Nâng cao hiệu quả sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác tổ chức cán bộ tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
KHOAVIỆNVIỆNHÀNKHOALÂMHỌC XÃ HỘI

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ MINH HOÀNG
TRẦN XUÂN TRỌNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CẤP ỦY ĐẢNG
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ TẠI BẢO HIỂM
XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết luận nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TRẦN XUÂN TRỌNG


MỤC LỤC

3. HĐND
4. HĐLĐ

: Hội đồng nhân dân
: Hợp đồng lao động

5. HTCT: Hệ thống chính trị
6. UBND: Uỷ ban nhân dân


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta
luôn xác định công tác tổ chức cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây
dựng Đảng. Nói cách khác, đây là khâu trọng yếu trong hoạt động lãnh đạo
của Đảng, đóng vai trò quyết định sự thành công của cách mạng. Công tác
cán bộ được hợp thành bởi nhiều bước có tính chất liên hoàn, đan xen nhau
như: đánh giá cán bộ, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử
dụng cán bộ. Việc chuẩn bị đường lối chính trị, chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội của Nhà nước ta không thể tách rời chiến lược cán bộ, xây dựng quy
hoạch cán bộ. Đường lối trong công tác quản lý cán bộ có mục đích phù hợp
với đường lối chính trị và phải đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị
của quốc gia.
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ghi nhận: “Cán bộ là gốc của
mọi công việc… Đặc biệt là trong hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí
Minh lại càng nhấn mạnh đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ đủ sức, đủ tài,
vừa hồng, vừa chuyên đề có thể hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của Đảng.
Tiếp thu tư tưởng đó, trong sự nghiệp cách mạng của mình, Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh tới yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ

xây dựng Đảng, vì thế nên trong những năm vừa qua đã có không ít các
công trình nghiên cứu có liên quan đến công tác cán bộ cũng như các giải
pháp nhằm đổi mới. Các công trình được thể hiện đa dạng dưới nhiều hình
thức và góc độ tiếp cận. Có thể kể đến một số công trình như: cuốn sách
“Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời
2


kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (của Nguyễn Phú
Trọng và Trần Xuân Sầm, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2002); cuốn sách
“Công tác cán bộ trong quân đội, quá trình hình thành và phát triển: Biên
niên sự kiện và tư liệu (1975 - 1990)” (của nhiều tác giả, Nxb Quân đội nhân
dân, năm ...); cuốn sách “Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt
Nam (1930 - 2000)” (của Nguyễn Hữu Tri chủ biên, và Nguyễn Thị Phương
Hồng, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2005); cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về cán bộ và công tác cán bộ” (của tác giả Bùi Đình Phong, Nxb Lao
động, năm 2007); cuốn sách “Xây dựng, chỉnh đốn, củng cố tổ chức Đảng
dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ mới” (của nhiều tác giả,
Nxb Thanh niên, năm 2010); cuốn sách“Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước” (của nhiều tác giả, Nxb Chính trị
Quốc gia, năm 2013); bài viết “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ
góc nhìn chuỗi kết quả và chỉ số đánh giá” (của Đoàn Văn Dũng, Tạp chí lý
luận chính trị, số 4 – 2014); và nhiều công trình khác.
Những công trình trên đã đi sâu phân tích các quan điểm của Đảng và
Nhà nước Việt Nam về công tác cán bộ, về nội dung, phương thức lãnh đạo
của Đảng đối với công tác này. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên
cứu về công tác tổ chức cán bộ tại Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài: trên cơ sở làm sáng tỏ nội dung và

Bắc Ninh.

