Phát triển du lịch làng nghề xã hồng vân, huyện thường tín, hà nội trong giai đoạn hiện nay - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ HỒNG HẢI

PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ XÃ HỒNG VÂN,
HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ HỒNG HẢI

PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ XÃ HỒNG VÂN,
HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Ngành: Việt Nam Học
Mã ngành: 60220113

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN ĐỨC HỮU

HÀ NỘI, 2019


LỜI CAM ĐOAN

Bảng 3.4. Thống kê số lượng phương tiện phục vụ du lịch.....................................54

2


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng
khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng. Du lịch Việt Nam
ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được
bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế. Chất lượng và tính cạnh tranh
của du lịch là những vấn đề nhận được nhiều sự chú ý và thảo luận rộng rãi. Một
cách tiếp cận đa chiều về đánh giá chất lượng du lịch sẽ góp phần hình thành các
giải pháp đúng đắn nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của du lịch Việt Nam.
Một số ý kiến cho rằng tỷ lệ khách quay trở lại cho thấy tính cạnh tranh của
du lịch. Tuy nhiên, do du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên
vùng và xã hội hóa cao, nên tính cạnh tranh của du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Dưới góc độ kinh tế du lịch, tỷ lệ khách quay trở lại không phải là chỉ tiêu nghiên
cứu phục vụ xây dựng chính sách phát triển ngành.
Nhìn từ kinh nghiệm bên ngoài, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
(OECD), các chỉ số cơ bản đo lường tính cạnh tranh của ngành du lịch một quốc gia
gồm có: đóng góp của du lịch vào GDP, thu nhập từ khách du lịch inbound theo
từng thị trường, thời gian lưu trú qua đêm, giá trị xuất khẩu dịch vụ du lịch, năng
suất lao động, sức mua và giá cả dịch vụ du lịch, thủ tục thị thực nhập cảnh, tài
nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, tài nguyên văn hóa, mức độ thỏa mãn của
du khách, và chương trình hành động của ngành Du lịch. Ngoài ra còn có một số chỉ
số phụ như: mức độ đa dạng hóa thị trường, nguồn nhân lực, mức độ kết nối hàng
không và các phương tiện khác, phân bổ ngân sách chính phủ dành cho ngành Du
lịch, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong du lịch... Tham khảo những chỉ số
này có thể thấy tỷ lệ khách quay trở lại không nằm trong các tiêu chí đánh giá tính

Tại Đại hội Đảng bộ xã Hồng Vân lần thứ XXVI đã đưa ra các mục tiêu cơ
bản phát triển kinh tế xã hội của xã như sau:
Tốc dộ tăng trưởng kinh tế bình quân các ngành từ 14,5% trở lên. Cơ cấu:
Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng đạt 35%; thương mại, dịch vụ đạt
50%; nông nghiệp còn 15%.

4


Tổng thu ngân sách nhà nước theo phân cấp tăng bình quân 10%/năm so với
kế hoạch huyện giao.
Phấn đầu đến năm 2020 thu nhập bình quân đầu người đạt từ 46-49 triệu
đồng.
Giữ vững và nâng cao chất lượng xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đến năm
2020 xã Hồng Vân cơ bản trở thành xã “Du lịch – sinh thái – làng nghề”.
Nâng cao chất lượng du lịch để thu hút khách, thỏa mãn nhu cầu ngày càng
cao của khách là một định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch
nước ta. Một điều tất nhiên, trong quá trình phát triển ngành du lịch nói riêng và
kinh tế - xã hội đất nước nói chung, sẽ phát sinh nhiều vấn đề bất cập cần giải quyết.
Mâu thuẫn và việc giải quyết mâu thuẫn nội tại trong bản thân mỗi sự vật, hiện
tượng là nguồn gốc và động lực của quá trình vận động, phát triển.Với tất cả những
lý do trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Phát triển du lịch sinh thái làng
nghề xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” để làm
luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, loại hình du lịch làng nghề truyền thống ở Việt Nam
cũng được chú trọng, phát triển nhằm tạo ra sản phẩm hấp dẫn đối với du khách,
đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo
sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi làng nghề. Trên thực tế, du lịch làng nghề Việt
Nam đã thu hút một lượng du khách đáng kể nhưng vẫn chỉ là những nỗ lực tự phát,

