Giải Pháp nâng cao năng lực học tập môn Toán cho học sinh lớp 3A và thể dục - Pdf 55

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số :………………………
1. Tên sáng kiến: Giải Pháp nâng cao năng lực học tập môn Toán cho học sinh lớp
3A.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Ngành giáo dục.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Trình trạng giải pháp đã biết:
* Ưu điểm:
Học sinh nắm và hiểu được cơ bản những bài toán trên lớp, biết làm và thực hiện
đầy đủ các quy trình trong các phép tính, giải toán, …
* Nhược điểm:
Kiến thức trong lớp học không đồng đều. Bệnh thành tích còn tồn tại trong trường.
Sự quan tâm của giáo viên đối với học sinh chưa cao. nặng về số lượng nhẹ về chất
lượng. Phụ huynh còn trút trách nhiệm cho trường, chưa thật sự quan tâm đến con em
mình. Do tư chất học sinh chậm phát triển.
* Sự cần thiết đề xuất.
- Giúp học sinh yếu môn Toán ngày càng tiến bộ hơn về môn Toán.
- Tạo sự hứng thú trong tư duy và học tập ngày càng tiến bộ hơn.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:


- Mục đích của giải pháp: Nhằm giúp cho học sinh chữa những lỗ hỏng trong
kiến thức, lấy lại căn bản. Dễ dàng tiếp nhận những kiến thức mới. Góp phần tích cực
cho học sinh đạt được trình độ chuẩn trong kỹ năng kiến thức về môn toán lớp 3.
- Nội dung giải pháp: Để học sinh học tập tốt giáo viên cần:
Xây dựng môi trường học tập thân thiện:
Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả
cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảm giác

quá trình học lý thuyết và làm bài tập của học sinh, tôi cũng cần tập cho học sinh, nhất
là học sinh yếu kém có ý thức tự phát hiện những lỗ hổng của bản thân mình và biết
cách tự lấp những lỗ hổng đó.
+Luyện tập vừa sức:
Đối với học sinh yếu kém, giáo viên nên coi trọng tính vững chắc của kiến thức,
kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức và tăng cường luyện tập
vừa sức.
+ Đảm bảo học sinh hiểu đầu bài tập:
Học sinh yếu kém nhiều khi vấp ngay từ bước đầu tiên, không hiểu bài toán đó
nói gì thì không thể tiếp tục quá trình giải toán. Vì vậy, giáo viên nên lưu ý giúp các
em hiểu rõ đầu bài, nắm được cái gì đã cho, cái gì cần tìm cần phải tìm, tạo điều kiện
cho các em vượt qua sự vấp váp đầu tiên đó.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp:

3


Khả năng áp dụng của giải pháp mới nhằm áp dụng vào việc bồi dưỡng học sinh
yếu môn Toán ở lớp 3 nhằm từng bước các em lấp những chỗ hỏng về kiến thức để
theo kịp các bạn trong lớp.
3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải
pháp.
Có thể thu được do áp dụng thực tế. Qua thời gian thực hiện giải pháp mới cho
thấy số lượng học sinh yếu giảm rõ rệt, việc hăng sai tích cực trong việc học toán có
nâng lên tạo được sự hứng thú trong học tập.
Cụ thể về số lượng, chất lượng về năng lực trong học kì I ở lớp 3A với 32 học
sinh, kết quả như sau:
Trước khi chưa áp dụng giải pháp, về môn học và hoạt động giáo dục tỉ lệ học
sinh đạt mức hoàn thành tốt là 5 em, chiếm 15,63%; hoàn thành 15 em, chiếm 46,86%
và chưa hoàn thành 12 em, chiếm 37,51%.


46,86%
19

37,51%
1

37,51%

59,38%

3,11%

Đầu năm
Giữa Học kì II

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
5


MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: …….
1. Tên sáng kiến: Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học bài thể dục phát
triển chung cho học sinh khối 3 ở trường tiểu học.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng trong ngành giáo dục
3. Mô tả bản chất sáng kiến:
3.1 Tình trạng giải pháp đã biết:
* Ưu điểm:

nghiệp cách mạng của Đảng, tương lai đất nước thuộc về các em, do đó các em
cần có sức khoẻ tốt có lí tưởng cao đẹp để gánh vác nhiệm vụ nặng nề ấy.

