Vận dụng quan điểm toàn diện vào phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện ứng hoà (hà nội) trong giai đoạn hiện nay - Pdf 33

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KIỀU THỊ HUỀ

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN Ở HUYỆN ỨNG HÒA (HÀ NỘI)
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học

Người hướng dẫn khoa học
Th.S NGUYỄN THỊ GIANG

HÀ NỘI - 2014


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - Th.s Nguyễn Thị
Giang, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kinh nghiệm cho
em trong suốt thời gian qua để em hoàn thành tốt khoá luận của mình.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong trường ĐHSP Hà Nội
2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa giáo dục chính trị đã giảng dạy, dìu dắt
em trong suốt thời gian qua.
Em xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Ứng Hòa, các
phòng ban chuyên môn của huyện, xã đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp đầy
đủ thông tin, tài liệu cần thiết cho quá trình thực hiện đề tài, cảm ơn các bạn
sinh viên và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời gian
và do sự hạn chế về kiến thức của bản thân nên khoá luận của em không tránh

1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - cơ sở triết học của quan điểm
toàn diện ............................................................................................................ 6
1.2. Khái niệm nông nghiệp, nông thôn và sự cần thiết phải phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng Hòa (Hà Nội) trong giai đoạn
hiện nay ........................................................................................................ 15
1.3. Nội dung của sự vận dụng quan điểm toàn diện vào phát triển kinh tế
nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng Hòa (Hà Nội) trong giai đoạn
hiện nay ........................................................................................................ 20
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN Ở HUYỆN ỨNG HÒA (HÀ NỘI) TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY ..................................................................................................... 24
2.1. Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện
Ứng Hòa (Hà Nội)........................................................................................ 24
2.2. Thành tựu của kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng Hòa
(Hà Nội) trong giai đoạn hiện nay ............................................................... 30
2.3. Hạn chế của kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng Hòa(Hà Nội)
trong giai đoạn hiện nay................................................................................. 39
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở HUYỆN ỨNG HÒA (HÀ NỘI)
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG QUAN
ĐIỂM TOÀN DIỆN ...................................................................................... 45
3.1. Chủ trương, văn bản đường lối chỉ đạo chung của Đảng và cụ thể ở
huyện Ứng Hòa về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn .................... 45
3.2. Một số giải pháp cụ thể trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
ở huyện Ứng Hòa (Hà Nội) trong giai đoạn hiện nay ................................. 52
KẾT LUẬN .................................................................................................... 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 68


MỞ ĐẦU


Hàng năm ban lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền của huyện đã có
những chủ trương, chính sách phát triển... đối với kinh tế nông nghiệp, nông
thôn, mỗi một định kỳ đều đưa ra các nghị quyết, kế hoạch 5 năm được thực
hiện từ huyện đến các cấp xã thôn. Các chỉ đạo này đã được nhân dân tham
gia hưởng ứng và cố gắng hoàn thành mục tiêu nên đã đạt được những thành
tựu to lớn.
Tuy nhiên kinh tế nông nghiệp, nông thôn Ứng Hòa đến nay phát triển
vẫn chưa cân xứng với tiềm năng của huyện, nên ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật, thâm canh còn hạn chế. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi chưa
mang tính hàng hóa trong nông nghiệp, thiếu ổn định. Kinh tế vườn, trang trại
chăn nuôi tuy có bước phát triển nhưng chưa đồng bộ, thiếu bền vững. Các
loại dịch vụ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chưa phát triển,
kinh tế nông nghiệp, nông thôn chưa có sự phát triển đột phá tạo điều kiện
ban đầu cho thúc đẩy kinh tế - xã hội.
Sự yếu kém của Ứng Hòa như vậy là do chính sách trong phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn vụn vặt nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ toàn diện
chỉ dựa trên một góc độ, phạm vi nào đó, chưa có sự thống nhất khái quát cao,
hơn nữa lại đứng trước yêu cầu đòi hỏi của thời đại, của đất nước. Vì vậy, sự
phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn của huyện Ứng Hòa cần phải được
nhìn nhận từ quan điểm toàn diện, hay nói cách khác yêu cầu đặt ra hiện nay
là vận dụng quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lênin vào phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng Hòa. Từ đó đưa ra các giải pháp
nhằm thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Ứng Hòa phát triển nhanh,
mạnh và bền vững.
Trên chính là lí do mà tôi đã chọn đề tài: “Vận dụng quan điểm toàn
diện vào phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng Hòa (Hà
Nội) trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài khóa luận của mình, với mong
2




trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng Hòa trong
giai đoạn hiện nay.
- Làm rõ thực trạng của kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng
Hòa trong giai đoạn hiện nay, rút ra những thành tựu và hạn chế.
- Trên cơ sở thực trạng, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng Hòa trong giai đoạn hiện nay
dựa trên cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Khóa luận vận dụng quan điểm toàn diện vào phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng Hòa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn
huyện Ứng Hòa (Hà Nội) trong giai đoạn hiện nay (từ 2005 đến năm 2015).
5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
5.1. Cơ sở lí luận
Đề tài dựa trên quan điểm lí luận và phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác- Lênin, các văn kiện đại hội Đảng, niên giám Ứng Hòa; kế thừa các tài
liệu của các nhà khoa học nghiên cứu về tình hình kinh tế chính trị, văn hóa,
xã hội ở huyện Ứng Hòa.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ngoài ra khóa luận còn sử dụng một số phương pháp chủ yếu như:
- Phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp thống kê so sánh.
- Phương pháp diễn dịch, quy nạp.
- Phương pháp logic- lịch sử...

trong “Thuyết âm dương”, “Thuyết ngũ hành” của triết học Trung Hoa cổ đại,
đặc biệt là trong nhiều học thuyết của triết học Hy Lạp cổ đại. Các nhà triết
học cho rằng các sự vật của thế giới xung quanh ta nằm trong một mớ chằng
chịt vô tận những sợi dây liên hệ và những tác động qua lại lẫn nhau, không
có cái gì là y nguyên, đứng yên mà tất cả đều vận động, biến hóa, sinh thành
và tiêu vong. Nhưng chưa đạt đến trình độ đi sâu phân tích giới tự nhiên, chưa
làm rõ được cái gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của sự vận
động và sự phát triển. PBC thời kỳ này còn nguyên thủy, ngây thơ, thiếu
những căn cứ khoa học do trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa
phát triển. Vì vậy, nó đã bị PBC siêu hình thay thế từ nửa cuối TK XV.
Trong giai đoạn tiếp theo, PBC duy tâm xuất hiện, bắt đầu với triết học
của Can tơ và hoàn thiện với triết học của Hêghen. Hêghen là đại biểu xuất
sắc của triết học cổ điển Đức ở cuối thế kỷ XVIII, đầu TK XIX, là người xây
dựng hoàn chỉnh PBC duy tâm. Tính chất duy tâm trong PBC của Hêghen thể
hiện ở chỗ ông coi “ý niệm tuyệt đối” tha hóa thành vận động của thế giới tự
nhiên và xã hội, cuối cùng trở về với chính mình trong tinh thần thế giới.
6


Thực chất PBC duy tâm khách quan của Hêghen là biện chứng của ý
niệm quy định tính biện chứng của sự vật và hiện tượng. PBC cổ điển Đức có
những đóng góp to lớn vào sự phát triển tư duy biện chứng của nhân loại, thúc
đẩy tư duy biện chứng lên một trình độ cao, nhưng hạn chế là PBC duy tâm
nên nó chưa trở thành cơ sở lý luận cho một thế giới quan khoa học.
Kế thừa có chọn lọc những thành quả của nhà triết học tiền bối, mà trực
tiếp nhất là PBC của Hêghen và quan điểm duy vật của Phơ Bách, dựa trên
khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học đương thời cũng như thực
tiễn loài người, vào giữa TK XIX C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập ra triết
học duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật và về sau được Lênin
phát triển. Trong phép biện chứng đó luôn có sự thống nhất hữu cơ giữa thế

quy luật được khái quát từ hiện thực, phù hợp với hiện thực. Đó là hai nguyên
lý (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển), ba quy
luật (quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi
về chất và ngược lại; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập;
quy luật phủ định của phủ định), và sáu cặp phạm trù (cái chung và cái riêng;
nguyên nhân và kết quả; tất nhiên và ngẫu nhiên; nội dung và hình thức; bản
chất và hiện tượng; khả năng và hiện thực). Song nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến và nguyên lý về sự phát triển vẫn được xem là những nguyên lý có ý
nghĩa khái quát nhất trong PBC duy vật. Tuy nhiên trong phạm vi khóa luận
này chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về mối liên hệ phổ biến - cơ sở để xác định
quan điểm toàn diện.
1.1.2. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
* Khái niệm về mối liên hệ phổ biến.
Khi giải thích về sự tồn tại của thế giới, những câu hỏi được đặt ra là:
Thứ nhất: Các sự vật, hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế
giới có mối liên hệ tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại
biệt lập, tách rời nhau?