lớn, nhưng thế mạnh này lâu nay vẫn chưa được khai thác tốt vì nhiều lý do. Thực
tiễn cũng cho thấy, với nhiều làng nghề, nhiều người thợ thủ công, những biện
pháp, giải pháp mà cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương nêu ra là rất
nhiều, có điều, để triển khai thực hiện, áp dụng vào thực tế thì họ lại không biết bắt
đầu từ đâu.
Du lịch làng nghề là một tiềm năng lớn để khai thác, một số nước trong khu
vực châu Á đã có những thành tựu nhất định, ví dụ điển hình là Thái Lan và Nhật
Bản.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về DLLN đồng thời vận dụng những kiến thức đã học về
du lịch để áp dụng nghiên cứu về DLLN và thực trạng của hoạt động DLLN ở Hồng

6


Vân từ khi đưa vào khai thác, từ đó xác định hướng khai thác hợp lý, kết hợp phát
triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường tự nhiên, phát triển du lịch bền vững. Góp
phần quảng bá rộng rãi hình ảnh du lịch Hồng Vân đối với khách du lịch trong nước
và quốc tế. Đẩy mạnh phát triển du lịch của huyện Thường Tín nói chung và Hồng
Vân nói riêng. Đề xuất một số giải pháp cho phát triển DLLN ở Hồng Vân.
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về DLLN Nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng
phát triển DLLN ở Hồng Vân, tìm hiểu những hạn chế còn tồn tại cần giải quyết.
Trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng của khu du lịch, luận văn đề xuất phương hướng
và một số giải pháp phát triển loại hình DLLN ở khu du lịch Hồng Vân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Hoạt động du lịch sinh thái làng nghề trên địa bàn xã Hồng Vân.
- Phạm vi: xã Hồng Vân từ năm 2014 đến 2019.
- Khách thể nghiên cứu: Các cơ quan quản lý về du lịch trên địa bàn xã, hộ
gia đình, các công ty lữ hành hoạt động trên địa bàn xã Hồng Vân
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

thông tin số liệu cũng như các vấn đề thực tiễn. Đây là phương pháp giúp cho người
viết thực hiện được mục tiêu dự báo, đề xuất các dự án, các định hướng phát triển,
các chiến lược triển khai quy hoạch các dự án mang tính khoa học và đạt hiệu quả
cao.
5.2.4.Phương pháp điều tra xã hội học
Sử dụng phương pháp này để phỏng vấn trực tiếp một số du khách tham gia
du lịch tại điểm du lịch Hồng Vân và những người có trách nhiệm quản lý khu du
lịch, những người cung cấp dịch vụ cho khách du lịch. Qua đây có thể biết được
tính hấp dẫn của khu du lịch, tâm tư nguyện vọng của du khách cũng như của người
dân địa phương, những người đang trực tiếp làm du lịch từ đó có cái nhìn xác thực
về tài nguyên và hoạt động du lịch tại nơi nghiên cứu
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Gớp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về du lịch sinh thái làng
nghề.
Đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch làng nghề tại xã Hồng Vân, từ đó
đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch làng nghề của
Hà Nội.

8


Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định
chính sách phát triển du lịch, đặc biệt phát triển du lịch sinh thái làng nghề ở Hà
Nội và dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy.
7. Kết cấu của đề tài luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục; bố cục đề tài
gồm có 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về xã Hồng Vân
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch làng nghề xã Hồng Vân, huyện
Thường Tín, Hà Nội


Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hoá và tiện nghi
cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở
vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó.

10


Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hoá) và vô
hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hoá, các dịch vụ và tiện
nghi phục vụ khách du lịch.
1.1.3. Tài nguyên du lịch
Theo giáo trình Địa lý du lịch:
“Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hoá- lịch sử cùng các thành
phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người,
khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu
cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”. [22, tr.33].
Theo Luật du lịch Việt Nam:
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị
văn hoá làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch nhằm
đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và
tài nguyên du lịch văn hoá”. [22,tr.6]
“Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa
chất, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể
được sử dụng cho mục đích du lịch”. [22,tr.17].
1.1.4. Du lịch làng nghề truyền thống
Nhìn chung khái niệm du lịch làng nghề truyền thống vẫn còn khá mới mẻ ở
nước ta. Du lịch làng nghề truyền thống thuộc loại hình du lịch văn hóa. Du lịch
làng nghề truyền thống đang là loại hình du lịch thu hút được sự quan tâm của nhiều
du khách trong và ngoài nước. Xu hướng hiện đại ngày nay cuộc sống căng thẳng

