TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
---------***--------
TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ 2
MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT
MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở NEW ZEALAND
Nhóm: 2
Lớp: KTE402.1
Khóa: 56
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Hồng
Hà Nội, tháng 3 năm 2019
0
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC 1
TIÊU ……………………………………………………………………………………...
1.1 Khái niệm…………………………………………………………………………….
1
1.2 Lý do áp dụng………………………………………………………………………...
1
1.3 Điều kiện áp dụng……………………………………………………………………
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU Ở 1
NEW ZEALAND………………………………………………………………………… 2
2.1 Giới
thiệu
3.1.2Cơ sở hạ tầng kỹ thuật…………………………………………………………………..
8
3.1.3Độ lành mạnh của hệ thống tài chính…………………………………………………
3.1.4Cấu trúc kinh tế…………………………………………………………………………..
8
3.2 Giải pháp thực hiện chính sách LPMT ở Việt Nam………………………………..
8
3.2.1Nâng cao tính độc lập của NHNN……………………………………………………..
9
3.2.2Cải thiện cơ sở hạ tầng kĩ thuật………………………………………………………..
3.2.3Nâng
cao
độ
lành
mạnh
của
cấu
trúc
kinh
9
tế………………………………………...
9
3.2.4Xây dựng lộ trình hợp lý trước và sau khi thực hiện chính
9
sách………………......
10
10
1
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian qua, lạm phát cao luôn là mối đe dọa cho sự phát triển lâu dài và bền
vững cho nền kinh tế của một quốc gia.Lạm phát cao có thể dẫn đến suy thoái kinh tế, ảnh
hưởng mọi mặt đời sống xã hội.Vì vậy, mỗi quốc gia đều tìm cho mình chính sách riêng để
kiểm soát mức độ lạm phát, đảm bảo sức mạnh của đồng tiền quốc gia.Tuy nhiên, cũng có
những quốc gia đã và đang phải trải qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế, mà một trong những
nguyên nhân quan trọng đó là lạm phát cao, lạm phát đạt đến 2-3 con số. Do đó, ngay từ
những năm 1990, đã có những quốc gia đề ra chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu để kiểm
soát mức độ lạm phát, một trong số nước đầu tiên áp dụng chính sách này là New Zealand.
Chính sách này cho phép chính phủ đặt ra mức lạm phát mục tiêu trong tương lai, nhờ đó
người dân có cơ sở để đặt niềm tin cho một nền kinh tế khỏe mạnh.Thực tế là New Zealand
đã khá thành công khi áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu một cách khoa học và có tính
toán.
Áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu là một trong những bước đi thông minh giúp đất
nước thoát khỏi tình trạng lạm phát cao, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, có phải
quốc gia nào cũng có thể áp dụng chính sách này hay không thì chúng ta phải xem xét kĩ đến
các điều kiện cần và đủ để thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu. Vì vậy, trong bài tiểu luận
“ Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và tăng trưởng kinh tế ở New Zealand” này, chúng ta
sẽ phân tích tại sao New Zealand có thể thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu thành công
như vậy, và tác động của chính sách lên tăng trưởng kinh tế như thế nào; đồng thời đưa ra
phân tích mối liên hệ, giải pháp khi thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam
tương ứng với 3 chương trong bài tiểu luận dưới đây:
Chương 1: Tổng quan lý thuyết về chính sách lạm phát mục tiêu.
Chương 2: Thực trạng áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu ở New Zealand.
Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
ổn định lâu dài các biến số vĩ mô khác như việc làm, tăng trưởng…
Tất cả yếu tố trên là điều mà những quốc gia đang chịu ảnh hưởng cú sốc khủng hoảng tài
chính – tiền tệ hay các quốc gia có kỳ vọng về một CSTT hiệu quả hơn cần.
1.3 Điều kiện áp dụng
Tuy nhiều ưu điểm đáng chú trọng như vậy nhưng để áp dụng chính sách LPMT một cách
thành công đòi hỏi 4 yếu tố: tính độc lập, tính kỹ thuật, tính lành mạnh và tính phù hợp.