8


Thứ hai: Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì đã quy định mối
liên hệ đó?
Trong lịch sử triết học, để trả lời cho những câu hỏi trên có nhiều quan
điểm khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau.
Trả lời cho câu hỏi thứ nhất: Những người theo quan điểm siêu hình
cho rằng, các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại
bên cạnh cái kia. Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc, quy
định lẫn nhau. Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những
quy định bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên. Tuy vậy, trong số những người theo

chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định. Chính trên cơ sở đó, triết
học duy vật biện chứng khẳng định rằng: “Mối liên hệ là phạm trù triết học
dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các
sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong
thế giới” [3, tr. 210]
* Các tính chất của mối liên hệ
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ có 3
tính chất cơ bản: tính khách quan, tính phổ biến, và tính đa dạng phong phú.
- Tính khách quan: Vì mối liên hệ là khách quan vốn có của sự vật hiện
tượng. Nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người hay thần linh
thượng đế. Ngay cả những sự vật vô tri vô giác cũng đang hàng ngày chịu sự
tác động của các sự vật, hiện tượng khác như: ánh sáng, nhiệt độ, không
khí,… Con người - một sinh vật phát triển cao nhất trong tự nhiên, dù muốn
hay không, cũng luôn bị tác động của các sự vật, hiện tượng khác và các yếu
tố ngay trong chính bản thân mình. Ngoài sự tác động của tự nhiên con người
còn tiếp nhận sự tác động của xã hội và của những người khác. Chính con
người và cũng chỉ có con người mới dám tiếp nhận vô vàn các mối liên hệ.
Do vậy con người phải hiểu biết các mối liên hệ vận dụng chúng vào hoạt
10


động của mình, giải quyết các mối liên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu lợi
ích của toàn xã hội và bản thân con người. Chỉ có liên hệ với nhau sự vật,
hiện tượng mới tồn tại, vận động và phát triển.
- Tính phổ biến: Xuất phát từ bản thân tính biện chứng của thế giới mỗi
sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất. Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng
liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại
một cách cô lập, biệt lập, nằm ngoài mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng
khác. Ví dụ, trong thời đại ngày nay, không một quốc gia nào không có quan
hệ với quốc gia khác, không liên hệ với quốc gia khác về mọi mặt đời sống xã

Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối, vì mỗi loại
mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ
phổ biến. Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy
theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển
của chính sự vật.
Mặc dù phân chia thành các loại mối liên hệ chỉ mang tính tương đối
nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết, bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí và
vai trò xác định trong sự vận động và phát triển của sự vật. Con người phải
nắm bắt được đúng các mối liên hệ đó để có cách tác động phù hợp nhằm đưa
lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động của mình.
Như vậy bất kì sự vật, hiện tượng nào trong thế giới cũng luôn tồn tại
trong mối liên hệ mật thiết với các sự vật, hiện tượng khác. Do đó, muốn tìm
hiểu về một sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta cần phải đặt nó trong mối liên
hệ, quan hệ với xung quanh, nghĩa là phải xem xét một cách toàn diện. Đó
cũng chính là nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ nguyên lí mối liên hệ
phổ biến.
1.1.3 Một số nguyên tắc, phương pháp luận rút ra từ mối liên hệ phổ biến
* Quan điểm toàn diện
Vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trên thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ
với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ đó rất đa dạng, phong phú, do đó
12


khi nhận thức về một sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện,
tránh rơi vào quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một vài mối liên
hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của chúng.
Trên cơ sở quán triệt quan điểm toàn diện trong mọi hoạt động nhận
thức và thực tiễn, quan điểm toàn diện đặt ra các yêu cầu sau:
Thứ nhất: Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật
trong mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các mặt của chính sự