4


- Góp phần chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế trong sự lãnh đạo
của các cấp Ủy Đảng Bảo hiểm xã hội Tỉnh Bắc Ninh đối với công tác tổ
chức cán bộ.
- Đề xuất được những giải pháp phù hợp và có tính ứng dụng cao
nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của các cấp Ủy đảng Bảo hiểm xã hội Tỉnh
Bắc Ninh về công tác cán bộ
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được tác giả chia làm ba chương cụ thể:
Chương 1: Nội dung và phương thức lãnh đạo của cấp Ủy Đảng đối
với công tác tổ chức cán bộ tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh.
Chương 2: Thực trạng lãnh đạo của cấp Ủy Đảng đối với công tác tổ
chức cán bộ tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo của cấp Ủy Đảng đối
với công tác tổ chức cán bộ tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh.

5


Chương 1
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO
CỦA CẤP ỦY ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ
TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮC NINH

1.1. Nội dung lãnh đạo của cấp Ủy Đảng đối với công tác tổ chức
cán bộ tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh

Thứ ba, nơi làm việc của cán bộ là tại tổ chức của hệ thống chính trị,
các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, cán bộ là
người giữ các chức vụ, chức danh và hoạt động trong cơ quan của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực
thuộc tỉnh.
Thứ tư, cán bộ là người công tác theo nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ là thời hạn
giữ chức danh, chức vụ. Thời hạn đó thường được định ra trước trong các
văn bản chính thức.
Ví dụ: nhiệm kỳ của Tổng kiểm toán Nhà nước là 7 năm, có thể được
bầu lại nhưng không quá hai nhiệm kỳ (khoản 3 Điều 17 Luật kiểm toán Nhà
nước năm 2005).
Thứ năm, cán bộ là người được sắp xếp theo biên chế và trả lương từ
ngân sách của Nhà nước.
1.1.3. Khái niệm công tác tổ chức cán bộ
“Công tác tổ chức cán bộ” là toàn bộ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, tổ
chức thực hiện của cấp có thẩm quyền nhằm phát huy cao nhất tiềm năng
7


của cán bộ trong hệ thống chính trị và toàn xã hội, phát triển nguồn nhân lực
và xâu dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của
từng thời kỳ. Cấp có thẩm quyền trong công tác cán bộ ở Việt Nam là Đảng,
Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.
1.1.4. Đặc điểm của công tác tổ chức cán bộ
- Một là, công tác tổ chức cán bộ hoạt động dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ,
đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị; bảo
đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định đôi với thực hiện đầy
đủ trách nhiệm cá nhân trong công tác quản lý cán bộ.

đây là phải biết rõ, đánh giá đúng cán bộ nhằm sử dụng cán bộ có hiệu quả
cũng như là căn cứ cho công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ. Việc đánh giá
cán bộ không chỉ được nhìn dưới góc độ là chỉ tập trung và phát hiện cái
hay, cái tốt của họ để khuyến khích, phát huy, mà còn phải bao hàm của việc
thấy được những thấy cái không hay, các còn tồn tại của họ để tìm cách giúp
đỡ, khắc phục. Hồ Chí Minh cho rằng, cứ mỗi lần xem xét lại cán bộ, “một
mặt sẽ tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác thì những người hủ hóa cũng
lòi ra” Để làm tốt việc này, chủ tích Hồ Chì minh đề cao các quan điểm và lý
luận biện. Vì thế, khi xem xét, đánh giá cán bộ, không nên nhìn phiến diện,
mà phải nhìn toàn diện không thể chỉ dựa vào một việc làm của họ, mà phải
tìm hiểu tất cả các công việc mà họ thực hiện; không thể chỉ xem xét cán bộ
trong một thời điểm, mà phải thấy rõ lịch sử của họ; cần có cái nhìn toàn
diện như vậy, thì mới có thể đánh giá cán bộ một cách đúng đắn, khách quan
[50, tr. 278].