- Tính độc lập: Trước hết, đó phải là là quốc gia có bộ máy NHTW độc lập tương đối với
Chính phủ. Điều này thể hiện ở việc NHTW tự quyết định lựa chọn CSTT để hoạch định, thực
thi và tự chủ động trong điều tiết cung tiền.Bên cạnh đó, chính sách tài khóa (CSTK) không
được chi phối lên CSTT. Cuối cùng, việc bổ nhiệm hay miễn nhiệm bất kì chức vụ nào trong
NHTW kể cả Thống đốc ngân hàng Chính phủ cũng không được can thiệp.
1
- Tính kỹ thuật ở đây được thể hiện bởi hệ thống cơ sở dữ liệu và năng lực dự báo. Hệ thống
cơ sở dữ liệu bao gồm tất cả các biến số vĩ mô trong đó có chỉ số lạm phát qua các thời kì từ quá
khứ. Mọi số liệu cần được cập nhật liên tục và chính xác bởi nó là cơ sở dự báo trực tiếp đến chỉ
số LPMT. Bên cạnh đó, để dự báo một cách chính xác và có căn cứ cần dựa vào các công cụ
kinh tế lượng xử lý dữ liệu và một nguồn nhân lực chất lượng có khả năng phân tích, nhìn nhận
một cách định tính để đưa ra quyết định cuối cùng.
- Tính lành mạnh thể hiện ở hệ thống tài chính vững vàng, kỉ cương rõ ràng và cạnh tranh
lành mạnh. Hệ thống tài chính đòi hỏi không chỉ một thị trường tiền tệ hoạt động hiệu quả mà
còn cần một thị trường vốn an toàn.
- Tính phù hợp ở đây đề cập đến một nền kinh tế đã chuẩn bị sẵn sàng mọi ưu tiên trên hết
cho chính sách LPMT. Điều đó đồng nghĩa với những biến số vĩ mô khác không thể cố định an
toàn mà phải linh động theo. Ví dụ như quốc gia đó phải thả nổi tỷ giá hối đoái hoàn toàn hoặc
trong một mức biên độ; hay chính sách mở cửa nền kinh tế cũng phải được kiểm soát. Khi quốc
gia mở cửa nền kinh tế, chính sách thương mại càng ngày sẽ càng theo hướng tự do hóa, điều
này ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả trong nước, từ đó không thể kiểm soát được mức lạm phát.
4
2
0
1978 1979 1980 1981 1982 1983 1984 1985 1986 1987 1988 1989
Để đối đầu với lạm phát mà không phải đánh đổi quá lớn với tỷ lệ thất nghiệp,
chính phủ New Zealand đã dùng đến những biện pháp mạnh tay trong đó có việc “đóng
băng” giá cả và lương (a price and wage freeze) từ năm 1982 đến năm 1984. Bên cạnh đó,
chiến lược “Big Think” ra đời, thực hiện đầu tư trên diện rộng vào ngành công nghiệp năng
lượng, với mong muốn giảm gánh nặng chi phí nhập khẩu nhiên liệu và cân bằng cán cân
thanh toán. Tuy nhiên chiến lược này thất bại do giá dầu giảm trong những năm 80 và thiếu
kinh phí. Những sai lầm trong chính sách đã khiến tình hình nền kinh tế New Zealand không
mấy cải thiện.
Năm 1984, chính phủ mới do Đảng Lao động lên nắm quyền sau cuộc bầu cử
giữa 1984. Chính phủ này đã thực hiện một cuộc cải cách sâu rộng nền kinh tế (điều này sẽ
được đề cập rõ hơn ở phần sau).Đó cũng chính là tiền đề để New Zealand chính thức đưa vào
thực hiện chính sách LPMT với Đạo luật Ngân hàng Dự trữ (Reserve Bank Act 1989).New
Zealand trở thành nước đầu tiên chính thức sử dụng công cụ LPMT để kiềm chế lạm phát.