vật, nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất
thành cái bản chất.
Những quan điểm trên đã phản ánh sai lệch, xuyên tạc sự vật, hiện
tượng. Do đó, trong hoạt động thực tiễn, theo quan điểm toàn diện, khi tác
động vào sự vật chúng ta không những phải chú ý đến những mối liên hệ nội
tại của nó mà còn phải chú ý tới mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác.
* Nguyên tắc lịch sử - cụ thể
Mọi sự vật tồn tại trong không gian, thời gian nhất định và mang dấu ấn
của không gian, thời gian. Do vậy chúng ta cần có quan điểm lịch sử - cụ thể
khi xem xét và giải quyết một vấn đề do thực tiễn đặt ra.
Nguyên tắc lịch sử cụ thể có nghĩa là: trong những điều kiện hoàn cảnh
khác nhau thì mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng cũng khác nhau.
Nguyên tắc lịch sử cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật hoặc
tác động vào sự vật phải chú ý đến hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể, môi
trường cụ thể trong đó sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại và phát triển. Một
luận điểm nào đó sẽ là luận điểm khoa học trong điều kiện này nhưng không
phải luận điểm khoa học trong điều kiện khác. Chẳng hạn, trong cuộc Tổng
khởi nghĩa giành chính quyền Tháng 8/ 1945, mục tiêu của cả nước là độc lập
dân tộc, đánh đổ thực dân Pháp giành độc lập tự do được đặt lên hàng đầu.
Nhưng trong giai đoạn hiện nay, thời bình, chúng ta phải thực hiện thành công
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa đất nước thoát khỏi
14


đói nghèo, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng chủ nghĩa
xã hội nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ xã hội công bằng văn
minh, lúc này mục tiêu độc lập dân tộc không phải là mục tiêu hàng đầu nữa.
Do đó khi nhận thức về sự vật, hiện tượng và tác động vào sự vật, hiện tượng
phải chú ý đến điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, môi trường cụ thể trong đó
sự vật, hiện tượng sinh ra tồn tại và phát triển.

gồm các ngành nghề, các thành phần kinh tế có quan hệ tác động qua lại với
nhau. Các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ. Trong đó chủ yếu là các thành phần kinh tế: tập thể, nhà nước, cá
thể... kinh tế nông nghiệp còn có các vùng như: vùng chuyên canh lúa, chuyên
canh hoa màu, trồng cây ăn quả...[ 4, tr. 313].
1.2.2. Sự cần thiết phải phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện
Ứng Hòa (Hà Nội) trong giai đoạn hiện nay
* Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng Hòa trong giai đoạn
hiện nay là một tất yếu khách quan
Từ xa xưa cho đến nay, nông nghiệp luôn đóng vai trò hết sức quan
trọng đối với sự phát triển của xã hội loài người. Kinh tế nông nghiệp là cơ sở
nền tảng để phát triển các ngành kinh tế khác, dù công nghiệp và dịch vụ có
phát triển đến đâu cũng không thay thế được các sản phẩm nông nghiệp. Nông
nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm thiết yếu cho con người, nâng
cao mức sống dân cư, đảm bảo ổn định chính trị - xã hội của đất nước.
Ứng Hòa vốn là một huyện thuần nông lấy kinh tế nông nghiệp làm
đầu, nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất của huyện. Trên cơ sở thế
mạnh về đất đai màu mỡ, khí hậu thuận lợi, nguồn nước dồi dào cùng với đội
ngũ lao động có truyền thống canh tác lâu đời, đã tạo điều kiện và thúc đẩy
kinh tế nông nghiệp Ứng Hòa phát triển. Với số người sống ở nông thôn
chiếm khoảng 92,7% dân số Huyện và gần một nửa (47,4%) lao động hoạt

16


động trong lĩnh vực nông nghiệp. Vì thế đây là ngành có vai trò thực sự quan
trọng trong quá trình phát triển nông thôn Ứng Hòa.
Mặc dù đã có sự phát triển hơn so với thời điểm trước, nhưng thực
trạng nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Ứng Hòa hiện nay vẫn còn nhiều
mặt hạn chế, yếu kém. Thu nhập bình quân đầu người năm 2013 toàn huyện

