MỤC LỤC
STT Nội dung
Trang
Phần thứ nhất: Mở đầu
1
Đặt vấn đề
2
Mục tiêu
3
Phần thứ hai: Giải quyết vấn đề
2
Cơ sở lí luận
4
Thực trạng vấn đề
5
Các giải pháp để giải quyết vấn đề
7
thành tích cao trong các kì thi tuyển đại học, cao đẳng, trung cấp tương đối cao. Đã có
những gương mặt nổi trội trong các cuộc thi trên toàn quốc. Điều đó cho thấy, chất lượng
giáo dục học sinh dân tộc thiểu số trên cả nước được quan tâm, đầu tư rõ rệt. Bên cạnh
các mặt mạnh vẫn còn tình trạng học sinh nghỉ học, bỏ học dẫn đến chất lượng giáo dục ở
nhiều đơn vị chưa đạt kết quả mong muốn.
Trong các thành quả mà học sinh dân tộc thiểu số cả nước mang lại không thể thiếu
thành quả của học sinh người dân tộc Ê –đê. Mặc dù, các em còn nhiều khó khăn về ngôn
ngữ tiếng Việt, về vật chất nhưng các em đã không ngừng cố gắng học tập để vươn lên đạt
kết quả cao trong mỗi kì thi. Nhiều học sinh đã thành đạt trở về cống hiến cho quê hương,
bản làng. Ngoài ra, các em còn mang lại niềm tự hào cho quê hương, đất nước. Bên niềm
vui, niềm tự hào thì cũng có đôi chút nỗi lo lắng đối với số ít học sinh chưa có ý thức học
tập để vươn xa. Các em bỏ học, nghỉ học đi làm thuê hay theo cha mẹ đi nương rẫy. Nhiều
học sinh lớn tuổi không chịu đến trường. Các em đam mê chơi game, internet,... Một số
em tiếp thu còn hạn chế nên e ngại đi học. Nhà ở xa trường đi lại vất vả làm các em nản
chí. Bố mẹ chưa thực sự quan tâm đến việc học của con. Vì thế, các em đi học không
chuyên cần.
Bởi vậy “Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em tàn tật, khuyết tật,
trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong
cộng đồng.” là nhiệm vụ của tất cả các trường Tiểu học trên cả nước nói chung và trường
Tiểu học Tây Phong nói riêng. Hằng năm, nhà trường đã thực hiện tốt các cuộc điều tra,
phổ cập theo dõi tỉ lệ học sinh đến trường. Có kế hoạch vận động học sinh quá tuổi, bỏ
học đi học lại từ đầu năm học. Năm học 2018 – 2019, nhà trường đã và đang thực hiện
chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học mức độ 3. Để đạt được những tiêu chuẩn mà Bộ giáo
dục và Đào tạo nêu rõ tại Khoản 2, Điều 3, Điều lệ trường Tiểu học, cán bộ giáo viên nhà
trường đã nỗ lực hết mình thực hiện nhiệm vụ. Tỉ lệ học sinh bỏ học đã giảm nhưng học
sinh nghỉ học dài ngày, nghỉ học các buổi chiều vẫn diễn ra. Các em học buổi sáng, buổi
chiều nghỉ đi chăn bò, lượm điều, hái cà… hay nghỉ liên tục mấy ngày theo cha mẹ đi làm
ăn xa. Vì thế, các em tiếp thu bài chậm, chất lượng dạy – học không được nâng cao.
Chính vì các lí do đó mà giáo viên cần phải vận động học sinh đi học chuyên cần.
Vậy làm thế nào để có thể “vận động học sinh đi học chuyên cần, đầy đủ” lại là
Quyết định 775/QĐ-TTg 2018 phê duyệt Chương trình mục tiêu giáo dục cùng núi,
vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn giai đoạn 2016 – 2020. Chương trình đưa ra các
nhiệm vụ rõ ràng. Hỗ trợ trang thiết bị, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng các hạng
mục thiết yếu của các trường phổ thông dân tộc bán trú và các trường, điểm trường tiểu
học, trung học cơ sở công lập có học sinh bán trú tại các vùng có điều kiện kinh tế xã hội
đặc biệt khó khăn từ nguồn vốn sự nghiệp của ngân sách trung ương và địa phương; hỗ
trợ hoạt động giám sát, đánh giá, triển khai Chương trình . Hỗ trợ mua sắm bổ sung trang
thiết bị dạy học tối thiểu, bàn ghế học sinh cho 1.070 trường phổ thông dân tộc bán trú và
các trường, điểm trường tiểu học, trung học cơ sở công lập có học sinh bán trú tại các
vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Hỗ trợ sửa chữa, cải tạo, mở rộng, xây
dựng mới các hạng mục công trình, nâng cấp cơ sở vật chất hiện có đảm bảo tiêu chuẩn
3
quốc gia về yêu cầu thiết kế trường học cho 760 nhà ăn, nhà bếp, 760 khu ở nội trú của
trường phổ thông dân tộc bán trú và các trường, điểm trường tiểu học, trung học cơ sở
công lập có học sinh bán trú tại các vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.