2.1.2 Các giai đoạn thực hiện chính sách
Ngày nay, đa phần các quốc gia phát triển đều có tỷ lệ lạm phát thấp tương đối, thậm chí
nhiều quốc gia còn có chính sách LPMT khá tương đồng và coi đó là điều không thể
thiếu.Tuy nhiên, cách đây 10 – 15 năm, tỷ lệ lạm phát cao và thay đổi thất thường là điều
không hề xa lạ.New Zealand là quốc gia đi tiên phong trong việc thực hiện chính sách LPMT,
đưa lạm phát về mức thấp và ổn định giá cả.Nhưng nó đã phải trải qua cả một quá trình
chuẩn bị và thay đổi dần dần, phát triển từng bước mới có thể thành công.
2.1.2.1 Giai đoạn 1 (1984-1990)
Ngay sau cuộc cải cách năm 1984, lạm phát được dự báo sẽ tăng mạnh nên New
Zealand đã bắt đầu lên kế hoạch giảm lạm phát một cách bền vững. Tại thời điểm này, New
Zealand chưa có một chính sách LPMT rõ ràng nhưng đã từng bước xây dựng các điều kiện
để thiết lập một chính sách LPMT hoàn chỉnh: Giữa năm 1984, bắt đầu thực hiện thả nổi tỷ
2.2 Đánh giá tác động của chính sách lạm phát mục tiêu đến tăng trưởng kinh tế ở
New Zealand
2.2.1 Các biến và nguồn số liệu sử dụng trong mô hình nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ nghiên cứu tác động của chính sách LPMT
đến TTKT ở New Zealand trong giai đoạn 1978-2017. Các biến phụ thuộc và biến độc lập
được lựa chọn dựa trên nghiên cứu “Tác động của chính sách lạm phát mục tiêu đến tăng
trưởng kinh tế Chile và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” (2019) của các tác giả Nguyễn
Thị Hồng, Nguyễn Huy Công và Trần Quang Thanh. Các biến được thể hiện trong bảng sau
đây:
4
Bảng 2.1. Mô tả các biến số
Tên biến
Tăng trưởng kinh tế
Lạm phát muc tiêu
Tỷ lệ lạm phát thực tế
Tỷ lệ thất nghiệp
Lãi suất thực tế
Loại biến
Phụ thuộc
Độc lập
Độc lập
Độc lập
Độc lập
Ký hiệu
Log(GDP)
nhất (OLS) để xác định chiều tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc và giá trị của
các hệ số hồi quy.
2.3.4 Kết quả nghiên cứu
Sử dụng phần mềm kinh tế lượng GRETL, kết quả nghiên cứu được trình bày dưới đây:
Bảng thống kê kết quả mô tả:
Dưới đây là thống kê chi tiết về số liệu được thu thập theo năm từ 1978-2017.
Bảng 2.2. Thống kê mô tả dữ liệu
Tên biến
Số
quan Giá trị trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
8,8877
10,610
sát
Log(GDP
)
IT
IR
U
R
Trước khi tiến hành hồi quy mô hình, các biến được kiếm tra mối quan hệ tương quan
với nhau để xác định độ tin cậy của các biến.