ngoại thành, nhưng Ứng Hòa có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.
Ứng Hòa là huyện đồng bằng nằm trong vùng thuộc nền văn minh lúa
nước sông Hồng, có điều kiện khí hậu đất đai đa dạng, phù hợp với một nền
nông nghiệp sinh thái toàn diện, mang đặc trưng của nền sản suất nông nghiệp
truyền thống, bên cạnh đó, nhân dân cần cù lao động, giàu kinh nghiệm sản
xuất nông nghiệp. Vì vậy sản xuất nông nghiệp, nông thôn ở Ứng Hòa khá
phát triển, có vai trò đáng kể trong việc cung cấp lương thực,thực phẩm, sản
phẩm nông nghiệp như: cung cấp rau sạch, các sản phẩm chăn nuôi, thủy
sản,… cho thị trường Hà Nội và các vùng khác. Cung cấp nguyên liệu cho các
ngành công nghiệp khác, tạo ra thu nhập cho người dân.
Chính vì vậy sự phát triển kinh tế nông nghiệp của Ứng Hòa sẽ góp
một phần quan trọng vào việc đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩm
cho thành phố, giúp thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, cải thiện và nâng cao đời
sống nhân dân của huyện cũng như thúc đẩy và nâng cao vị thế của Hà Nội.
Với vị trí địa lý, giao thông thuận tiện, Ứng Hòa là một trong những
cửa ngõ quan trọng phía đông nam của thành phố Hà Nội, nằm trên cầu nối
giữa vùng đồng bằng với vùng rừng núi Hòa Bình. Đặc biệt, có tuyến đường
quốc lộ 21B bắt đầu từ thành phố Hà Đông đi Thanh Oai và có nhiều tuyến
đường liên huyện quan trọng. Chạy theo hướng Tây - Đông, nối liền với
đường quốc lộ 21B với quốc lộ số 1 như tuyến tỉnh lộ 60, 73, 75,… đã tạo
điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán hàng hóa, đặc biệt là việc cung
cấp nhu yếu phẩm cho thị trường các tỉnh như Hòa Bình, Hà Nam… Bên cạnh
18


đó Ứng Hòa có một số chợ lớn nằm sát đường giao thông chính, đó chính là
những cái cầu giao lưu hàng hóa đối với các vùng xung quanh như các chợ:
Vân Đình, chợ Đanh, chợ Ba Thá… Điều này đã góp phần thúc đẩy kinh tế
nông nghiệp cũng như nền kinh tế của thành phố Hà Nội, đưa Hà Nội trở

phạm luật đê điều và pháp lệnh khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi chưa
được ngăn chặn triệt để.
Kết quả đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động còn
hạn chế. Kinh phí hỗ trợ từ ngân sách rất thấp, khó tiếp cận nguồn vốn vay.
Cơ chế, chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân còn hạn chế. Sự hạn hẹp
của Ngân sách huyện, dựa chủ yếu vào sự hỗ trợ của thành phố Hà Nội trong
cân đối Ngân sách hàng năm của địa phương, ảnh hưởng đến sự phát triển ổn
định, bền vững của huyện.
Thị trường tiêu thụ chưa ổn định, chưa có cửa hàng kinh doanh và giới
thiệu sản phẩm rau an toàn. Tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún vẫn còn
nhiều, gây mất vệ sinh môi trường. Trong sản xuất nông nghiệp, chưa hình
thành các vùng chuyên canh nông nghiệp với quy mô lớn. Việc triển khai các
chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo các mô hình chuyên
canh, đa canh, nuôi thủy sản còn gặp nhiều khó khăn. Sản phẩm sản xuất
nông nghiệp mới chỉ đáp ứng được một phần cho thị trường Hà Nội, hàng hóa
buôn bán với các tỉnh khác còn ít cả về số lượng và phạm vi. Đầu tư cho nông
nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
1.3. Nội dung của sự vận dụng quan điểm toàn diện vào phát triển kinh
tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng Hòa (Hà Nội) trong giai đoạn
hiện nay
Kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Ứng Hòa mặc dù đã có sự phát triển
hơn thời điểm trước, nhưng nhìn chung trong giai đoạn hiện nay vẫn còn
nhiều hạn chế và thiếu sót do chưa được phát triển một cách toàn diện, đồng
20


Trích đoạn Nội dung của sự vận dụng quan điểm toàn diện vào phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Ứng Hòa (Hà Nội) trong giai đoạn Điều kiện tự nhiên Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ngày được hoàn thiện và đồng bộ Mặc dù chuyển dịch cơ cấu nội ngành nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên diễn ra còn chậm và Cơ sở hạ tầng và dịch vụ nông nghiệp vẫn còn tồn tại những yếu kém gây ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status