TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ ĐẶC BIỆT 11. 2015
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƢỚNG MỚI CHO GIAI ĐOẠN 2016 - 2020
Lƣơng Đức Danh1
TÓM TẮT
Trong giai đoạn 2011 - 2015, chính sách tài khóa đã được điều chỉnh theo hướng
thắt chặt chi tiêu, cơ cấu lại các khoản chi, đặc biệt là chi đầu tư công. Trong khi đó, chính
sách thuế lại được thực hiện theo hướng miễn, giảm, gia hạn một số sắc thuế nhằm tháo gỡ
khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Bài viết đánh giá những tác động
của chính sách tài khóa đến cân đối ngân sách nhà nước (NSNN), đầu tư và khu vực sản
xuất, kinh doanh và đề xuất một số định hướng mới cho giai đoạn 2016 - 2020.
Từ khóa: Chính sách tài khóa
1. MỞ ĐẦU
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015 cho thấy, nhiệm vụ tài
chính - ngân sách giai đoạn này là hết sức nặng nề. Chính sách tài khóa phải đồng thời thực
hiện mục tiêu huy động, phân phối, quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và
ngoài nƣớc, tăng cƣờng tiềm lực tài chính quốc gia, đảm bảo an ninh tài chính, góp phần
tích cực ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, phát triển bền vững với mức tăng trƣởng
hợp lý, vừa phải giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trong tình hình
mới. Vì vậy, vấn đề cấp thiết là phải có định hƣớng và tầm nhìn chiến lƣợc cho chính sách
tài khóa ở Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Kết quả thực hiện chính sách tài khóa ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015
Chính sách tài khóa trong kinh tế học vĩ mô là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tƣ
công cộng để tác động tới nền kinh tế. Chính sách tài khóa cùng với chính sách tiền tệ là
các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng, nhằm ổn định và phát triển kinh tế. Chính sách tài
khóa đƣợc điều hành theo hai hƣớng đó là khi nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái, nhà
nƣớc có thể giảm thuế, tăng chi tiêu (đầu tƣ công cộng) để chống lại. Chính sách tài chính
nhƣ thế gọi là chính sách tài khóa nới lỏng. Ngƣợc lại, khi nền kinh tế ở tình trạng lạm phát
chính trong lĩnh vực thuế, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các
luật về thuế, trong đó mở rộng ƣu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn/điều chỉnh phƣơng
thức xác định một số khoản thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng… theo hƣớng tạo
thuận lợi cho ngƣời nộp thuế. Ƣớc tính tổng số thuế hỗ trợ cá nhân, doanh nghiệp năm
2015 khoảng 3.900 - 4.000 tỷ đồng và mỗi năm tăng chi khoảng 1.300 tỷ đồng từ Quỹ
hoàn thuế để thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng. Dự kiến cả giai đoạn 2011 - 2015, tổng
các khoản giảm thu ngân sách do các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế khoảng 85.000
tỷ đồng.
Kết quả thực hiện các chính sách trên đã làm giảm tỷ lệ động viên từ thuế, phí, lệ phí
so với GDP từ 26% bình quân giai đoạn 2006 - 2010 xuống còn 23% bình quân giai đoạn
2011 - 2014, trong đó tỷ lệ động viên giảm tƣơng đối nhanh từ 25% năm 2011 xuống 21%
năm 2014 và sẽ duy trì trong năm 2015. Chính sách thắt chặt chi tiêu đã đạt đƣợc những
kết quả tích cực, nhƣng thâm hụt ngân sách vẫn đang diễn ra với quy mô lớn, do thực hiện
mục tiêu ƣu tiên tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trƣờng, thúc đẩy sản xuất,
kinh doanh. Chính sách tài khóa đã chuyển từ trực tiếp sử dụng NSNN để đầu tƣ vào nền
kinh tế sang gián tiếp thúc đẩy đầu tƣ của khu vực doanh nghiệp thông qua các biện pháp
giảm tỷ lệ động viên vào ngân sách, qua đó tăng tiết kiệm và đầu tƣ của khu vực tƣ nhân.
- Cơ cấu lại chi đầu tƣ song song với khuyến khích đầu tƣ tƣ nhân. Giai đoạn 2001 2010, nền kinh tế Việt Nam tăng trƣởng chủ yếu dựa vào đầu tƣ, tỷ trọng vốn đầu tƣ trong
GDP bình quân cả giai đoạn là 38,7%, trong đó vốn đầu tƣ từ khu vực kinh tế nhà nƣớc
chiếm tỷ trọng lớn. Bình quân giai đoạn 2001 - 2010, vốn đầu tƣ từ khu vực kinh tế Nhà
nƣớc chiếm 46% tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội, trong đó vốn đầu tƣ từ NSNN chiếm 23,4%,
vốn tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc chiếm 11%, vốn đầu tƣ từ doanh nghiệp nhà nƣớc
22
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ ĐẶC BIỆT 11. 2015
(DNNN) và vốn khác chiếm 11,6%. FDI chiếm bình quân 20,3% và vốn đầu tƣ từ dân cƣ
và khu vực tƣ nhân chiếm bình quân 33,7% trong cùng giai đoạn.