Công văn số 3741/BGDĐT- GDDT ngày 24 tháng 8 năm 2018 của Bộ giáo dục và
Đào tạo về việc thực hiện nhiệm vụ năm học 2018 – 2019 đối với giáo dục dân tộc. Thực
hiện có hiệu quả các chính sách đã ban hành đối với giáo dục dân tộc; tiếp tục nghiên cứu,
đề xuất, điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ người dạy, người học và
cơ sở giáo dục ở vùng DTTS, MN. Nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng DTTS, MN.
Với đồng bào dân tộc thiểu số, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước không chỉ thể
hiện qua các Nghị định, chương trình, dự án mà còn bằng các chiến lược lâu dài như
Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm
2013. Ngày 14/ 3/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 402/QĐ – TTg
phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ, cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số
trong tình hình mới.
Căn cứ vào các văn bản quy định về chính sách nâng cao chất lượng giáo dục
HSDTTS, tôi nhận thấy mục đích Nhà nước đưa ra là phải xóa mù chữ cho học sinh, nâng
quản lí và giảng dạy nhưng tỉ lệ học sinh bỏ học, nghỉ học vẫn diễn ra. Tuy tỉ lệ khoảng 12% nhưng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục. Đối tượng bỏ học, nghỉ học hầu hết
là HSDTTS ở điểm trường buôn Cuê. Do gia đình các em sống xa phân hiệu, có những hộ
ở xa trường khoảng 3 đến 4km, khó khăn cho việc đi lại. Các em chủ yếu đi bộ đến
trường nên sáng đi học, chiều nghỉ là chuyện có thể xảy ra. Một số con đường trong buôn,
rẫy là đường đất, mùa mưa bất lợi cho việc đi lại. Ngoài ra, kinh tế gia đình học sinh còn
gặp nhiều khó khăn, nương rẫy ít sống chủ yếu làm thuê, làm mướn. Vì vậy mà học sinh
có thể nghỉ học cả tháng, cả tuần theo cha mẹ đi làm thuê ở xa. Một số học sinh lớn tuổi
bỏ học theo anh chị đi làm công nhân ở Sài Gòn. Số ít thì ở nhà chăn bò, trông em hay
chơi game. Nhìn chung, bố mẹ của các em chưa thật sự quan tâm đến việc học của con.
Họ đang nặng về lo cơm, áo, kinh tế gia đình. Một số học sinh chưa ham học, thích kiếm
tiền, chơi bời.
Qua nhiều năm giảng dạy tại điểm trường buôn Cuê, tôi nhận thấy, học sinh vẫn
phải lo kinh tế gia đình. Tình trạng nghỉ học, bỏ học diễn ra theo mùa vụ. Nhiều học sinh
theo cha mẹ đi làm thuê xa hoặc ở nhà trông em để bố mẹ đi làm. Sau dịp Tết Nguyên
Đán, tình trạng nghỉ học kéo dài của các em diễn ra khắp các khối lớp.
Theo dõi hai năm học gần đây, tôi thấy tỉ lệ học sinh nghỉ học ở khối lớp 4 điểm
trường buôn Cuê như sau:
Tình trạng
Học sinh nghỉ học dài ngày
Học sinh nghỉ học theo buổi
Năm học
2016 - 2017
2017 - 2018
2016 - 2017
2017 - 2018
TSHS
20
Nghỉ học là một trong những nguyên nhân đẩy lùi chất lượng giáo dục, phát sinh
các tệ nạn xã hội ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách, sức khỏe con người. Vậy làm thế nào
để học sinh đi học chuyên cần, không bỏ học lại là vai trò rất lớn của người GVCN.
5
Trước hết, bản thân tôi tìm hiểu qua GVCN cũ: Trao đổi với GVCN cũ về tình hình
học tập, đặc điểm, tâm lí của học sinh trong năm học qua. Ghi chép các điểm nổi bật của
từng học sinh vào sổ tay. Từ đó, nắm được tính cách, tâm sinh lí của các em. Để có biện
pháp rèn luyện, giáo dục. Tránh làm tổn thương đến học sinh. Chẳng hạn, với những học
sinh cá biệt nên nhẹ nhàng dùng lời khen nhiều trong các tiết học. Với học sinh nhút nhát,
GVCN nên linh động tâm sự, trò chuyện hoặc tham gia chơi các trò chơi cùng các em sau
giờ giải lao.
