Tác động của chi chính phủ trong lĩnh vực y tế và giáo dục đến chỉ số HDI ở các quốc gia đang phát triển - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ THANH THỦY

TÁC ĐỘNG CỦA CHI CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH
VỰC Y TẾ VÀ GIÁO DỤC ĐẾN CHỈ SỐ HDI
Ở CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ THANH THỦY

TÁC ĐỘNG CỦA CHI CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH
VỰC Y TẾ VÀ GIÁO DỤC ĐẾN CHỈ SỐ HDI
Ở CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

Chuyên ngành : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số ngành : 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI THỊ MAI HOÀI

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018


1.1.1. Khái niệm ................................................................................................ 5
1.1.2. Vai trò ..................................................................................................... 6
1.2. Lý luận chung về chỉ số phát triển con người (HDI) .................................... 12
1.2.1. Khái niệm .............................................................................................. 12
1.2.2. Công thức tính....................................................................................... 18
1.3. Tác động của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục đến HDI .................... 22
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................ 27
2.1. Dữ liệu ........................................................................................................ 27
2.2. Mô hình nghiên cứu .................................................................................... 27
2.3. Các biến số trong mô hình ........................................................................... 30
2.4. Phương pháp phân tích ................................................................................ 30


2.4.1. Phương pháp ước lượng hồi quy tác động cố định (FEM) ..................... 31
2.4.2. Phương pháp ước lượng hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) ............... 31
2.4.3. Trình tự thực hiện phương pháp ước lượng mô hình ............................. 32
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI, CHI
TIÊU CHÍNH PHỦ CHO Y TẾ VÀ GIÁO DỤC CỦA CÁC QUỐC GIA
ĐANG PHÁT TRIỂN .......................................................................................... 35
3.1. Thực trạng HDI của các quốc gia đang phát triển ........................................ 35
3.2. Thực trạng chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục của các quốc gia đang phát
triển.................................................................................................................... 36
3.2.1. Thực trạng chi tiêu chính phủ cho y tế................................................... 37
3.2.2. Thực trạng chi tiêu chính phủ cho giáo dục ........................................... 39
3.3. Thực trạng các yếu tố khác .......................................................................... 41
3.3.1. Thực trạng thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia đang phát
triển ................................................................................................................ 41
3.3.2. Thực trạng tốc độ tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển
....................................................................................................................... 42
3.3.3. Thực trạng hệ số Gini của các quốc gia đang phát triển ....................... 43


Thu nhập quốc dân

HDI (Human Development Index):

Chỉ số phát triển con người

HDRO (Human Development Report
Office):
IMF (International Monetary Fund):
OECD (Organization for Economic Cooperation and Development):

Văn phòng báo cáo phát triển con người
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

OLS (Ordinary least squares):

Phương pháp bình phương nhỏ nhất

PPP (purchasinh power parity):

Ngang giá sức mua

UNDP (United Nations Development
Programme):
UNESCO:

Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá

Hình 4.8 Kết quả kiểm định Hausman ................................................................... 52
Hình 4.9 Kết quả hồi quy mô hình REM................................................................ 53
Hình 4.10 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi ....................................... 54
Hình 4.11 Kết quả kiểm định tự tương quan .......................................................... 55
Hình 4.12 Kết quả hồi quy mô hình REM điều chỉnh, đã khắc phục các khuyết tật
phương sai sai số thay đổi và tự tương quan .......................................................... 56
Hình 4.13 Kết quả kiểm định Hausman ................................................................. 57
Hình 4.14 Kết quả hồi quy mô hình REM.............................................................. 58
Hình 4.15 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi ....................................... 59
Hình 4.16 Kết quả kiểm định tự tương quan .......................................................... 60
Hình 4.17 Kết quả hồi quy mô hình REM điều chỉnh, đã khắc phục các khuyết tật
phương sai sai số thay đổi và tự tương quan .......................................................... 61


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng mô tả các biến .............................................................................. 30
Bảng 3.1 Thống kê mô tả về chỉ số HDI của 50 quốc gia đang phát triển giai đoạn
2003 đến 2015 ....................................................................................................... 35
Bảng 3.2: Chi tiêu chính phủ cho lĩnh vực y tế của các quốc gia đang phát triển giai
đoạn 2003 đến 2015 .............................................................................................. 38
Bảng 3.3: Chi tiêu chính phủ cho lĩnh vực giáo dục của các quốc gia đang phát triển
giai đoạn 2003 đến 2015 ........................................................................................ 39
Bảng 3.4: Bảng thống kê GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương của
các nước đang phát triển trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 2003 - 2015. ................. 41
Bảng 3.5: Bảng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của 50 quốc gia đang phát
triển giai đoạn 2003-2015 ...................................................................................... 42
Bảng 3.6: Bảng hệ số Gini bình quân của 50 quốc gia đang phát triển giai đoạn
2003-2015 ............................................................................................................. 43
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến ......................................................................... 45
Bảng 4.2 Kết quả hồi quy theo các phương pháp ................................................... 47

1998; Filmer và Pritchett, 1997; Bidani và Ravaillon,1997; Thornton, 2002) và chỉ
số học vấn (Ogbu và Gallagher, 1991; Mehrotra, 1998; Gupta, Verhoeven và
Tiongson, 2002). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu này không


2

đồng nhất, một số nghiên cứu cho kết quả tác động tích cực trong khi một số các
nghiên cứu lại ít có ý nghĩa thống kê, thậm chí một số nghiên cứu lại cho kết quả là
tác động ngược chiều giữa chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục với tăng trưởng
kinh tế và cải thiện các chỉ số xã hội. Một số nghiên cứu cũng đã đánh giá tác động
trực tiếp của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục tới HDI (Mohammad Javad
Razmi và cộng sự, 2012; Sanjeev Gupta và cộng sự, 2002; Sudhir Anand và Martin
Ravallion,1993; Opreana & Mihaiu, 2011; Baldacci, Guin-Siu và de Mello, 2003)
trong đó có nhiều nghiên cứu tác động của chi tiêu địa phương cho y tế và giáo dục
tới HDI ở một địa phương cụ thể (Mohammad Javad Razmi và cộng sự, 2012;
Sanusi Fettah và Aspa Muji, 2012; Sudhir Anand và Martin Ravallion,1993), kết
quả nghiên cứu phần lớn ủng hộ cho giả thuyết có sự tác động tích cực từ chi tiêu
chính phủ cho y tế và giáo dục tới HDI, bên cạnh đó cũng có một vài nghiên cứu
chưa chứng minh được chiều tác động giữa chi tiêu công cho y tế và giáo dục tới
HDI. Sự khác biệt giữa các kết quả nghiên cứu còn phụ thuộc vào mẫu nghiên cứu,
địa điểm nghiên cứu,… vẫn còn nhiều tranh cãi trong các kết luận về tác động của
chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục tới HDI, tuy nhiên, đại đa số các nghiên cứu
đều đồng thuận rằng có mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục
với HDI. Đây chính là một khoảng trống nghiên cứu về mặt lý luận cần được
nghiên cứu bổ sung.
Đánh giá tác động của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục đang được thực
tiễn đặt ra hết sức cấp thiết ở tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt là ở các quốc
gia đang phát triển. Việc lượng hóa tác động này sẽ giúp cho chính phủ của các
quốc gia trên thế giới nói chung và các quốc gia đang phát triển nói riêng có những

thiện chỉ số HDI.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Khái niệm, vai trò của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục?
Khái niệm, vai trò, công thức tính của HDI?
Chi tiêu chính phủ cho y tế và cho giáo dục ảnh hưởng như thế nào tới chỉ số
HDI?
Chính sách nào thúc đẩy cải thiện chỉ số HDI ở các nước đang phát triển?
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu


4

Dữ liệu được thu thập từ công bố chính thức của WB và IMF về chi tiêu chính
phủ cho giáo dục, chi tiêu chính phủ cho y tế và chỉ số phát triển con người HDI của
50 quốc gia đang phát triển trong 13 năm từ năm 2003 đến năm 2015.
5.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh để đánh giá thực trạng chi tiêu
chính phủ trong lĩnh vực y tế, giáo dục và chỉ tiêu HDI.
Sử dụng hồi quy mô hình bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS để
lượng hóa tác động của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục tới chỉ tiêu HDI với
650 quan sát bao gồm 50 quốc gia đang phát triển trong 13 năm từ năm 2003 đến
năm 2015.
6. Kêt cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, đề tài có kết cấu 5 chương bao gồm:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của chi tiêu chính phủ trong y tế và giáo
dục đến HDI
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng chỉ số phát triển con người, chi tiêu chính phủ cho y tế
và giáo dục của các quốc gia đang phát triển

quyền địa phương, khu vực và quốc gia (trừ đóng góp của hộ gia đình) đối với các
cơ sở giáo dục (cả nhà nước và tư nhân), quản lý giáo dục và trợ cấp cho các cá
nhân (sinh viên, hộ gia đình và các cá nhân khác). Trong một số trường hợp, dữ liệu
về tổng chi tiêu công cho giáo dục chỉ đề cập đến Bộ giáo dục và có thể loại trừ các
bộ khác dành một phần ngân sách cho các hoạt động giáo dục. Chỉ số này được tính


6

bằng cách chia tổng chi tiêu công cho giáo dục do tất cả các cơ quan, ban ngành của
chính phủ cho tổng chi tiêu của chính phủ và nhân lên 100 để tính phần trăm.
Mohammad Javad Razmi và cộng sự (2012) đưa ra khái niệm về chi tiêu chính
phủ cho lĩnh vực y tế là toàn bộ chi tiêu của chính phủ cho chi phí y tế bao gồm chi
phí điều trị và dự phòng, hoạch định các dịch vụ trong tương lai cho gia đình và chi
phí dự phòng trong trường hợp khẩn cấp.
1.1.2. Vai trò
Đã có một cuộc tranh luận trong nhiều thập kỷ giữa quan điểm của Keynes và
các nhà kinh tế tân cổ điển về tầm quan trọng của sự can thiệp của chính phủ đối
với thị trường. Không ít người đoạt giải Nobel, James Buchanan, lập luận rằng sự
tham gia của chính phủ có thể làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn vì các lựa chọn công
cộng có thể trở nên kém hiệu quả trong thị trường tư nhân phát triển (Buchanan,
1975 Buchanan và Musgrave, 1999). Bên cạnh đó, Tanzi (2005) cho rằng sự tham
gia của chính phủ thường tạo ra các độc quyền công cộng, hạn chế thu hút sự tham
gia của tư nhân. Ông cho rằng chính phủ có nghĩa vụ phải sửa chữa những sai lầm
do thị trường gây ra, hoặc để bù đắp cho những thiếu sót của nó, và không thể thay
thế thị trường.
Có thể thấy Chi tiêu chính phủ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong điều tiết
nền kinh tế và đảm bảo sự phát triển của một quốc gia. Các lý thuyết kinh tế thường
không chỉ ra một cách rõ ràng tác động của chi tiêu chính phủ đến sự phát triển của
một quốc gia. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các chính

những xung đột kinh tế liên quan đến bất bình đẳng xã hội, thuật ngữ phát triển bền
vững bắt đầu được đề cập nhiều hơn. Chính phủ các quốc gia dần thay đổi mục tiêu
phát triển chú trọng nhiều hơn đến phát triển con người, coi phát triển con người là
trung tâm của sự phát triển. Các chi tiêu chính phủ bắt đầu phân bổ nhiều hơn cho
mục tiêu phát triển con người, trong số các nội dung chi tiêu chính phủ, chi tiêu cho
y tế và giáo dục đang được nhiều quốc gia quan tâm và chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng chi tiêu của chính phủ. Các nghiên cứu cũng bắt đầu tập trung đánh giá tác
động của chi tiêu chính phủ cho giáo dục và y tế tới các mục tiêu phát triển khác


8

nhau như tăng trưởng kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo. Một
số nghiên cứu lại đánh giá mức độ hiệu quả của chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực y
tế và giáo dục ở một số quốc gia. Sampaio và Stosic (2005) và Sampaio, Cribari
Neto và Stosic (2008) cho thấy rằng quy mô, được đo bằng dân cư, là một yếu tố
quyết định hiệu quả chi tiêu. Chi phí dịch vụ công có xu hướng cao hơn trong các
khu vực nhỏ hơn, có thể do sự thất bại của họ trong việc khai thác hiệu quả kinh tế
theo quy mô. Còn Luiz de Mello, Mauro Pisu (2009) lại cho rằng, đối với dịch vụ
giáo dục và y tế do chính phủ cung cấp, dường như đang mang lại hiệu suất theo
quy mô, chính vì vậy, chi tiêu chính phủ cho hoạt động dịch vụ y tế và giáo dục có
thể hoạt động với quy mô lớn hơn quy mô cung cấp tối ưu, đặc biệt là ở các khu vực
hạn chế về điều kiện phát triển giáo dục và một số nhóm dân cư có điều kiện tiếp
cận chăm sóc y tế thấp.
Có thể thấy chi tiêu chính phủ có vai trò quan trọng trong lĩnh vực y tế và giáo
dục. Việc gia tăng đầu tư của chính phủ cho y tế và giáo dục sẽ góp phần cải thiện
đáng kể những kết quả và hiệu quả của hai lĩnh vực này.
Theo quan điểm của Mohammad Javad Razmi và cộng sự (2012), trong thế giới
ngày nay, việc hưởng thụ sức khoẻ là một trong những quyền của con người không
thể chuyển nhượng, vì cải thiện tình trạng sức khoẻ và cung cấp các dịch vụ chăm

bổ công cộng cho chăm sóc sức khỏe thứ phát hoặc dịch vụ chữa bệnh là quá mức
(Sahn và Bernier, 1993; Pradhan, 1996).
Chi tiêu của chính phủ có xu hướng tác động đặc biệt yếu, hoặc thậm chí có dấu
hiệu tiêu cực đối với chăm sóc sức khoẻ (Jack, 1999; Filmer, Hammer, và Pritchett,
2000; Thornton, 2002; Self và Grabowski, 2003; Baldacci, Guin-Siu và de Mello,
2003; Fayissa và Gutema, 2005). Về giáo dục, sự tương quan giữa chi tiêu của
chính phủ và kết quả xã hội thường mạnh hơn, mặc dù thu nhập vẫn là dự báo mạnh
nhất (Gupta, Verhoeven và Tiongson, 2002). Các yếu tố quyết định khác, chẳng hạn
như chất lượng quản trị, được đo lường dựa trên cơ sở nhận thức tham nhũng và các
chỉ số chất lượng của các quan chức, cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa chi tiêu
của chính phủ và kết quả xã hội (Rajkumar và Swaroop, 2008). Hơn nữa, những hạn
chế về tín dụng và biến động thu nhập có thể ảnh hưởng đến kết quả giáo dục (Flug,
Spilimbergo và Watchenheim, 1998).


10

Sa (2005) tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa chi tiêu của chính phủ và sức khoẻ,
được đo bằng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Chi tiêu của chính phủ phụ thuộc tiêu cực
vào chi phí cung cấp dịch vụ, được đo bằng tiền lương trung bình của nhân viên y
tế, và phụ thuộc tích cực về thu nhập. Alves và Belluzzo (2005) báo cáo những kết
luận tương tự về tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh: ảnh hưởng của thu nhập là tiêu cực và
có ý nghĩa thống kê, trong khi đó giáo dục và cơ sở hạ tầng y tế dường như có một
tác động hạn chế hơn.
Trong nghiên cứu của Luiz de Mello, Mauro Pisu (2009) kết luận: Chi tiêu của
chính phủ ảnh hưởng tích cực đến mức độ cải thiện tình trạng giáo dục, trong khi
điều đó cũng không thật sự đúng đối với sức khoẻ. Ngoài ra, chúng tôi thấy rằng chi
tiêu của chính phủ cho các chương trình khác ngoài giáo dục cũng rất quan trọng:
tác động của nó đối với cải thiện giáo dục thực sự mạnh hơn so với việc chính phủ
chỉ tập trung chi tiêu cho lĩnh vực giáo dục. Do đó, việc chính phủ tập trung chi tiêu

một bộ máy hành chính kém hiệu quả, chi tiêu y tế công cộng thường kém hiệu quả.
Tương tự, tăng chi tiêu công cho giáo dục tiểu học dường như có hiệu quả hơn
trong việc nâng cao trình độ học vấn ở các nước có sự quản lý tốt trong chi tiêu
(Rajkumar và Swaroop, 2008).
Các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến thành phần của chi tiêu công. Sự
chú ý này xuất phát từ sự tin tưởng rằng chi tiêu của chính phủ Thái Lan đối với
giáo dục và chăm sóc sức khoẻ có thể tăng tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy bình đẳng
về thu nhập và giảm nghèo đói (Barro, 1991; Chu, 1995; Tanzi và Chu, 1998). Các
tổ chức tài chính quốc tế, các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ kêu gọi tăng
chi tiêu của chính phủ cho giáo dục và chăm sóc sức khoẻ. Ngoài ra, một số lượng
rất nhiều nghiên cứu đã ghi nhận những hậu quả kinh tế bất lợi của tham nhũng; đặc
biệt là các nghiên cứu cho thấy tham nhũng gắn liền với chi tiêu quân sự cao hơn
(Gupta et al., 2001) và chi tiêu cho giáo dục và y tế thấp hơn (Mauro, 1998). Những
nghiên cứu này cung cấp bằng chứng cho thấy các chính sách nhằm giảm tham
nhũng dẫn đến tăng chi tiêu cho các khoản chi tiêu có hiệu quả hơn, như giáo dục
và chi tiêu cho y tế.
Trong nghiên cứu của Sanjeev Gupta và cộng sự (1998) cũng đã chứng minh từ
giữa những năm 1980, chi tiêu bình quân cho giáo dục và y tế đã tăng ở các nước
đang phát triển nhưng giảm trong các nền kinh tế chuyển đổi. Nhưng phần lớn chi


12

tiêu công cho giáo dục và y tế là dành cho giáo dục đại học và các dịch vụ chăm sóc
sức khoẻ. Do đó, ở một số quốc gia, có thể cần phải thay đổi thành phần của chi tiêu
công bằng cách tăng chi cho giáo dục tiểu học và sức khoẻ dự phòng có thể đảm
bảo rằng các khoản chi tiêu xã hội được phân bổ một cách công bằng hơn đồng thời
thúc đẩy phát triển con người. Như vậy có thể thấy rằng, xu hướng tập trung chi tiêu
cho giáo dục và y tế được các nước đang phát triển thực hiện nhằm tạo ra những
hiệu quả tích cực nhằm đạt các mục tiêu phát triển của quốc gia. Ngoài ra, Filmer et

cộng đồng thì không thể phản ánh được đầy đủ các mặt trong đời sống xã hội của
con người trong quốc gia hay cộng đồng đó. Các cuộc thảo luận về “các mục tiêu
phát triển” sau những năm 1980 thường nhấn mạnh đến việc giảm nghèo, ví dụ như
tăng thu nhập bình quân (WB, 1990, 1991). Vai trò của các dịch vụ xã hội (đặc biệt
là y tế cơ bản và giáo dục) cũng được nhấn mạnh nhiều hơn trong những năm 1980,
mặc dù các dịch vụ này được xem chủ yếu là công cụ để nâng cao thu nhập của
người nghèo (WB, 1980). Những năm cuối thế kỷ XX, một trong những cách tiếp
cận được cộng đồng quốc tế chấp nhận và phản ánh khá bao quát sự đa dạng của
quá trình phát triển đó là cách tiếp cận dựa vào phát triển con người (Nguyễn Đình
Tuấn, 2014).
Theo báo cáo phát triển con người năm 1990 cho rằng cần có sự phân biệt cơ bản
giữa phương tiện phát triển và mục tiêu phát triển. UNDP đã đưa ra tuyên ngôn đầy
ấn tượng “của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó. Và
mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người
được hưởng cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh và sáng tạo”(UNDP,1990). Con người
là vốn quý của xã hội, giữ vai trò vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của tiến trình cải
biến tự nhiên và xã hội. Nguồn lực con người được xem xét, dự tính như một tiềm
năng, một điều kiện cần và có thể phát huy thành động lực cho quá trình phát triển
xã hội. Phát triển con người chính là nhằm gia tăng các giá trị về tinh thần, đạo đức,
tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng lẫn thể chất cho con người, làm cho con người trở thành
người lao động có những năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng được yêu cầu
ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.”Trên thực tế, chúng ta có thể
nói rằng phát triển con người có hai khía cạnh: Một khía cạnh liên quan đến khả
năng của con người, chẳng hạn như cải thiện sức khoẻ, kiến thức và kỹ năng và các


14

khía cạnh khác khả năng lựa chọn cơ hội và lợi ích, như hoạt động chính trị, và các
vấn đề văn hoá (Gustav Ranis, 2004).

Khái niệm phát triển con người có lịch sử phát triển khá dài nhưng nguyên tắc
chính vẫn giữ nguyên: con người là của cải của một quốc gia, và sự phát triển,
quyền tự do, khả năng và sự lựa chọn của con người là mục tiêu cuối cùng của quá
trình phát triển (UNDP, 1990). Thông thường, người ta đánh giá “hạnh phúc” của
một người thông qua mức độ sở hữu hàng hóa. Các biện pháp chính xác được sử
dụng trong thực tế có thể khác nhau; nó có thể chỉ đơn giản là thu nhập từ tiền hoặc
có thể là “tiện ích về tiền tệ”, theo đó thu nhập từ tiền được điều chỉnh bởi sự khác
biệt về giá cả, các cá nhân phải đối mặt với việc đưa ra thứ tự ưu tiên về các hàng
hóa thay thế khi mức thu nhập là có hạn. Cách tiếp cận phổ biến là coi yếu tố mức
độ sở hữu hàng hóa là vấn đề quan trọng trong việc đánh giá mức sống (Sudhir
Anand và Martin Ravallion,1993).
Cách tiếp cận này đã bị phản bác bởi Sen (1977b, 1984, 1985, 1987a, b). Sen chỉ
trích về việc sử dụng cả “sự sang trọng” (thu nhập, giàu có và sở hữu hàng hóa) và
“tiện ích” (được hiểu như là hạnh phúc, mong muốn thực hiện, hoặc đơn giản là sự
lựa chọn) như là các thang đo đo lường hạnh phúc, ông cho rằng việc lựa chọn sai
không gian nghiên cứu đã đưa ra những đánh giá như vậy. Thay vào đó, ông lập luận
rằng “hạnh phúc” là phải có một cuộc sống tốt, nghĩa đen được hiểu là có thể sống
lâu, được nuôi dưỡng tốt, khỏe mạnh, biết chữ,... Như Sen (1987a) đưa ra, giá trị của
tiêu chuẩn sống nằm trong đời sống, chứ không phải trong việc sở hữu hàng hóa,
người ta có thể nghĩ đến tiện ích như xuất phát từ việc thực hiện mong muốn của một
cá nhân. Các căn cứ về “lợi ích” và “thu nhập thực tế” trong lý thuyết lựa chọn xã hội
cho thấy thiếu sự giải quyết các thành tựu, tự do và năng lực (liên quan đến việc
không có lợi hoặc không có thu nhập). Do đó cần phải vượt xa kinh tế học phúc lợi
truyền thống trong việc đánh giá mức sống.
Nói chung, các khả năng không thể được đánh giá bằng cách nhìn vào những
thành tựu của con người, trừ những khả năng cơ bản nhất định như những vấn đề
liên quan đến tránh tử vong, bệnh tật và đói. Mọi người sẽ có xu hướng ưu tiên các
chức năng cơ bản như vậy và sẽ đánh giá chúng theo cách tương tự. Để đánh giá
phúc lợi của người dân ở các nước đang phát triển, phương pháp tiếp cận phát triển


sống. Ngoài ra, tăng cường năng lực cũng giúp cho con người có thể tiến hành
các hoạt động mang lại năng suất cao và sự sáng tạo.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status