23
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ ĐẶC BIỆT 11. 2015
vốn dẫn đến lãng phí nguồn lực xã hội. Mức vốn bình quân một dự án đã tăng từ 9,54 tỷ
đồng năm 2012 lên 10,68 tỷ đồng năm 2013 và 11,04 tỷ đồng năm 2014.
Nhƣ vậy, có thể thấy một mặt việc áp dụng các chính sách miễn, giảm, gia hạn thời
hạn nộp thuế đã có tác động tích cực đến tiết kiệm và đầu tƣ của khu vực tƣ nhân. Mặt
khác, việc cơ cấu lại đầu tƣ công, tập trung vào những dự án trọng điểm có tầm quan trọng,
có tác động lan tỏa thay thế cho cơ chế đầu tƣ dàn trải, phân tán trƣớc đây đã góp phần đƣa
nguồn vốn NSNN trở thành “vốn mồi”, kích thích các nguồn vốn khác trong nền kinh tế và
hạn chế tình trạng lấn át đầu tƣ tƣ nhân.
- Chính sách tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc cũng đƣợc điều chỉnh theo hƣớng thu hẹp
phạm vi cho vay, tập trung vào những dự án trọng điểm. Hiện nay, chính sách tín dụng đầu
tƣ của Nhà nƣớc đƣợc thực hiện thông qua hoạt động cho vay của Ngân hàng Phát triển
Việt Nam (VDB) và các quỹ đầu tƣ phát triển địa phƣơng. Chính sách tín dụng đầu tƣ qua
VDB đƣợc thực hiện theo quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP, ngày 30/8/2011 về
tín dụng đầu tƣ và tín dụng xuất khẩu của Nhà nƣớc với đối tƣợng vay vốn tín dụng đầu tƣ
đã đƣợc thu hẹp lại so với quy định trƣớc đó. Theo đó, các dự án đầu tƣ cơ sở giết mổ, chế
biến gia súc, gia cầm tập trung; dự án sản xuất Alumin, sản xuất nhôm kim loại, sản xuất
động cơ diezen; dự án đóng mới toa xe đƣờng sắt và lắp ráp đầu máy xe lửa; dự án đầu tƣ
sản xuất DAP và phân đạm không còn thuộc đối tƣợng đƣợc vay vốn tín dụng đầu tƣ của
Nhà nƣớc.
2.2. Một số hạn chế trong thực hiện chính sách tài khóa giai đoạn 2011 - 2015
Một là, những rủi ro của ngân sách nhà nước/chủ sở hữu là nhà nước, rủi ro của tài
chính quốc gia từ khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn còn tiềm ẩn. Nguyên nhân
là do tình hình tài chính của nhiều DNNN quá khó khăn, rủi ro từ các khoản vay có bảo
lãnh của Chính phủ, các khoản Chính phủ vay về cho vay lại, vay ƣu đãi có hỗ trợ lãi suất,
Quốc hội là huy động trái phiếu chính phủ với kỳ hạn dài hơn, thì dự báo việc huy động
này sẽ có những thách thức nhất định trong thời gian tới, đặc biệt là chi phí huy động vốn.
Ba là, trong cơ cấu nợ công, nợ Chính phủ đang chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tỷ lệ
tƣơng đối cao so với một số nƣớc trong khu vực với tỷ trọng dƣ nợ Chính phủ trong tổng
nợ công giai đoạn 2011 - 2015 khoảng 78%. Những năm gần đây, tỷ lệ nợ công so GDP
tăng nhanh, từ 51,7% GDP năm 2010 lên 59,3% GDP năm 2014. Tốc độ tăng nợ công
trung bình giai đoạn 2011 - 2014 là 21%/năm, trong khi tốc độ tăng thu NSNN trung bình
cùng kỳ là 9,7%/năm. Với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và dự toán NSNN năm 2015 đã đƣợc
Quốc hội thông qua, thì dự kiến nợ công đến cuối năm 2015 khoảng 2.869 nghìn tỷ đồng,
bằng 64% GDP; dƣ nợ Chính phủ khoảng 48,9% GDP và dƣ nợ nƣớc ngoài của quốc gia
khoảng 42,6% GDP (Biểu đồ 2). Thêm vào đó, cơ cấu chi NSNN còn chƣa hợp lý với tỷ
trọng chi thƣờng xuyên những năm gần đây có xu hƣớng tăng nhanh. Số ngƣời hƣởng
lƣơng từ NSNN cũng tăng cho thấy kết quả của quá trình cải cách hành chính, tinh giản
biên chế chƣa đạt yêu cầu. Ngoài ra, do ảnh hƣởng của suy thoái kinh tế nên nhu cầu chi
cho đảm bảo an sinh xã hội, chi hỗ trợ đối tƣợng chính sách, đối tƣợng nghèo tăng. Cơ chế
tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp chậm đƣợc đổi mới dẫn đến hiệu quả sử dụng nguồn
lực tài chính NSNN trong khu vực sự nghiệp còn hạn chế, việc thực hiện lộ trình giá dịch
vụ, xã hội hóa đối với các dịch vụ sự nghiệp công còn nhiều khó khăn, vƣớng mắc.