Bảng 2.3. Mối quan hệ tương quan giữa các biến
5
Log(GDP)
1,00
-0,7603
-0,1460
-0,1319
Log(GDP)
IR
U
R
IR
U
R
1,00
-0,5669
-0,2157
1,00
0,5155
Rho
Std. Error
0.280349
0.193741
0.0177488
0.0274130
0.0186912
t-ratio
37.11
1.952
−3.349
−2.874
−0.9149
p-value
Biến
IT
IR
U
R
VIF
4,940
5,317
1,960
1,621
6
1/VIF
0,202
0,188
0,510
0,617
VIF Trung bình
3,46
Nguồn: Kết quả phân tích trên Gretl
- Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi
Ta sử dụng phương pháp định lượng kiểm định Breusch – Pagan. Sử dụng lệnh Tests
Heteroskedasticity Breusch – Pagan ta thu được: P_value = 0,16101
Qua đó cho thấy với mức ý nghĩa = 5%, P_value = 0,16101 > 0,05 cho nên mô hình
không mắc phải khuyết tật phương sai sai số thay đổi.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
3.1 Khả năng áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam, NHTW đang theo đuổi CSTT đa mục tiêu. Tuy nhiên, đó chưa
thực sự là công cụ thật sự hữu hiệu để kiểm soát lạm phát.Xét thấy trên thế giới đã có nhiều
quốc gia triển khai và thực hiện thành công chính sách LPMT.Việt Nam- là một quốc gia
đang phát triển, có nên thực hiện hay không thì phải tiến hành xem xét, đối chiếu đối với
thực tiễn ở Việt Nam. Cụ thể:
3.1.1 Mức độ độc lập của Ngân hàng Trung ương Việt Nam
Thực tế cho thấy Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam có mức độ độc lập thấp và
chịu sự can thiệp hành chính toàn diện của Chính phủ. Đây cũng là một trong những nguyên
nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của NHNN, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu kiểm
soát lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ và hệ thống tài chính thời gian qua.
Độc lập về chính trị: Tất cả các nhân viên trong hệ thống Ngân hàng đều là những cán
bộ, nhân viên do Nhà nước bổ nhiệm và trả công. Thống đốc có nhiệm kì 5 năm, trùng với
thời gian 1 nhiệm kì của Chính Phủ. Do đó có sự lệ thuộc nhất định vào Nhà nước.
Độc lập trong quyết định chính sách: Theo quy định của Luật NHNN năm 2010, NHNN
có trách nhiệm xây dựng CSTT để Chính phủ xem xét và trình Quốc hội quyết định. Sau đó,
NHNN chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách khi đã được phê duyệt.Như vậy,
NHNN không phải là tổ chức có quyết định cuối cùng về chính sách.
Độc lập trong kinh tế: Hiện nay mức độ độc lập của NHNN đối với Chính Phủ đang dần
được cải thiện, giảm bớt tình trạng Chính Phủ sử dụng nguồn ngân sách của NHNN để chi
tiêu cho các khoản vay của mình.
3.1.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Cùng với sự phát triển toàn diện của đất nước, cơ sở hạ tầng kĩ thuật của Việt Nam đã và
đang được chú trọng hoàn thành và phát triển, Tuy nhiên, cơ sở số liệu vĩ mô đầu vào còn ít.
Hệ thống máy móc hiện đại phục vụ cho công tác thu thập số liệu, chạy mô hình, dự báo còn
thô sơ, chưa bắt kịp được với xu hướng các nước phát triển.
3.1.3 Độ lành mạnh của hệ thống tài chính
Về đánh giá tình hình thu NSNN năm 2018, báo cáo của Chính phủ cho thấy một số nét
nổi bật như kết quả thu NSNN vượt dự toán, trong đó thu cân đối từ hoạt động xuất nhập
cân nhắc ngay cả khi chưa đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết. Và để thực hiện được khuôn
khổ chính sách này Việt Nam cần có lộ trình giải pháp phù hợp.
3.2.1 Nâng cao tính độc lập của NHNN
- Bước đi đầu tiên có tính thử nghiệm cho một NHNN độc lập là cho phép NHNN được
độc lập trong việc lựa chọn mục tiêu chính sách ưu tiên trong nhóm các mục tiêu được chọn
lựa phù hợp với điều kiện nền kinh tế vĩ mô mà không nhất thiết phải phù hợp với các chính
sách khác của Chính phủ.
-Thống đốc phải được trao quyền quyết định trong việc thực thi các CSTT và tự chịu
trách nhiệm về các quyết định đó chứ không nên thông qua Chính phủ. Điều này không
những góp phần làm tăng tính chủ động cho NHNN mà còn làm giảm độ trễ ngoài của CSTT
- một yếu tố quan trọng làm giảm tính hiệu lực của chính sách.