9


Trên thực tế có không ít bệnh trong đánh giá cán bộ. Chẳng hạn đó là
bệnh ưa người ta nịnh mình, bệnh đem một cái khuân khổ chật hẹp, nhất
định mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau, v.v.. Đây đều là nhưng biểu
hiện của sự không khách quan, toàn diện trong những người làm công tác
cán bộ. Biết mình là khó, song không biết mình thì không thể biết người.
Đây còn được gọi là quan điểm “tri kỉ để tri nhân” trong triết học chính trị
kết hợp với căn hóa phương Đông đã được kết tinh trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về công tác cán bộ thời đại mới.
Đánh giá đúng cán bộ được coi là động lực thúc đẩy để cán bộ hăng
hái phấn đấu vươn lên, tạo ra sự cạnh tranh trong chính các cán bộ, kích
thích lòng nhiệt huyết, sáng tạo đóng góp cho sự phát triển của tổ chức.
Thông qua đánh giá cán bộ để các cấp lãnh đạo thấy được những chỗ còn

cho cán bộ phải phù hợp với năng lực của họ. Nắm bắt được năng lực của
cán bộ mà dùng người thì sẽ phát huy được tài, do đó mà công việc thành
công. Việc này không những tránh lãng phí người tài, mà còn thúc đẩy họ
phát huy năng lực của cán bộ và phát hiện ra được nhiều người có năng lực
hơn nữa. Sử dụng cán bộ đúng năng lực, sở trường thì sẽ phát huy được cái
hay của mỗi người, hạn chế được những điểm yếu kém của họ. Lãnh đạo
khéo, tài nhỏ có thể hóa tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài
nhỏ” [50, tr. 280].
Yêu cầu của việc sử dụng cán bộ tuy rất đơn giản nhưng trên thực tế
có công việc này lại dễ bị chi phối bởi những biểu hiện tiêu cực như ưu ái
người thân quen, thích người nịnh hót… Những biểu hiện này không chỉ gây
hại cho công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước, mà còn gây hại cho chính
những người cán bộ không đủ năng lực, tài đức, bởi khi được dung túng, cái

11


xấu trong họ sẽ càng có điều kiện phát triển và làm lu mờ, hạn chế những
điểm tốt của họ
‘Tùy tài mà dung người”; phải tạo điều kiện để cán bộ phát huy năng
lực của họ; phải tạo môi trường dân chủ để “cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra
ý kiến” [50, tr. 280]. Người lãnh đạo đối với công tác cán bộ không được tự
cao tự đại, mà phải nghe, phải hỏi ý kiến cấp dưới. Việc xây dựng môi
trường làm việc dân chủ sẽ tạo nên động lực tích cực thúc đẩy cán bộ ngày
càng có nhiều sáng kiến và hăng hái hơn trong công việc. Bên cạnh đó,
người lãnh đạo đối với công tác cán bộ phải mạnh dạn trao quyền, giao việc
cho cán bộ. Khi giao việc, ban đầu cần hướng dẫn họ những vấn đề cơ bản
rồi sau đó rồi tạo điều kiện để họ chủ động thực hiện công việc của mình.
Điều này đòi hỏi cũng cần phải có niềm tin đối với cán bộ. Việc đặt lòng tin
vào cán bộ để giao việc vừa là một cách đào tạo cán bộ, vừa là cách tạo động

nguyện sửa đổi; tuyệt đối tránh thái độ qui chụp, công kích.

Thứ hai, Đảng phải quy hoạch đúng cán bộ.
Hoạt động này diễn ra đối với lãnh đạo lãnh đạo, quản lý các ngành,
các cấp, các lĩnh vực của hệ thống chính trị và nhằm mục đích giúp họ hoàn
thành có hiệu quả những nhiệm vụ đảm nhận và chuẩn bị những điều kiện
tốt cho thời kỳ, giai đoạn cách mạng tiếp theo. Việc quy hoạch cán bộ là
quan trọng vì đây là tiền đề để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho
phù hợp, tạo cơ hội cho họ phấn đấu, rèn luyện, không ngừng vươn lên đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước.
Để phát huy cao nhất hiệu quả của công tác quy hoạch cán bộ, Đảng
phải thực sự gắn kết công tác này với tất cả các khâu khác trong công tác cán
bộ như: nhận xét, đánh giá cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; luân chuyển,
sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ. Đảng cần thực hiện quy hoạch “động” và
“mở”. Quy hoạch “mở” là quy hoạch không khép kín trong từng
13