2.3. Một số định hướng chính sách tài khóa ở Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020
Bối cảnh tình hình kinh tế - chính trị trong nƣớc và thế giới còn nhiều khó khăn, khó
lƣờng, với kinh tế thế giới vẫn tăng trƣởng chậm, kinh tế châu Âu chƣa phục hồi, xung đột
địa chính trị ở một số khu vực, đặc biệt giá dầu thế giới giảm, yếu tố kinh tế Trung Quốc...
đang đặt ra nhiều thách thức lớn cho Việt Nam trong điều hành chính sách tài khóa. Hiện
nay, không gian chính sách tài khóa đã chật hẹp, chi NSNN đã ở mức cao, các chính sách
miễn, giảm thuế đã đƣợc thực hiện trên diện rộng, bội chi đã vƣợt mục tiêu đề ra, nợ công
cũng tiệm cận mức trần Quốc hội cho phép. Vì vậy, để đạt đƣợc các mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội, thì trong thời gian tới cần phải dựa vào các chính sách khác để phát triển
bền vững, nhƣ: chính sách tiền tệ, tín dụng; chính sách điều chỉnh cơ cấu xuất - nhập khẩu
để phát triển nền sản xuất có khả năng cạnh tranh cao; bên cạnh đó cần có biện pháp huy
động các nguồn lực của khu vực tƣ nhân và nguồn tiết kiệm trong dân cƣ để phát triển kinh
địa để bù đắp giảm thu ngân sách từ dầu thô và thu từ xuất - nhập khẩu. Về trung và dài
hạn cần rà soát các chính sách thu, nghiên cứu ban hành các chính sách thu nội địa khác,
nhƣ: thuế tài sản/thuế bất động sản để giảm sự phụ thuộc của NSNN vào nguồn thu từ dầu,
tăng cƣờng sự bền vững của thu ngân sách.
Thứ năm, đẩy nhanh việc thực hiện cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công
lập. Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, ngày 14/02/2015 và Nghị quyết số 77/NQ-CP, ngày
24/10/2014. Qua đó, từng bƣớc điều chỉnh cơ chế giá dịch vụ sự nghiệp công cũng nhƣ cơ
chế phân bổ ngân sách cho khu vực sự nghiệp công, tăng cƣờng tính tự chủ của khu vực
này để cơ cấu lại chi NSNN, chuyển từ cơ chế bao cấp cho đơn vị cung cấp dịch vụ sang
hỗ trợ trực tiếp cho các đối tƣợng thụ hƣởng thuộc diện chính sách để đảm bảo cơ hội tiếp
cận dịch vụ sự nghiệp công cho ngƣời nghèo…
Thứ sáu, nâng cao tín nhiệm quốc gia trên thị trường vốn quốc tế. Là điều kiện thuận
lợi cho việc cơ cấu lại danh mục nợ công theo hƣớng tăng kỳ hạn và giảm lãi suất trái
phiếu chính phủ, góp phần tăng tính an toàn và bền vững nợ công.
26
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ ĐẶC BIỆT 11. 2015
3. KẾT LUẬN
Trong giai đoạn 2011 - 2015, Chính sách tài khóa ở Việt Nam đã đƣợc Quốc hội,
Chính phủ điều chỉnh theo hƣớng tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ thị
trƣờng thông qua các biện pháp miễn, giảm, gia hạn thời gian nộp thuế. Cơ cấu lại chi đầu
tƣ song song với khuyến khích đầu tƣ tƣ nhân, thắt chặt chi tiêu, giảm đầu tƣ công, chú
trọng đầu tƣ vào những dự án trọng tâm, trọng điểm có tầm quan trọng. Tuy nhiên, trong
giai đoạn này chính sách tài khóa còn nhiều hạn chế nhƣ cơ cấu chi ngân sách nhà nƣớc
còn chƣa hợp lý với tỷ trọng chi thƣờng xuyên có xu hƣớng tăng nhanh. Tốc độ tăng nợ
công nhanh hơn tốc độ thu ngân sách, tình trạng thất thoát, tham ô, tham nhũng đối với các
dự án đầu tƣ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Vì vậy, cần có những định hƣớng, chiến lƣợc
orientations for period of 2016 - 2020.
Keywords: Fiscal policies
27