vững giúp khai thác nguồn tài nguyên một cách có ý thức và khoa học, đảm bảo cho
nguồn tài nguyên này sinh sôi nảy nở và phát triển cho thế hệ con em chúng ta cùng
được hưởng lơi.
Từ những khái niệm nêu trên, trong nghiên cứu này thì tác giả phát triển du
lịch làng nghề được hiểu là: đưa du khách đến tham quan, trải nghiệm, mua sắm các
sản phẩm của làng nghề truyển thống, bên cạnh đó xây dựng chương trình hỗ trợ,
khuyến khích nghệ nhân làng nghề sáng tạo sản phẩm phù hợp với thị hiếu của
khách du lịch mà vẫn đảm bảo giá trị của việc bảo tồn các làng nghề truyền thống
gắn với hoạt động du lịch.

12


1.2. Cơ sở khoa học và thực tiễn phát triển du lịch tại địa phương
1.2.1. Căn cứ văn bản pháp luật, nghị quyết về phát triển du
lịch Căn cứ Luật Du lịch năm 2017;
Căn cứ Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị khóa XII
về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn;
Căn cứ Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 06/10/2017 của Chính phủ ban hành
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
16/01/2017 của Bộ Chính trị khóa XII về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn;
Căn cứ Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều của Luật Du lịch;
Căn cứ Quyết định số 2522/QĐ-BVHTTDL ngày 13/7/2016 của Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch phê duyệt Chiến lược phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam
đến năm 2025, định hướng đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 2714/QĐ-BVHTTDL ngày 3/8/2016 của Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt
Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

triển ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất chuyên canh, hàng hoá cung cấp
nguồn thực phẩm dồi dào, có chất lượng tốt phục vụ nhu cầu khách du lịch. Cảnh
quan, môi trường được đầu tư, bảo vệ, không gian xanh - sạch - đẹp, trong lành.
Xã có 02 làng nghề sinh vật cảnh được UBND tỉnh Hà Tây trước đây công
nhận và đang phát triển kinh tế tốt; tạo nhiều việc làm cho người lao động địa
phương, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao.
Xã đã hoàn thành công tác dồn điền, đổi thửa và đạt chuẩn nông thôn mới; có
điều kiện thuận lợi về quy hoạch đất đai, hệ thống hạ tầng kỹ thuật.
Kết quả áp dụng thí điểm 08 mô hình để khai thác dịch vụ du lịch đã chứng
minh hiệu quả từ việc phát triển kinh tế du lịch bao gồm: Hiệu quả về kinh tế; hiệu
quả về môi trường, sinh thái và hiệu quả về xã hội. Trong đó các mô hình HTX kiểu
mới trên địa bàn xã đã nhân tố then chốt do đã tăng cường đầu tư hạ tầng sản xuất,
quảng bá và xúc tiến thương mại để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đồng
thời đã đưa phương thức sản xuất công nghiệp áp dụng trong nông nghiệp, có sự
chuyên môn hóa trong các khâu sản xuất kinh doanh, chất lượng sản phẩm đảm bảo

14


an toàn. Hoạt động của các mô hình Hợp tác xã kiểu mới trên địa bàn xã góp phần
quan trọng trong việc khai thác, phát triển du lịch trên địa bàn xã.
Có chính sách định hướng, khuyến khích và quan tâm đầu tư phát triển du
lịch của Thành phố, huyện đối với xã.
Từ các căn cứ pháp lý và thực tiễn nêu trên, tác giả nhận thấy việc phát triển,
bảo tồn làng nghề theo định hướng phát triển du lịch là điều cần thiết. Ngoài việc
phát triển làng nghề, thì du lịch đem đến nguồn lợi kinh tế cao, giúp cải thiện đời
sống của người dân tại xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, Hà Nội.

