Xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên địa bàn quảng bình - Pdf 47

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

ON TIN DNG

xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi tr-ờng
trên địa bàn quảng bình

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

ON TIN DNG

xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi tr-ờng
trên địa bàn quảng bình
Chuyờn ngnh: Lut kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. Lấ KIM NGUYT

H NI 2017


LỜI CAM ĐOAN


1.1.1.

Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường ....................... 8

1.1.2.

Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta ........................... 12

1.2.

Khái niệm, nội dung và vai trò của xử lý vi phạm pháp luật
bảo vệ môi trường ............................................................................ 15

1.2.1.

Khái niệm, đặc điểm của vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường .................................. 15

1.2.2.

Nội dung điều chỉnh của pháp luật xử lý vi phạm trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường ....................................................................... 20

1.2.3.

Vai trò của xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam ....... 28

1.3.


2.2.2.

Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình .......................................... 53

2.2.3.

Thực trạng bồi thường thiệt hại về môi trường trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình ........................................................................................ 58

2.2.4.

Thực trạng xử lý tội phạm về môi trường trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình ........................................................................................ 63

2.2.5.

Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém ....................................... 67

Kết luận chương 2 ......................................................................................... 71
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ VI PHẠM
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG BÌNH ....................................................................... 72
3.1.

Tính cấp thiết của việc nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường ...................................................... 72

3.1.1.


BTTH

Bồi thường thiệt hại

BVMT

Bảo vệ môi trường

LMT

Luật môi trường

MT

Môi trường

NN

Nhà nước

ÔNMT

Ô nhiễm môi trường

QLNN

Quản lý nhà nước

UNESCO



Bảng 2.5. Tổng thiệt hại ước tính của sự kiện Formosa đến 4 tỉnh
Miền Trung năm 2016

59

Bảng 2.6. Tổng thiệt hại ước tính của sự kiện Formosa đến các địa
phương tại tỉnh Quảng Bình

60


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

Tên biểu đồ

Trang

Biểu đồ 2.1. Tổng số cơ sở thanh tra và xử phạt vi phạm hành
chính giai đoạn 1996 đến 2001

40

Biểu đồ 2.2. Số tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính do thanh tra
chuyên ngành môi trường (giai đoạn 2005 – 2008)

41


xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên,
cùng với những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, vấn
đề môi trường đã và đang đặt ra những thách thức lớn. Bảo vệ môi trường
hiện nay là nghĩa vụ của tất cả các cá nhân, tổ chức ở nước ta và được pháp
luật ghi nhận và bảo vệ. Điều 50 Hiến pháp quy định:
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền
kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc
tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước [48].
Hiến pháp 2013 ghi nhận quy định như sau:
1. Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng

1


hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn
thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai,
ứng phó với biến đổi khí hậu…. nội dung về vấn đề bảo vệ môi
trường nói chung [47, Điều 63].
Bên cạnh đó, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41-NQ/TW ngày
15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước [5]; Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia
đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt theo Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003;
Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ban hành Định hướng chiến lược phát
triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) do
Chính phủ ban hành [10], chính là những tiền đề cơ bản khẳng định sự
cần thiết của hoạt động BVMT ở nước ta trong tiến trình hội nhập và phát
triển. Ngoài ra, trong các văn bản khác như Luật Bảo vệ môi trường năm

bảo vệ môi trường là một trong những nội dung rất quan trọng trong công
cuộc xây dựng và phát triển bền vững ở nước ta. Đồng thời đáp ứng với công
cuộc cải cách trong tình hình mới nên nghiên cứu lĩnh vực xử lý vi phạm pháp
luật bảo vệ môi trường thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận
và chỉ đạo thực tiễn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Lĩnh vực
BVMT đã có nhiều đề tài khoa học, luận văn, bài viết trên tạp chí đã đề cập
một cách trực tiếp hoặc lồng ghép vào những nội dung liên quan: Xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp
trong khu công nghiệp ở Việt Nam (Nguyễn Thị Bình, 2013, Luận văn thạc
sĩ); Thực hiện pháp luật môi trường ở tỉnh Nam Định (Nguyễn Thị Thu
Hường, 2008, Luận văn thạc sĩ) [24]; Đinh Thị Mai Phương (2003), “Trách
nhiệm dân sự trong lĩnh vực môi trường của pháp luật Việt Nam”, bài viết
trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp), Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ môi
trường ở các làng nghề Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí khoa học Đại học