ngành, từng địa phương, từng đơn vị, không hạn chế một số ít người được
định sẵn một cách chủ quan. Trong quy hoạch, mỗi chức danh lãnh đạo cần
có ít nhất từ hai đến ba cán bộ dự bị. Mỗi cán bộ có thể dự kiến đảm nhiệm
từ hai đến ba chức danh. Quy hoạch “động” là quy hoạch được rà soát
thường xuyên, được điều chỉnh theo sát với yêu cầu thực tế của sự phát triển
cán bộ, kịp thời bổ sung những nhân tố mới vào quy hoạch. Đảng cần tạo ra
“dòng chảy” trong công tác quy hoạch cán bộ; hằng năm, phải rà soát lại đội
ngũ cán bộ trong quy hoạch để có sự điều chỉnh, bổ sung.
Khi quy hoạch cán bộ, Đảng phải tiến hành đồng bộ từ trên xuống
dưới; hướng dẫn cấp dưới quy hoạch cán bộ; lấy quy hoạch cán bộ cấp dưới
làm cơ sở cho quy hoạch cán bộ cấp trên; phải dựa trên căn cứ khoa học và
thực tiễn; vừa tạo nguồn cho việc đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý,

ngành, tại địa phương.
Quá trình đào tạo, bồi dưỡng cần phải: có tính thường xuyên, liên tục
(bởi lẽ tri thức và các tình huống thực tiễn luôn vận động và thay đổi theo
thời gian); không rập khuôn nội dung đào tạo, bồi dưỡng sơ cứng và bất biến
với sự vận động khách quan; gắn học với hành, gắn lý luận với thực tiễn. Để
đạt được những yêu cầu cơ bản này, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, Đảng
cần phải đổi mới trong từng khâu; phải thiết kế nội dung đào tạo, bồi dưỡng
phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Thứ tư, Đảng phải điều động, luân chuyển cán bộ một cách đúng đắn.
Điều động, luân chuyển cán bộ là sắp xếp cán bộ vào những vị trí
công tác mới. Hoạt động này nhằm thực hiện các mục tiêu chính sau đây:
Thứ năm, Đảng phải quản lý, sử dụng cán bộ một cách đúng đắn.
Để quản lý, sử dụng cán bộ một cách đúng đắn, Đảng cầ phải áp dụng
các nguyên tắc như sau. Đảng trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ, trước hết là
15


cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ngành, các cấp; đồng thời, phát huy trách
nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị; Đảng phân công,
phân cấp quản lý cán bộ cho các cấp uỷ và tổ chức Đảng, đồng thời thường
xuyên kiểm tra việc thực hiện công tác cán bộ của các ngành, các cấp.
Thứ sáu, Đảng phải có chính sách cán bộ đúng đắn.
Chính sách cán bộ đúng đắn thể hiện các nội dung sau: có chế độ đãi
ngộ phù hợp với vị trí, vai trò của cán bộ, công chức; có chính sách thu hút
nhân tài hiệu quả; có kế hoạch khích lệ, động viên tính tích cực, sáng tạo,
tinh thần thi đua vươn lên đạt thành tích cao trong công tác của cán bộ.
Chính sách cán bộ đúng đắn phải phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo trong công tác của cán bộ.
Chính sách cán bộ không cố định mà luôn được đổi mới, điều chỉnh
cho phù hợp với yêu cầu, điều kiện của đất nước trong từng hoàn cảnh lịch

