng và các điểm đến. Chỉ có 15% số mẫu giải thích mục
tiêu và chính sách môi trường của họ. Điều này chỉ ra rằng các doanh nghiệp
Trung Quốc chưa kết hợp chiến lược phát triển kinh doanh với yếu tố môi
trường.
Về cấp độ phân phối của EDI, được trình bày dưới dạng chỉ số thông tin
môi trường được thể hiện trong hình.3. Gần 40% các doanh nghiệp trong mẫu
không công bố thông tin phổ biến nào liên quan đến môi trường. Theo kết quả
Tương quan hạng Pearson được sử dụng trong nghiên cứu này để khám
phá mối quan hệ giữa các yếu tố bên ngoài đã được xác định, đặc điểm của
doanh nghiệp và mức độ EID. Kết quả cho tương quan hạng Pearson được thể
hiện trong Bảng 4.
Chưa có dấu hiệu cho thấy có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc
lập và kiểm soát như hệ số tương quan cao nhất là 0.367 cho năng lực học tập
(LC) và sức ép chính phủ (GP). Mức độ gây hại của đa cộng tuyến được dự
kiến sẽ không trình bày cho đến khi hệ số tương quan đạt 0.8 hoặc đạt 0.9.Ma
trận tương quan trong Bảng 4 cũng cho thấy kết quả biến nhị phân giữa mức độ
EDI biến phụ thuộc và tất cả các biến độc lập. Kết quả chỉ ra rằng tác động của
GP là đáng kể và tích cực liên kết với EID mức p
nghịch biến hơi yếu với số điểm của mục này, có nghĩa là áp lực cổ đông mạnh
mẽ hơn, doanh nghiệp sẽ dè dặt hơn để công bố các chi phí môi trường.
5.6. Kiểm tra độ mạnh
Để kiểm tra độ mạnh của kết quả, hồi quy đa biến được tính toán lại cho
các cấp độ EID bằng cách sử dụng các giá trị độ trễ cho các biến liên tục lợi
nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và đăng nhập tự nhiên của tài sản (LSIZ),
năm 2005.
16
Bảng 7 Kết quả hồi quy cho EID cấp bởi dữ liệu trễ của năm 2005
6. Kết luận
Nghiên cứu này đã phát triển một bộ khung giữa các bên liên quan và
phân tích các hành vi công bố thông tin môi trường của các doanh nghiệp Trung
Quốc. Các kết quả thực nghiệm cung cấp những hiểu biết quan trọng vào các
yếu tố quyết định cho EID ở Trung Quốc. Mức độ nhạy cảm môi trường và quy
mô của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng chính ảnh hưởng đến EID. Hiệu suất
kinh tế là không đáng kể liên quan đến các hoạt động công bố thông tin môi
trường. Trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp Trung Quốc đang cung cấp
các thông tin về môi trường chủ yếu là để làm giảm bớt những mối quan tâm
của chính phủ.
Nghiên cứu này có một vài hạn chế như hạn chế về sự lựa chọn của các
bên liên quan và các giấy ủy quyền được thông qua, và kết quả có thể được sử
dụng như một tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn.
17
[12] Sharma S. Managerial interpretation and organizational context as
predictors of corporate choice of environmental strategy. Acad Manage J
2000;43(4): 681–97.
[13] Deegan C. Introduction – the legitimizing effect of social and
18
environmental disclosures – a theoretical foundation. Account Audit Account
J 2002;15(3):282–311.
[14] Shang HJ, Liu CC, Geng JX. Case study on current status of corporate
environmental information disclosure in China. Environ Prot 2007;4B:15–21
[in Chinese].
[15] Deegan C, Rankin M. Do Australian companies report environmental news
objectively? An analysis of environmental disclosure by firms prosecuted
successfully by the environmental protection authority. Account Audit Account
J 1996;9(2):52–69.
[16] Cormier D, Gordon IM. An examination of social and environmental
reporting strategies. Account Audit Account J 2001;14(5):587–616.
[17] Deegan C, Rankin M, Voght P. Firms’ disclosure reactions to major social
incidents: Australian evidence. Account Forum 2000;24(1):101–30.
[18] Li Y, Richardson G, Thornton D. Corporate disclosure of environmental
liability
information: theory and evidence. Contemp Account Res
1997;14(3):435–74.
[19] Cormier D, Magnan M. Corporate environmental disclosure strategies:
determinants, costs and benefits. J Account Audit Financ 1999;14(3):429–51.
[20] Bewley K, Li Y. Disclosure of environmental information by Canadian
manufacturing companies: a voluntary disclosure perspective. Adv Environ
Account Manage 2000;1:20126.
[21] Cormier D, Magnan M. Environmental reporting management: a European
[33] Roberts RW. Determinants of corporate social responsibility disclosure: an
application of stakeholder theory. Account Org Soc 1992;17(6):595–612.
[34] Freeman R. Strategic management: a stakeholder approach. Adv Strateg
Manage 1983;I:31–60.
[35] Chan C, Kent P. Application of stakeholder theory to the quantity and
quality of
Australian voluntary corporate environmental disclosures. Paper
presented to the Accounting and Finance Association of Australia and New
Zealand (AFAANZ). Brisbane, July 2003.
[36] Elijido-Ten E. Determinants of environmental disclosure in a developing
country: an application of stakeholder theory. Paper presented to the Asia
Pacific Interdisciplinary Research in Accounting (APIRA). Singapore, July
2004.
[37] Clarkson PM, Li Y, Richardson GD. The market valuation of
environmental capital expenditures by pulp and paper companies. Account Rev
2004.
[38] Hughes KE. The value relevance of non-financial measures of air pollution
in the electric utility industry. Account Rev 2000 April:209–28.
[39] Cormier D, Magnan M. Investors’ assessment of implicit environmental
liabilities: an empirical investigation. J Account Public Pol 1997;16:215–41.
[40] Wallace R, Naser K. Firm specific determinants of the comprehensiveness
of stock mandatory disclosure in the annual reports of firms listed on the stock
20
exchange of Hong Kong. J Account Public Pol 1995;14:311–68.
[41] SEPA (State Environmental Protection Administration). Announcement on
environmental protection auditing to the companies applying to be listed or for
refinancing. Available at: 2003 [accessed 28.05.08]
[in Chinese].