9
-Thực hiện tốt CSTT đòi hỏi NHNN phải thu hút được đội ngũ lớn những chuyên gia
đầu ngành về tài chính, ngân hàng nên cần phải cạnh tranh với các ngân hàng thương mại
trong việc thu hút chuyên gia về môi trường làm việc và chế độ lương thưởng. Hơn nữa, để
cho việc thực thi chính sách có tính phản biện cao, Thống đốc cần được trao quyền chủ động
trong việc thành lập Ban tư vấn CSTT, trong đó quy tụ khoảng 10 người, gồm những chuyên
gia đầu ngành có kinh nghiệm quản lý và tư vấn tại các NHTƯ của các nước phát triển am
hiểu về điều kiện kinh tế Việt Nam
3.2.2 Cải thiện cơ sở hạ tầng kĩ thuật
- Trước hết, cần nâng cao chất lượng số liệu thống kê. Ðể đạt được điều đó, ngành thống
kê cần quan tâm một số nội dung chủ yếu sau: Hoàn thiện hệ thống và đồng bộ các phương
thức thu thập số liệu giữa các cuộc điều tra, các báo cáo định kỳ; Tăng cường ứng dụng công
nghệ trong thu thập và xử lý thông tin các cuộc điều tra; Đẩy mạnh hoạt động đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực thống kê nhằm nâng cao chất lượng và bảo đảm đủ số lượng
- Xây dựng và hoàn thiện phương pháp và công cụ dự báo hiện đại, bắt kịp xu hướng
của thế giới
3.2.3 Nâng cao độ lành mạnh của cấu trúc kinh tế
đây có thể đề cập đến những sai lầm của các quốc gia khi thực hiện chính sách lạm phát mục
tiêu mà không đạt được thành công cho sự tăng trưởng kinh tế, từ đó rút ra bài học.
Đối với Việt Nam - một quốc gia đang trên đà phát triển, chính sách lạm phát mục tiêu
cũng là một công cụ hữu hiệu để ổn định lạm phát, góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên,
với hoàn cảnh và những điều kiện mà Việt Nam đang có thì Việt Nam vẫn chưa thật sự sẵn
sàng cho một chính sách lạm phát mục tiêu hoàn hảo. Chỉ khi khắc phục được những thiếu
sót như phân tích ở trên thì Việt Nam mới nên áp dụng chính sách này để đạt thành công cao
nhất.
Do thời gian và kiến thức hiểu biết còn giới hạn nên tiểu luận khó tránh khỏi những thiếu
sót, kính mong cô có những góp ý để bọn em có thể hoàn thiện hơn kiến thức của mình về đề
tài này. Bọn em cũng xin gửi lời cảm ơn cô Nguyễn Thị Hồng vì đã luôn nhiệt tình giúp đỡ,
hướng dẫn bọn em để chúng em có thể hoàn thiện bài tiểu luận này một cách tốt nhất.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dương Thu Hương, 2005,“Hoàn thiện chính sách tiền tệ và giải pháp điều hành phối hợp với
các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo ổn định kinh tế và phát triển giai đoạn
2000-2020”, Đề tài nghiên cứu khoa học.
2. Lê Thái Phong, Nguyễn Thu Thủy và Lê Việt Dũng, 2017, ‘Khả năng áp dụng chính
sách tiền tệ lạm phát mục tiêu ở Việt Nam’, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị
Thế giới, Số 2(250) tháng 2/2017, 70-77.
3. Nguyễn Thị Hiền, 2015, ‘Hoàn thiện các điều kiện để thực hiện chính sách tiền tệ theo
khuôn khổ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam’, Luận án Tiến sỹ, Học viện Ngân hàng.
4. Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Huy Công và Trần Quang Thanh, 2019, “Tác động của chính sách
lạm phát mục tiêu đến tăng trưởng kinh tế Chile và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp
chí Kinh tế đối ngoại, số 114, 2/2019.
5. Tô Thị Ánh Dương, Bùi Quang Tuấn, Phạm Sỹ An, Dương Thị Thanh Bình và Trần Thị Kim
Chi, 2015,“Lạm phát mục tiêu và hàm ý đối với khuôn khổ chính sách tiền tệ ở Việt Nam”,