vấn đề, của sự việc; tăng cường nghiên cứu lý luận và tổng kết kinh nghiệm;
phải tìm ra những nội dung, phương pháp và bước đi thích hợp; phải giải
quyết các vấn đề mới mẻ nảy sinh từ thực tiễn cách mạng Việt Nam;
- Tổ chức chu đáo việc học tập lý luận Mác - Lênin, học tập những
kiến thức về kinh tế, về khoa học kỹ thuật cho đông đảo cán bộ, Đảng viên;
thường xuyên đi sâu vào thực tiễn để phân tích, tổng kết kinh nghiệm và
khái quát lý luận cần thiết; không ngừng bổ sung, phát triển và cụ thể hóa
hơn nữa đường lối, chính sách của Đảng; phải kiện toàn các cơ quan làm
nhiệm vụ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn; Phải nắm chắc bản chất
cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, thấu suốt hơn quy luật
phát triển của xã hội; Phải ngày càng trưởng thành trong việc vận dụng
những hiểu biết đó vào thực tiễn để định ra đường lối, chính sách một cách
đúng đắn và sáng tạo.
17


Thứ hai, Đảng lãnh đạo công tác tổ chức cán bộ thông qua thể chế hóa
cương lĩnh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ
thành pháp luật, chính sách của Nhà nước.
Bàn về cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ,
cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã từng chỉ rõ: “Đảng lãnh đạo thông qua Nhà
nước, bằng Nhà nước. Đảng lãnh đạo nhân dân chứ không phải Đảng thay
thế nhân dân làm chủ Nhà nước. Như vậy, muốn lãnh đạo công tác cán bộ
thành công, Đảng phải lãnh đạo thông qua chính các chủ trương, chính sách
của Nhà nước về công tác cán bộ.
Thứ ba, Đảng lãnh đạo công tác tổ chức cán bộ thông qua công tác
chính trị, tư tưởng, thông qua vai trò tiên phong gương mẫu của Đảng viên.
Đảng cần nghiên cứu, đề ra kế hoạch học tập cho các loại cán bộ;
đồng thời, phải có tổ chức, có kiểm tra chặt chẽ; nghiêm khắc phê phán bệnh
chủ quan, bệnh kinh nghiệm, lười học, ngại học lý luận, thái độ coi thường

19


Chương 2
THỰC TRẠNG LÃNH ĐẠO CỦA CẤP ỦY ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
TỔ CHỨC CÁN BỘ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH

2.1. Thực trạng sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác tổ
chức cán bộ tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh: những kết quả đạt được
2.1.1. Đặc điểm tình hình tổ chức bộ máy của bảo hiểm xã hội tỉnh
Bắc Ninh
- về quá trình thành lập: bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh được thành
lập đi vào hoạt động từ ngày 01/10/1997, theo Quyết định số 1613/bảo hiểm
xã hội/QĐ-TCCB, ngày 16/9/1997 của Tổng Giám đốc bảo hiểm xã hội Việt
Nam. Tổ chức bộ máy khi mới được thành lập có 05 phòng chuyên môn, 06
bảo hiểm xã hội huyện, thị xã trực thuộc, với 68 cán bộ, công chức, viên
chức. Từ tháng 01/2003, bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh tiếp nhận Bảo hiểm
y tế (bảo hiểm y tế) tỉnh Bắc Ninh, hoạt động theo tổ chức mới, với chức
năng, nhiệm vụ mới.
Tổ chức bộ máy hiện nay của bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh gồm 11
phòng chuyên môn, 08 Bảo hiểm xã hội huyện, thị xã, thành phố trực thuộc.
Tổng số công chức, viên chức và người lao động toàn ngành hiện có 265
người. Tổ chức Đảng, đoàn thể trực thuộc gồm: Đảng bộ Bảo hiểm xã hội
tỉnh có 11 Chi bộ đảng trực thuộc với tổng số 89 đảng viên (toàn Ngành là
172 đảng viên); Công đoàn Ngành gồm 10 Công đoàn cơ sở với tổng số 265
đoàn viên; Đoàn thanh niên cơ quan gồm 28 đoàn viên và Hội Cựu chiến
binh Bảo hiểm xã hội tỉnh gồm 11 hội viên.
- Về quyền hạn: Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh có nhiệm vụ xây
dựng, trình Tổng Giám đốc kế hoạch ngắn hạn và dài hạn về phát triển bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh

hiểm xã hội tỉnh có 09 người hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, trong đó có
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status