Tiếp đến, tìm hiểu qua CMHS: Gặp gỡ cha mẹ học sinh để tìm hiểu về thói quen
sinh hoạt, tâm lí ở nhà của các em, đặc biệt là những học sinh hay nghỉ học. Vào từng gia
đình thăm hỏi hoàn cảnh kinh tế, cuộc sống của phụ huynh học sinh. Nắm bắt tình hình
thực tế để có kế hoạch giúp đỡ kịp thời. Với những học sinh quá khó khăn, cần đề xuất về
trường hỗ trợ các vật dụng thiết yếu phục vụ học tập như: sách, vở, cặp, áo quần… xin
hoặc phát động học sinh, giáo viên quyên góp quần áo cũ, sách cũ giúp đỡ học sinh.
Chẳng hạn, năm học 2016 – 2017 kết quả tìm hiểu như sau:
TT
Họ và tên
Nguyên nhân nghỉ học
1
Y Khôi Bdap
6
III.2. Giải pháp 2: Đổi mới hình thức và phương pháp dạy học.
Với các hình thức, phương pháp dạy học truyền thống có thể làm học sinh nhàm
chán với việc học. Vì vậy, đổi mới là việc hết sức quan trọng. Đổi mới trên tinh thần vận
dụng linh hoạt, khoa học các thế mạnh của phương pháp cũ. Nhằm thu hút, lôi cuốn học
sinh vào các giờ học. Học sinh hứng thú đến trường, tiếp thu một cách chủ động và khắc
sâu kiến thức.
Giáo viên thành lập các đội, nhóm học theo năng khiếu, đam mê để rèn luyện vào
các tiết luyện buổi chiều. Ví dụ, nhóm Toán gồm những học sinh thích toán, nhóm văn
gồm những học sinh yêu thích môn Tập làm văn, nhóm chữ đẹp gồm những học sinh
thích rèn chữ. Tất cả học sinh trong lớp tự tin với khả năng của mình. Cuối tháng, vào các
giờ tăng cường tiếng Việt và tăng cường Toán, GV tổ chức thi giữa các nhóm. Kết quả
được tất cả học sinh đánh giá, bình chọn. Phần thưởng được trao trước lớp. Ngoài ra, tổ
chức các cuộc thi nhỏ trong lớp như: kể chuyện, đọc sách, rung chuông vàng, giao lưu
tiếng Việt,… Yêu cầu học sinh chuẩn bị nội dung, kiến thức trong sách thi diễn vào một
buổi chiều cuối tuần trong tháng. GV sử dụng máy chiếu, loa, trang phục cho học sinh
thực hiện. Trong các tiết dạy, GV sử dụng trình chiếu các hình ảnh, câu chuyện có tính
giáo dục cao với học sinh. GV hướng dẫn HS trang trí lớp học thân thiện thể hiện nét đẹp
văn hóa của người đồng bào.
Ngoài ra, GV phân nhiệm vụ cho những học sinh có năng khiếu kèm cặp, giúp đỡ
học sinh còn hạn chế. GV thường xuyên tâm sự, nói chuyện với các em về hoàn cảnh gia
đình, tình hình học tập để học sinh mạnh dạn trao đổi các vướng mắc. Trong các tiết dạy
thường xuyên sử dụng các trò chơi học tập: đố bạn, tiếp sức…thảo luận nhóm 2, 3, 4 về
các nội dung trong bài.
Chẳng hạn, trong hoạt động 2, tìm hiểu nhà rông bài “Một số dân tộc ở Tây
Nguyên” Địa lí lớp 4 GV trình chiếu các hình ảnh về nhà rông để học sinh hiểu hơn.
7
Lớp
1
Y RiAm Byă
4C
2
Y Chon Niê
4C
3
H May Nga Byă
4C
2. Phối kết hợp với Đoàn thanh niên và tổng phụ trách Đội
Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp để tạo hứng thú giúp học sinh đến trường.
Trong những năm qua, nhân dịp các ngày lễ, Đoàn thanh niên, Đội đã tổ chức các hoạt
động như:
8
- Trò chơi dân gian: kẹp bóng, cô Tấm nhặt đậu, bao bố, đi xe đạp chậm, cướp cờ,
….nội dung các trò chơi phù hợp với từng khối lớp. Học sinh hào hứng với các trò chơi.
Ba
- Tổ chức các trò chơi, đọc sách báo ngoài trời, diễn kịch theo sách vào các tiết
hoạt động tập thể.