15


rất đa dạng. Thế nhưng, việc khai thác tài nguyên du lịch chưa mang lại hiệu quả
tương xứng, tất cả đang bị bỏ phí…
Nguyên nhân được chính là do việc triển khai các đề án phát triển du lịch,
đầu tư tôn tạo các di tích còn chậm. Nguồn nhân lực của cơ sở tham gia dịch vụ du
lịch phát triển tự phát, chưa được tập huấn về chuyên môn và kỹ năng phục vụ.
Chưa có cơ sở kinh doanh lữ hành chuyên nghiệp, hạ tầng cho du lịch nhất là tại các
làng nghề chưa được đầu tư do thiếu nguồn vốn, cơ sở lưu trú còn thiếu và chưa
đồng bộ. Sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chưa có chương trình liên kết du lịch giữa
các xã trong huyện. Hạ tầng giao thông chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.

17


2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Hồng Vân là xã nằm ở phía đô
ng của Huyện Thường Tín, cách trung tâm Hà Nội 18 km về phía Nam. Với
chiều dài hơn 4,5 km, chiều rộng khoảng 2 km
Phía Bắc giáp xã Ninh Sở
Phía Nam giáp xã Thư Phú
Phía Tây giáp xã Vân Tảo
Phía Đông giáp Sông Hồng
Phía Đông Nam giáp xã Tự Nhiên
Dòng sông Hồng chảy qua ôm lấy sườn phía Đông của xã từ Bắc xuống
Nam, kéo dài từ Xâm Thị đến Vân La, hàng ngàn năm nay bồi đắp phù sa tạo nên
vùng đất màu mỡ nuôi sống người dân Hồng Vân. Bên cạnh đó xã có tuyến đường

18


19


2.1.1.2. Địa hình
Là một xã đồng bằng, địa hình của xã phân bố thấp dần từ Bắc xuống Nam
và từ Tây sang Đông, thuận lợi cho việc tưới tiêu chủ động. Địa hình nhìn chung
bằng phẳng, độ cao giữa các phần lãnh thổ chênh lệch không đáng kể.
2.1.1.3. Khí hậu
Xã Hồng Vân cũng như nhiều địa phương khác thuộc đồng bằng Bắc
Bộ, chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới, gió mùa. Thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp.
0

Nhiệt độ: “trung bình năm 23,8 C. Nhiệt độ trung bình cao nhất 350C 0

37 C (tháng 6 - tháng 8), thường kèm theo mưa to. Nhiệt độ trung bình thấp nhất
0

có năm xuống dưới 10 C (tháng 12 đến tháng 1), có khi kèm theo sương muối”.
Gió: “Hướng gió chủ đạo: gió Đông Nam về mùa hè, gió Đông Bắc về
mùa đông. Vận tốc gió trung bình 2 m/s”.
Bão: “Xã ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, chủ yếu ảnh hưởng gây mưa
lớn, hàng năm thường có 5-7 cơn bão gây mưa lớn”.
Mưa: “Lượng mưa trung bình hàng năm thường từ 1600– 1800 mm”.
Độ ẩm không khí: “Độ ẩm không khí trung bình năm là 83%, thấp nhất trung
bình là 80%(tháng 1), cao nhất trung bình là 88% (tháng 3)”.
Nắng: “Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1600 - 1800 giờ/năm”.
2.2. Đặc điểm cơ cấu ngành nghề tại địa phương
2.2.1. Nông nghiệp

nghề cây cảnh mà đã đổi sang những công việc khác để kiếm sống như ở thôn Cơ
Giáo còn 14% hộ, Xâm Xuyên là 5% hộ dân theo nghề sinh vật cảnh. Hai làng hiện
nay đều chưa đảm bảo số hộ tham gia làng nghề tối thiểu là 30%.
Những hộ theo nghề thì chưa quan tâm chú trọng vào việc đưa du lịch vào
kết hợp với phát triển làng nghề nên chưa mang lại hiệu quả kinh tế.
2.2.3. Công nghiệp – Dịch vụ
* Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng
Giá trị sản xuất CN – TTCN – XD giảm nhưng không đáng kể. Tỷ trọng
ngành CN – TTCN – XD năm 2011 đóng góp 30,63% thu nhập trên địa bàn. Các
ngành nghề chủ yếu: Nghề trồng cây cảnh, xây dựng, gò hàn, xay xát, chế biến thực
phẩm....

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status