- Nội dung giải pháp:
Mỗi giờ dạy thể dục là là mỗi bước đi bằng hành động cụ thể trong quá
trình biến mục đích nội dung giáo dục thành kết quả thực tế. Vì vậy mỗi giờ dạy
đều phải làm cho học sinh nắm được kiến thức, kĩ năng, được bồi dưỡng về
phẩm chất ý chí và được thúc đẩy thể lực tăng tiến không ngừng
Trước giờ học dạy cần nắm chắc những diễn biến sức khoẻ, hoạt động học
tập, lao động, sinh hoạt, kết quả của bài trước, những thay đổi tổ chức học tập,
7


những vấn đề chung của cả lớp và của những em cá biệt. Từ đó kịp thời điều
chỉnh kế hoạch, mức độ, hình thức, phương pháp lên lớp.
Nắm vững đặc điểm, yêu cầu của nội dung giảng dạy như: Yêu cầu kỹ
thuật từng động tác, độ khó, mấu chốt kỹ thuật, khối lượng vận động, thứ tự
trước sau của động tác, mối liên hệ giữa các động tác, mối liện hệ giữa các nội
dung…dự kiến những sai lầm có thể xảy ra ở học sinh để đề phòng hoặc sửa
chữa. Định ra lượng vận động cho từng nội dung và cả giờ học tìm cách tổ chức
động viên học sinh tập luyện.
Mỗi tổ có một cán sự để giúp giáo viên, chọn lựa những em có trình độ thể
lực tốt, có khả năng tổ chức, tích cực gương mẫu trong học tập có uy tín trong tổ
để hướng dẫn các bạn hỗ trợ giáo viên trong tập luyện phát hiện những sai trái
của từng động tác báo cáo với giáo viên để sửa sai kịp thời.
Dựa vào tình hình thực tiển của trường để rèn kĩ năng tập bài thể dục phát
triển chung, là dạy và học sau cho có thể khơi gợi hứng thú, phát huy được tính
tự giác, tích cực của học sinh để hình thành và phát huy đúng năng lực của học
sinh.
Một số lỗi sai thường mắc phải khi tập bài thể dục phát triển chung là học

9


Nhịp 1: Bước chân trái ra trước, trong tâm dồn vào chân trước, chân sau
thẳng kiễng gót, hai tay đưa ra trước - lên cao thẳng hướng, lòng bàn tay hướng
vào nhau, mắt nhìn theo tay.
Nhịp 2: Đưa chân trái về với chân phải đồng thời gập thân trên về trước,
xuống thấp, hai chân và hai tay thẳng, hai tay chạm vào mũi bàn chân, mắt nhìn
theo tay.
Nhịp 3: Khuỵu gối (hai gối áp sát vào nhau) lưng thẳng hai tay dang ngang,
hai bàn tay ngửa mắt nhìn phía trước.
Đa số khi các em thực hiện ở nhịp 1-5 thân người không vươn cao, trọng
tâm không dồn vào chân trước, ở nhịp 2-6 thân người không gập xuống sâu,
chân còn co gối, còn ở nhịp 3-7 hai tay dang ngang không thẳng.
Giáo viên nên cho các em tập chậm từng cử động rồi mới cho thực hiện
theo nhịp, không cho các em thực hiện vội vàng dễ gây nên loạn nhịp.
Vi dụ: Động tác 7: Nhảy ở lớp 3.
Các em thực hiện động tác còn giật cục, bật nhảy không nhịp nhàng. Giáo
viên nên cho các em thực hiện ở những lần đầu bật nhảy chậm từng nhịp và phối
hợp với động tác của tay, sau đó mới cho các em thực hiện nhanh dần.
Ví dụ: Động tác 8: Điều hoà ở lớp 3.
Động tác của các em còn tập còn gò bó, không thả lỏng cơ thể, chưa kết
hợp với hít thở sâu. Giáo viên là người điều khiển cần hô nhịp chậm, động tác
nhẹ nhàng và nhắc các em kết hợp với hít thở sâu và thả lỏng tích cực.

10


Trong khi ôn tập động tác đã học giáo viên cần luôn thay đổi hình thức tập
luyện cho phong phú để các em không bị nhàm chán.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status