9
Một số hình ảnh thi Diễn kịch theo sách
Cùng với Tổng phụ trách đội, tổ chức các phong trào thi đua: Kế hoạch nhỏ, Áo
trắng tặng bạn, Tết sum vầy, Nuôi heo đất…rèn cho học sinh kĩ năng tự giác, biết dành
tình yêu cho các bạn. Kết quả một số phong trào Đội năm 2017 – 2018 của lớp 4C như sau:
TT
Phong trào
Học kì I
Học kì II
1
Nuôi heo đất
70.000đ
100.000đ
2
nhóm trong lớp học. Với môn Mĩ thuật, tổ chức cho học sinh trang trí lớp học, góc học
của nhóm theo ý tưởng.
5. Phối hợp với trưởng buôn
Trưởng buôn là người đứng đầu trong một buôn. Họ là người có uy tín nhất buôn,
được mọi người trong buôn ủy thác các trách nhiệm quan trọng. Chính vì thế mà để giúp
học sinh trong buôn đi học chuyên cần, GVCN cần đến nhà gặp trưởng buôn trao đổi tình
hình học sinh trong lớp; thông báo cho trưởng buôn những học sinh hay nghỉ học, có dấu
hiệu bỏ học; nhờ trưởng buôn, tuyên truyền đến phụ huynh vai trò của việc học, trách
nhiệm của cha mẹ trong các buổi họp buôn. Với những học sinh nghỉ học dài ngày, có dấu
hiệu bỏ học, trưởng buôn đến từng nhà học sinh tìm hiểu lí do, ý kiến của cha mẹ; trao
đổi, động viên học sinh đi học lại. GV tham mưu với trưởng buôn tạo điều kiện giúp đỡ
những HS có hoàn cảnh khó khăn. Năm học 2017 – 2018, đã vận động được Y Thuôk
Byă, Y Chiêu Êban hay nghỉ học, có chiều hướng bỏ học đi học lại.
Bằng những việc làm trên, bản thân tôi đã giúp học sinh có ý thức hơn trong việc
học. Học sinh tự giác đi học lại, bố mẹ quan tâm nhiều hơn đến việc học của con. Chất
lượng học tập của các em được nâng cao hơn. Các em biết đọc 100%, làm tốt các phép
tính đơn giản; biết yêu thương bạn bè, quý trọng thầy cô.
IV. Tính mới của giải pháp:
Trước đây, làm chủ nhiệm tại phân hiệu buôn Cuê bản thân tôi luôn tự mình đến
nhà học sinh để vận động; tự mình kèm cặp học sinh trong lớp, trang trí lớp học theo kiểu
mình thích; luôn lo lắng chất lượng của các em nhưng chỉ chú trọng vào dạy kiến thức
trong sách giáo khoa; chưa dám thực hiện việc dạy kĩ năng, kiến thức bên ngoài. Giờ đây,
bản thân tôi đã mạnh dạn thực hiện các hoạt động dạy học ngay tại lớp; biết phối hợp với
nhà trường, các tổ chức trong việc vận động học sinh; tự tin đổi mới các hình thức và
phương pháp dạy học. Với các việc làm trên, tôi thấy học sinh vui khi đi học, mong muốn
được đi học nhiều hơn ở nhà. Hiện nay, trường tôi tổ chức dạy học 9 buổi/tuần các em ít
bỏ buổi hơn, không có trường hợp nghỉ học dài ngày ở nhà vào dịp mùa.
V. Hiệu quả của sáng kiến
Các giải pháp bản thân tôi đưa ra ở trên đã đem lại kết quả mong đợi. Không chỉ,
giảm thời gian cho giáo viên phải đến nhà học sinh như trước đây mà giáo viên yên tâm
20
2
10
1
5
2017 - 2018
17
1
5,9
0
0
2016 - 2017
20
2
10
- Tình yêu trẻ, yêu nghề mãnh liệt.
2. Nhà trường
Khuyến khích hơn nữa các phong trào dành cho HSDTTS.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân trong công tác vận động học sinh dân
tộc thiểu số lớp 4 đi học chuyên cần tại phân hiệu Buôn Cuê, trường Tiểu học Tây Phong.
Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để những kinh nghiệm trên
được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
12
Băng Adrênh, ngày 20 tháng 3 năm 2019
Người viết:
Nguyễn Thị Thanh Mến
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
Cụm từ
Viết tắt
1
Giáo viên chủ nhiệm
GVCN
7
GV
Giáo viên
8
HS
Học sinh
13
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
14
UBND HUYỆN KRÔNG ANA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM