BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
HỒ VĂN NHUẬN
“ÁP DỤNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG XỬ LÝ Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC
Ở BẾN TRE”
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
HỒ VĂN NHUẬN
“ÁP DỤNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG XỬ LÝ Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC
Ở BẾN TRE”
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã ngành: 8380107
Giảng viên hướng dẫn:
TS. ĐẶNG ANH QUÂN
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018
PHÁP
LUẬT BẢO
VỆ
MÔI
TRƯỜNG TRONG KIỂM SOÁT, XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
NƯỚC TẠI TỈNH BẾN TRE ........................................................................ 20
1.3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ................................................................... 27
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................ 30
CHƢƠNG 2.............................................................................................................. 31
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG XÁC ĐỊNH VÀ
XỬ LÝ HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG NƢỚC ............................. 31
2.1. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG XÁC
ĐỊNH VÀ XỬ LÝ HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC ..... 31
1
2.2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG XÁC ĐỊNH VÀ XỬ LÝ HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG NƯỚC TẠI TỈNH BẾN TRE ...................................................... 37
2.3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ................................................................... 46
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................ 49
KẾT LUẬN CHUNG .............................................................................................. 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 53
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PH M PHÁP LUẬT ......................................... 56
Luật BVMT 2014
Luật Bảo vệ môi trường 2014
Nghị định số 155/2016/NĐ-CP
Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban
hành ngày 18 tháng 11 năm 2016 quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường
UBND
Ủy Ban Nhân Dân
4
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề liên quan đến việc
áp dụng các quy định pháp luật bảo vệ môi trường vào hoạt động xử lý ô nhiễm
nguồn nước tại địa bàn tỉnh Bến Tre. Công trình tập trung làm rõ nội hàm các quy
định pháp luật, đánh giá thực trạng, chỉ ra mốt số điểm bất cập hạn chế trong quy
định pháp luật và cơ chế áp dụng trên thực tế. Từ đó đưa ra các giải pháp để khắc
phục, hoàn thiện nhằm góp phần đưa hoạt động xử lý ô nhiễm nguồn nước ở tỉnh
Bến Tre đạt chất lượng, hiệu quả.
TỪ KHÓA
Nguồn nước, ô nhiễm nguồn nước, pháp luật bảo vệ môi trường, áp dụng pháp luật
bảo vệ môi trường, Bến Tre.
thành của đồng bằng sông Cửu Long, được hợp thành bởi 3 cù lao lớn gồm An Hóa,
Bảo và Minh do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, sông
Hàm Luông và sông Cổ Chiên) bồi tụ tạo nên qua nhiều thế kỷ. Bến Tre bốn bề đều
có sông nước bao bọc, hệ thống kênh rạch chằng chịt, ăn thông với nhau, nối liền
1
Hải Yến, Những sự thật gây ngạc nhiên về Trái Đất, truy cập ngày 31/10/2018.
6
với các sông lớn.2 Hiện nay, tình trạng ô nhiễm nguồn nước tại địa bàn tỉnh Bến Tre
vẫn còn phổ biến, nhiều vụ việc gây ô nhiễm nguồn nước chưa được xử lý triệt để
gây bức xúc cho dư luận xã hội như trường hợp của Công ty cổ phần xuất nhập
khẩu thủy sản Bến Tre tại xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre bị ngành
chức năng phát hiện quả tang xả nước thải ra sông Tiền nhưng doanh nghiệp này
chỉ bị lập biên bản và nhắc nhở chứ không bị xử phạt; 3 hay trường hợp của công ty
May cây Dừa tại xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã xổ xả nước
thải, hóa chất xuống kênh rạch nhiều năm liền gây bức xúc cho người dân nhưng
vẫn không được xử lý một cách triệt để4… Thực trạng trên đã và đang làm cho
nguồn nước trên địa bàn tỉnh bị hủy hoại nghiêm trọng, điều này tác động trực tiếp
đến sức khỏe, tính mạng và môi trường sống của người dân, làm suy giảm hiệu quả
năng suất nền kinh tế trên phạm vi địa bàn. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích, đánh
giá và chỉ ra điểm hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật cũng như việc áp dụng
các quy định bảo vệ môi trường trong việc kiểm soát, xử lý ô nhiễm nguồn nước
trên địa bàn để từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục hoàn thiện là vô cùng quan
trọng và cấp thiết. Nhận thức được điều đó, tác giả quyết định chọn đề tài “Áp dụng
pháp luật bảo vệ môi trường trong xử lý ô nhiễm nguồn nước ở Bến Tre” đề làm
đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
đồng bằng Sông Cửu Long, chỉ ra được những điểm bất cập, hạn chế trong việc quy
định và áp dụng pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn, đồng thời đưa ra
được một số kiến nghị cần thiết để góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên nước trên địa
bàn đồng bằng sông Cửu Long phát triển một cách bền vững. Công trình có giá trị
tham khảo, tuy nhiên nội dung thể hiện còn mang tính sơ lược, chưa mang tính
chuyên sâu.
- Tiêu Thị Hà (2010), Pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông ở Việt
Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã làm sáng tỏ được
các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về bảo vệ môi trường nước lưu vực
sông ở Việt Nam, đồng thời đưa ra được một số khuyến nghị cho việc xây dựng,
hoàn thiện pháp luật thực định cũng như thúc đẩy thực thi các quy định pháp luật
này trên thực tế. Tuy nhiên, công trình này chỉ tập trung nghiên cứu một cách sơ
lược các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường nước tại các lưu vực sông ở Việt
Nam mà chưa có sự đánh giá một cách toàn diện về vấn đề áp dụng trên thực tế.
- Phương Chi (2012), “Khắc phục ô nhiễm nguồn nước đảm bảo phát triển
bền vững”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, số
17(151). Trong bài viết, tác giả chủ yếu tập trung phân tích và làm rõ vai trò của
8
hoạt động khắc phục ô nhiễm môi trường nước trong việc đảm bảo sự phát triển bền
vững. Bài viết đã đánh giá được thực trạng, chỉ ra được những điểm hạn chế, bất
cập và đưa ra được một số khuyến nghị cần thiết để phục vụ cho việc khắc phục ô
nhiễm nguồn nước nhằm đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững. Bài viết có giá trị
tham khảo, tuy nhiên nội dung bài viết chỉ mới dừng lại ở phạm vi hoạt động khắc
phục ô nhiễm mà chưa bao quát hết tất cả các khâu cần thiết khác nhau.
- Lê Anh Tuấn (2015), “Xây dựng hệ thống pháp luật kiểm soát ô nhiễm
nguồn nước”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, số
12(218). Trong bài viết, tác giả tập trung phân tích và chỉ ra sự cần thiết trong việc
Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và một số văn bản có liên
quan khác.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Các vụ việc, vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài đều
nằm trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu các vụ việc và vấn đề pháp lý kể từ giai
đoạn năm 2005 đến nay.
5. Phƣơng pháp tiến hành nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng chủ yếu những phương pháp
sau:
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng để phân tích nội hàm của các quy
định pháp luật bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật có liên quan đến việc
xử lý ô nhiễm nguồn nước tại địa bàn tỉnh Bến Tre. Phương pháp này được dùng
chủ yếu và phổ biến ở cả hai chương của luận văn.
- Phương pháp so sánh: Dùng để so sánh giữa các quy định pháp luật có liên
quan, so sánh giữa các quy định pháp luật hiện hành với các quy định pháp luật
trước đây. Phương pháp này được sử dụng ở Chương 2 của luận văn.
- Phương pháp thống kê: Được sử dụng để cung cấp các thông tin, số liệu và
dữ liệu liên quan đến áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường trong xử lý ô nhiễm
nguồn nước tại địa bàn tỉnh Bến Tre để phục vụ cho việc thực hiện đề tài… Phương
pháp này được sử dụng ở cả hai chương của luận văn.
10
- Phương pháp chứng minh: Được dùng để chứng minh cho những nhận định
và kiến nghị của tác giả về thực trạng pháp luật, chứng minh tính cần thiết, tính khả
thi của các kiến nghị. Phương pháp này được tác giả sử dụng ở cả hai chương.
vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của
con người và sinh vật.5 Trong đó, các yếu tố vật chất tự nhiên như đất, nước, không
khí, âm thanh, ánh sáng, các hệ thực vật, động vật, tài nguyên thiên nhiên… là
những thành phần cơ bản của môi trường, là cơ sở cần thiết cho sự tồn tại và phát
triển của con người và sinh vật. Như vậy, nước là một trong những yếu tố quan
trọng cấu thành môi trường, vì vậy hoạt bảo vệ môi trường phải gắn liền với hoạt
động kiểm soát, xử lý ô nhiễm nguồn nước. Hoạt động bảo vệ môi trường chỉ có thể
đạt được hiệu quả tối ưu khi hoạt động bảo vệ nguồn nước được đảm bảo.
Nước là một hợp chất hóa học gồm oxy và hidro, có công thức hóa học là
H2O. Việt Nam có nguồn nước rất phong phú, đa dạng bao gồm sông, suối, kênh,
rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các
dạng tích tụ nước khác.6 Nguồn nước đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự
tồn tại, phát triển của con người và sinh vật, vì vậy bảo vệ môi trường nước cũng
chính là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta. Hiện nay, các vấn đề pháp lý về bảo
vệ môi trường nước ở các lưu vực sông, nước dưới đất và các nguồn nước khác như
ao, hồ, kênh, mương, rạch, các hồ chứa nước phục vụ mục đích thủy lợi, thủy điện
được quy định từ Điều 52 đến Điều 58 Chương IV Luật BVMT 2014.
Bảo vệ môi trường nước sông là một trong những nội dung cơ bản của quy
hoạch, kế hoạch khai thác, sử dụng nước sông. Để bảo vệ môi trường nước sông,
đòi hỏi chủ nguồn thải khi thải chất thải vào lưu vực sông phải đảm bảo phù hợp
5
6
Khoản 1, Điều 3 Luật BVMT 2014.
Khoản 2 Điều 2 Luật Tài nguyên nước 2012.
12
với sức chịu tải của sông.7 Nguồn thải hiện nay rất đa dạng nhưng chủ yếu vẫn xuất
nhất định thông qua khả năng tự lọc sạch hoặc tác động của dòng chảy.
10
Theo quy định tại khoản 26 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính
phủ về quản lý chất thải và phế liệu quy định: “Hạn ngạch xả nước thải là giới hạn tải lượng của từng chất
gây ô nhiễm hoặc thông số trong nước thải do cơ quan quản lý nhà nước ban hành đối với từng nguồn tiếp
nhận nước thải nhằm đảm bảo việc xả nước thải không vượt quá sức chịu tải của môi trường nước.”
11
Khoản 3 Điều 52 Luật BVMT 2014.
8
13
kịp thời phát hiện các dấu hiệu ô nhiễm nguồn nước từ các lưu vực sông để từ đó có
giải pháp xử lý hiệu quả, kịp thời nhằm duy trì chất lượng môi trường nước trước
các nguy cơ tiềm ẩn từ hoạt động xả thải của con người. Để đánh giá được chất
lượng nước sông đòi hỏi phải thường xuyên thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám
sát định kỳ thông qua các phương tiện, thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại bởi các
chủ thể có chuyên môn. Việc theo dõi đánh giá nước sông phải gắn liền với việc
theo dõi đánh giá trầm tích12, bởi trầm tích là các chất xuất hiện tồn tại trong nước
sông và được vận chuyển theo dòng chảy của nước. Trầm tích có thể bao gồm nhiều
hoạt chất khác nhau, trong đó có những chất gây hại và những chất không gây hại,
tuy nhiên, hiện nay đa phần trầm tích là các chất có khả năng gây hại cho môi
trường nước. Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan quản lý và các chủ thể có liên quan phải
thường xuyên thực hiện các hoạt động, đánh giá theo dõi các vấn đề liên quan đến
trầm tích để phục vụ đảm bảo an toàn trong hoạt động bảo vệ môi trường nước tại
các lưu vực sông. Hoạt động đánh giá chất lượng môi trường nước và trầm tích
không chỉ thực hiện trong phạm vi khu vực nội địa mà còn phải được tiến hành ở
các sông xuyên biên giới và phải chia sẻ những thông tin cần thiết liên quan đến
hoạt động này dựa trên thông lệ và pháp luật quốc tế.13 Điều này là cần thiết, bởi
Khi khai thác, sử dụng nguồn nước sông các chủ thể phải đảm bảo khai thác an
toàn, sử dụng hiệu quả, hợp lý, đa mục tiêu, tránh tình trạng khai thác quá mức cho
phép, sử dụng lãng phí nguồn nước sông.
Hơn nữa, một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước tại các lưu
vực sông hiện nay là do các hành vi xả thải quá mức của con người, điều này rất
nguy hiểm và gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng. Cho nên, để kiểm soát
và xử lý hiệu quả ô nhiễm môi trường nước sông, các chủ thể phải có trách nhiệm
thực hiện giảm thiểu và xử lý chất thải trước khi xả thải vào lưu vực sông.15 Để làm
được điều này đòi hỏi các chủ thể có hành vi phát thải phải đầu tư các trang thiết bị,
phương tiện cần thiết để phục vụ cho việc xử lý các loại chất thải đạt yêu cầu theo
tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi thải vào nguồn nước. Tăng
cường thiết lập các trạm quan trắc nước thải tự động, liên tục để theo dõi, kiểm tra,
giám sát nồng độ các chất gây ô nhiễm có trong nước thải, đầu tư các hệ thống xử lý
nước thải để xử lý nước thải, bùn thải trước khi thải ra ngoài môi trường, xây dựng
các nhà máy tái sử dụng, tái chế, xử lý các loại chất thải rắn để hạn chế việc phát
thải vào nguồn nước. Đồng thời, các chủ thể phát thải còn phải tổ chức thống kê,
đánh giá về tình hình phát thải cũng như giảm thiểu tối đa việc xả thải vào nguồn
nước ở các lưu vực sông. Đối với những dòng sông, đoạn sông bị ô nhiễm đòi hỏi
các chủ thể có liên quan phải có trách nhiệm thực hiện các biện pháp cần thiết để
14
15
Khoản 4 Điều 52 Luật BVMT 2014.
Khoản 5 Điều 52 Luật BVMT 2014.
15
phục vụ kịp thời cho việc xử lý ô nhiễm và cải thiện môi trường nước. Trách nhiệm
xử lý ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường nước trước tiên sẽ thuộc về các
Được thực hiện lập đối với các cơ sở có quy mô vừa và nhỏ, tính chất tương đương với đối tượng phải
đăng ký bản kế hoạch bảo vệ môi trường quy định tại Khoản 1 Điều 18 Nghị định 18/2015/NĐ-CP, đề án
này gửi cơ quan có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 19 nghị định 18/2015/NĐ-CP để đăng ký.
17
16
phương án, giải pháp phù hợp để giảm thiểu và xử lý ô nhiễm môi trường nước tại
các lưu vực sông một cách hiệu quả.
Đối với các nguồn nước tại ao, hồ, kênh, mương, rạch, đây là nguồn nước
đóng vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo duy trì lượng nước để phục vụ cho các
hoạt động sinh hoạt, tưới tiêu nông nghiệp, phát triển kinh tế. Nếu nguồn nước này
bị suy thoái, ô nhiễm sẽ để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, vì vậy đòi hỏi các chủ
thể liên quan cần phải tuân thủ, thực hiện tốt, hiệu quả việc kiểm soát, xử lý ô
nhiễm môi trường nước tại hồ, ao, mương, kênh, rạch.19 Để thực hiện được điều đó
đòi hỏi các tổ chức, cá nhân trong xã hội không được thực hiện các hoạt động lấn
chiếm, xây dựng trái phép công trình, nhà ở trên mặt nước hoặc trên bờ tiếp giáp
mặt nước ao, hồ, kênh, mương, rạch. Việc lấn chiếm, xây dựng trái phép các công
trình, nhà cửa sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước, ảnh hưởng đến
dòng chảy, làm suy thoái hệ sinh thái vùng đất ngập nước. Đối với hồ, ao, kênh,
mương, rạch trong các khu đô thị, khu dân cư phải được quy hoạch phù hợp để phục
vụ cho việc cải tạo, bảo vệ, kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường nước tại các khu
vực này được hiệu quả. Các chủ thể sinh sống tại các khu đô thị, khu dân cư phải
hạn chế tối đa việc san lấp ao, hồ bởi nếu thực hiện việc san lấp một cách vô tội vạ
thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, tác hại gây ra không chỉ gây ô nhiễm, suy
thoái, cạn kiệt nguồn nước mà còn có khả năng dẫn đến tình trạng ngập lụt do
không có ao, hồ để chứa nước khi mưa lớn kéo dài hoặc thủy triều lên. Bên cạnh đó,
các chủ thể quản lý Nhà nước cần phải thực hiện tốt các hoạt động điều tra, đánh giá
trữ lượng, chất lượng nguồn nước tại các ao, hồ, kênh, mương, rạch. Phải thường
nguyên hiện trạng các hồ chứa nước sẽ đóng vai trò quan trọng quyết định không
chỉ trong việc duy trì chất lượng nguồn nước mà còn bảo vệ được sự đa dạng sinh
thái tại các hồ chứa nước. Ngoài ra, để đảm bảo hiệu quả trong việc kiểm soát, xử lý
ô nhiễm nguồn nước tại các hồ chứa nước đòi hỏi các chủ thể quản lý các hồ chứa
nước phải có trách nhiệm thực hiện quan trắc môi trường nước hồ định kỳ tối thiểu
ba tháng một lần.21 Việc thực hiện hoạt động quan trắc định kỳ sẽ đảm bảo cung cấp
kịp thời các thông tin về diễn biến chất lượng môi trường nước, qua đó giúp cảnh
báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi
trường nước tại các hồ chứa nước, để từ đó xây dựng được các cơ sở dữ liệu về chất
lượng môi trường nước tại các hồ chứa nước để phục vụ hiệu quả cho công tác kiểm
soát, xử lý ô nhiễm môi trường nước tại các khu vực này.
20
21
Xem thêm Điều 56 Luật BVMT 2014.
Xem thêm Điều 57 Luật BVMT 2014.
18
Đối với nguồn nước dưới đất, đây cũng là nguồn nước đóng vai trò quan
trọng trong việc duy trì nguồn nước mặt, nếu nguồn nước dưới đất bị ô nhiễm, suy
thoái hoặc bị suy giảm thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng và trữ
lượng nguồn nước mặt, điều này sẽ tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống và
các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế của con người vì vậy việc bảo vệ nguồn
nước ngầm là rất quan trọng, cần thiết. Để bảo vệ, kiểm soát và xử lý ô nhiễm
nguồn nước dưới đất được hiệu quả, đòi hỏi các chủ thể khi tiến hành các hoạt động
thăm dò, khai thác nước dưới đất chỉ được phép sử dụng những loại hóa chất có
trong danh mục được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép, tránh sử dụng các
loại hóa chất độc hại có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường cao và không
Tóm lại, hiện nay các quy định pháp luật bảo vệ môi trường về kiểm soát, xử
lý ô nhiễm môi trường nước đã được xây dựng và hoàn thiện, điều này đã tạo được
nền tảng cơ sở pháp lý vững chắc để phục vụ cho hoạt động bảo vệ môi trường
nước đạt hiệu quả. Đồng thời, góp phần quan trọng vào việc ràng buộc trách nhiệm,
điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong việc tuân thủ và thực hiện đúng theo các
yêu cầu trong hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và hoạt động kiểm soát và xử
lý ô nhiễm môi trường nước nói riêng.
1.2. THỰC TR NG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI
TRƢỜNG TRONG KIỂM SOÁT, XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG NƢỚC
T I TỈNH BẾN TRE
Hiện nay, mặc dù Nhà nước đã xây dựng và ban hành các quy định pháp luật
điều chỉnh về vấn đề kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường nước. Tuy nhiên, tại
Bến Tre việc tuân thủ, thực hiện theo đúng các yêu cầu quy định pháp luật chưa thật
sự đạt hiệu quả, tình trạng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động
kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường nước còn phổ biến, nhiều vụ việc gây bức
xúc dư luận xã hội còn tồn tại.
Hoạt động kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường nước tại các lưu
vực sông trên địa bàn tỉnh chưa đạt yêu cầu. Theo Trung tâm Quan trắc môi trường
Bến Tre, qua nghiên cứu chất lượng nguồn nước mặt tại 54 điểm trong tỉnh cho kết
quả chỉ 16% mẫu nước có thể sử dụng cho sinh hoạt, hơn 45% mẫu nước có chất
lượng thấp, 38% mẫu nước bị nhiễm mặn, 11/18 điểm nước chảy qua các thị trấn và
TP. Bến Tre chất lượng nước mặt bị ô nhiễm.24 Song, hiện nay đa phần tại địa bàn
tỉnh Bến Tre chưa có hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải từ hoạt
động của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa được thu gom, xử lý triệt để.
24
Cổng thông tin điện tử Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bến Tre, Bến Tre nhiều nguồn nước bị ô nhiễm
nặng, truy cập ngày
24/10/ 2018.
Thành Nhớ, Bến Tre: Doanh nghiệp chiếm đất bãi bồi xây dựng công trình trái phép, truy cập ngày 24/
10/2018.
26
Mỹ Tho, Bến Tre nhiều nguồn nước bị ô nhiễm nặng, truy cập ngày 24/10/2018.
21
Hơn nữa, đa phần việc thu gom chất thải tại các địa phương trên địa bàn tỉnh
đều giao khoán cho tư nhân tự thực hiện và tự liên hệ tìm chỗ xử lý, tuy nhiên hiện
nay phần lớn khối lượng chất thải được xử lý bằng cách đổ xuống sông, điều này
làm ảnh hưởng môi trường sống xung quanh và gây ô nhiễm môi trường nước.
Nước thải y tế ở hầu hết các bệnh viện trong tỉnh xử lý chưa đạt yêu cầu, như Bệnh
viện Cù Lao Minh còn xả thải trực tiếp xuống sông. Tại các khu vực trồng cây
lương thực, thực phẩm, cây ăn trái như Chợ Lách, Châu Thành, Giồng Trôm, Ba
Tri, Mỏ Cày tình trạng người dân sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu độc hại
và thải bỏ trực tiếp các bào bì chứa đựng các loại hóa chất độc hại vào nước sông
rất phổ biến làm cho môi trường nước bị ô nhiễm nghiêm trọng. Bên cạnh đó, việc
đầu tư cho xử lý nước thải và bùn đáy ao trong nuôi thủy sản chưa được quan tâm
đúng mức, nhiều nơi còn trực tiếp thải ra sông, gây ô nhiễm nguồn nước, nhất là
trên sông Ba Lai.27 Theo điều tra của các cơ quan quản lý chuyên môn, lĩnh vực
chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy cầm những năm gần đây phát triển mạnh, nhưng
hiện chỉ có khoảng 40% số hộ chăn nuôi lợn, bò có đầu tư xây dựng hệ thống xử lý
chất thải bằng hầm, túi biogaz, nhưng trong đó chỉ có khoảng 20% đạt tiêu chuẩn
môi trường, số còn lại xả trực tiếp ra sông, rạch làm ảnh hưởng lớn đến đời sống
người dân trong khu vực, nhất là ô nhiễm do nuôi lợn trên địa bàn huyện Mỏ Cày,
nuôi bò và thủy cầm trên địa bàn huyện Ba Tri.28 Hơn nữa, toàn tỉnh hiện có 22 làng
nghề truyền thống, nhưng phần lớn là không đầu tư xây dựng công trình xử lý nước
thải hoặc có xây dựng nhưng không đồng bộ, nước thải sau xử lý không đạt tiêu
mương, rạch trên địa bàn tỉnh Bến Tre cũng chưa được quan tâm và thực hiện đúng
mức. Tình trạng tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi lấn chiếm, xây dựng trái
phép các công trình, nhà ở trên mặt nước hoặc trên bờ tiếp giáp với mặt nước hồ,
ao, kênh, mương, rạch vẫn còn phổ biến, tình trạng san lấp ao, hồ trong các khu dân
cư, khu đô thị diễn ra rất phổ biến điều này làm cho môi trường nước tại các ao, hồ,
kênh, mương, rạch bị ô nhiễm, suy thoái nghiêm trọng. Đơn cử như tình trạng kênh
Mỏ Cày đoạn đi qua huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre có rất nhiều công trình kiên
cố và thô sơ vi phạm hành lang bảo vệ nguồn nước. Hiện toàn tuyến kênh có 54
trường hợp vi phạm tại các xã Tân Hội, Đa Phước Hội, An Thạnh và thị trấn Mỏ
Cày, điển hình là 2 công trình của ông Lê Tấn Tài (Công ty TNHH chăn nuôi, thức
ăn gia súc Tấn Lợi) tại km 8+680, km 9+350 và công trình của ông Vũ Dương
Thành (cơ sở sản xuất nước đá) tại km 8+760. Các công trình này đã lấn chiếm vào
hành lang bảo vệ luồng nước từ 3,2 – 10,5 mét nhưng đến nay chưa được tháo dỡ
mà vẫn ngang nhiên tồn tại, gây bức xúc cho dư luận, gây khó khăn, tai nạn cho các
phương tiện lưu thông, làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường nước tại tuyến kênh
30
Xem thêm Lê Quang Nhung, Giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường ở Bến Tre, ndan.
com.vn /khoahoc/item/14725002-.html, truy cập ngày 24/10/2014.
23