3


quốc gia Hà Nội, năm 2012); Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do
hoạt động của làng nghề gây ra (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật, 2014); Cơ sở pháp lý đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong
lành ở Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng
10/2015); Một số vấn đề pháp lý đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về môi
trường ở Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Thanh tra, số 01/2016); Trách
nhiệm của cơ quan nhà nước, cộng đồng dân cư trong kiểm soát ô nhiễm môi
trường làng nghề ở Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,
số chuyên đề tháng 01/2017) [26]; [27]; [28]…. những công trình nghiên cứu,
các bài viết trên ít nhiều đều đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường ở nước ta
dưới mọi góc nhìn của đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, công trình nghiên
cứu triển khai trực tiếp về nội dung xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi

phạm pháp luật bảo vệ môi trường.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi
trường được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành.
Ba là, nêu và phân tích thực trạng xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi
trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, trong đó chú trọng các vi phạm đã xảy
ra. Đánh giá thực trạng xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình. Tìm hiểu các khiếm khuyết của pháp luật thực định về
xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, đồng thời tìm hiểu các nguyên
nhân của các khiếm khuyết đó. Từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn
thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
trong thời gian tới.
4. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các công trình nghiên cứu đã công
bố trong nước và quốc tế, luận văn đạt được những kết quả nghiên cứu có tính
mới như sau:
Phân tích, đưa ra các khái niệm tổng quát về pháp luật bảo vệ môi

5


trường và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường như: Khái niệm, đặc
điểm và sự cần thiết phải ban hành các quy định về xử lý vi phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay.
Phân tích và luận giải một cách khoa học các nguyên tắc, căn cứ của
việc áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ
môi trường; Đánh giá toàn diện tình hình xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi
trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Tìm ra các thiếu sót của hệ thống pháp
luật về bảo vệ môi trường và các nguyên nhân của các thiếu sót đó. Đề xuất
một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu
quả xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong thời gian tới.

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo
thì nội dung luận văn được chia thành ba chương, cụ thể là:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ
môi trường.
Chương 2: Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ
môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường
Môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình tồn tại và
phát triển của con người. Sự phát triển bùng nổ về kinh tế của các quốc gia
trên thế giới hiện nay đang đặt ra thách thức về BVMT, phòng tránh những
tác động đến môi trường luôn được các quốc gia trên thế giới quan tâm và
xem là một trong những chiến lược quan trọng. Bởi lẽ, môi trường bao gồm
tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động, ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp đến sức khỏe, đời sống con người. Từ đó khẳng định: Môi trường là
bạn tốt và đang rất cần chúng ta yêu mến, bảo vệ.
Cùng với việc nghiên cứu, tìm hiểu, xây dựng, hoàn thiện và áp dụng
các quy định về BVMT trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng về cơ
bản đã được thực hiện. Luật bảo vệ môi trường 2014 đã điều chỉnh một cách
tương đối hợp lý các vấn đề liên quan đến pháp luật bảo vệ môi trường ở
nước ta hiện nay. Trên cơ sở tìm hiểu các quan điểm về môi trường của các
nhà nghiên cứu, pháp luật Việt Nam đã đưa ra một khái niệm về môi trường,

trong hoạt động bảo vệ môi trường. Pháp luật bảo vệ môi trường được cấu
thành bởi hệ thống quy phạm pháp luật được quy định tại nhiều văn bản quy
phạm pháp luật khác nhau như: Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh cho đến những
văn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ, các Bộ, ban ngành hay chính
quyền địa phương ban hành.
Trên cơ sở đó, pháp luật bảo vệ môi trường có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta chịu sự điều chỉnh
của công ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam là thành viên. Đây là một
đặc điểm hết sức quan trọng. Là thành viên của Liên Hiệp Quốc, bên cạnh

9


việc tuân thủ các Công ước về bảo vệ môi trường, Việt Nam cần có những
quy định pháp luật riêng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong
hoạt động bảo vệ môi trường nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật BVMT
ở nước ta đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Theo tinh thần trên, tại khoản 3
Điều 6 Luật ký kết gia nhập, thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 của Việt
Nam ghi nhận như sau:
Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế,
Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự
ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực
tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ
rõ, chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung,
bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều
ước quốc tế đó.
Trên cơ sở đó Việt Nam đã tuân thủ các quy định về BVMT của quốc
tế, đồng thời xây dựng nên hệ thống pháp luật ở nước ta về vấn đề này. Từ đó,
tạo nên tính thống nhất của các quy phạm pháp luật BVMT.Vì vậy pháp luật

lược phát triển quốc gia… khẳng định không đánh đổi môi trường để lấy kinh
tế. Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, pháp luật BVMT cũng đứng
trước những thách thức to lớn về bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững
của Việt Nam trong thời đại mới.
Thứ tư, pháp luật bảo vệ môi trường có liên quan trực tiếp đến hoạt
động quản lý nhà nước nói chung, vấn đề về môi trường nói riêng. Đặc biệt,
pháp luật về BVMT ở nước ta có liên quan mật thiết đối với nhiều lĩnh vực
pháp luật khác như dân sự, hình sự, kinh tế. Hoạt động bảo vệ môi trường nói
chung với mục tiêu là bảo vệ môi trường sống không chỉ riêng với đất nước ta
mà còn là toàn cầu. Nhà nước với vai trò là chủ thể thay mặt nhân dân quản lý

11


bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng, do vậy phải ban hành các quy
phạm pháp luật nhằm quản lý xã hội trong đó có vấn đề BVMT. Từ đó, cho
thấy vai trò quan trọng của pháp luật BVMT không chỉ riêng đối với Việt
Nam mà còn đối với toàn cầu trong giai đoạn hiện nay.
1.1.2. Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta
Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong công
tác bảo vệ môi trường được thể chế hoá thành pháp luật bảo vệ môi trường –
trở thành công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường ở nước ta hiện
nay. Trên phương diện lý luận và thực tiễn, pháp luật bảo vệ môi trường có
các vai trò sau:
Một là, thông qua việc hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo vệ
môi trường sẽ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vấn đề này. Những
quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước
đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường chính là cơ sở pháp lý cơ bản quy định về
cơ cấu, tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường. Việc hình thành hệ thống cơ quan quản lý môi trường nằm trong hệ

đang thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển đất nước nên cùng với quá
trình xây dựng thì việc bảo vệ môi trường ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý
nghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng. Đặt hoạt động QLNN về bảo vệ môi
trường trong quá trình xây dựng và phát triển lên hàng đầu và trở thành nhiệm
vụ có ý nghĩa chiến lược, phù hợp với xu thế chung trên thế giới hiện nay.
Năm là, pháp luật bảo vệ môi trường có vai trò quan trọng trong việc
nâng cao nhận thức của xã hội trong lĩnh vực này. Những quy định về bảo vệ
môi trường có vai trò trong việc giáo dục, truyền thông để từ đó góp phần nâng
cao nhận thức của xã hội về vấn đề xây dựng và phát triển trong môi trường
lành mạnh, an toàn và trong sạch. Góp phần quan trọng trong việc phát triển
nền kinh tế - xã hội một cách bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Sáu là, pháp luật về BVMT có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo

13


cho con người được sống trong môi trường trong lành. Để tồn tại và phát
triển con người đã tác động nhiều vào thiên nhiên để phục vụ cho các nhu cầu
của mình. Các cuộc cách mạnh KHKT với nhiều thành quả quan trọng đã làm
cuộc sống con người có nhiều biến đổi. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả
tích cực thì con người cũng đứng trước những thách thức to lớn như biến đổi
khí hậu, nước biển dâng, núi lửa phun trào, ÔNMT… ảnh hưởng không nhỏ
đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên toàn thế giới.
Ở Việt Nam trong thời gian gần đây, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội
của quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, việc tập trung xây dựng và phát
triển nền kinh tế đã để lại những tác nhân ảnh hưởng trực tiếp lên môi trường
sống nói chung. Do đó, nhận thức được vai trò quan trọng của việc hình thành
và phát triển một môi trường xanh – sạch – đẹp không chỉ riêng ở nước ta mà
còn chung của thế giới chính là tiền đề bảo đảm thực hiện những nguyên tắc
cơ bản của pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam, trong đó có nguyên tắc

ta căn cứ vào mức độ hành vi vi phạm của từng ngành luật chuyên ngành mà
đưa ra những mức xử lý tùy vào mức độ của các hành vi trên. Ví dụ: Luật
hình sự xác định hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới
các khách thể được luật hình sự bảo vệ và quy định các hình thức xử lý với tư
cách là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất để áp dụng đối với người
phạm tội. Hoặc đối với Luật xử phạt vi phạm hành chính thì mức độ vi phạm
được đánh giá là nhẹ hơn sẽ được áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính
tương thích đối với các hành vi đó. Tuy rằng, đây là một khái niệm quan trọng
nhưng cho tới nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có quy định cụ thể để xác
định khái niệm về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường. Khái niệm này chỉ
được nghiên cứu dưới góc độ là một khái niệm khoa học về lý luận pháp lý
nói chung của các nhà nghiên cứu.
Xuất phát từ đặc thù cũng như vai trò và sự cần thiết bảo vệ môi

15


trường, Luật bảo vệ môi trường 2014 và các văn bản pháp luật liên quan đã
quy định các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường. Song do các hành
vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường là vô cùng đa dạng, được thể hiện
dưới các hình thức khác nhau nên việc đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về vi
phạm pháp luật bảo vệ môi trường là chưa từng được đề cập. Mặc dù vậy,
qua phân tích nêu trên có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về vấn đề này như
sau: Vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường được hiểu là những hành vi vi
phạm các quy định của nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá
nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và được các văn bản pháp
luật quy định cụ thể trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Theo khái niệm trên, vi
phạm pháp luật bảo vệ môi trường có những đặc điểm sau:
Một là, vi phạm pháp luật BVMT là các hành vi do tổ chức, cá nhân
thực hiện đã vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường. Tức là hành vi của tổ

vi vi phạm pháp luật thì có thể bị xử lý theo quy định của Luật bảo vệ và phát
triển rừng 2004, sửa đổi bổ sung 2016, Nghị định về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực này, Luật xử phạt vi phạm hành chính, Bộ luật hình
sự…. Tổng thể các quy định nêu trên chính là pháp luật về xử lý vi phạm
trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng nói riêng và các lĩnh vực khác ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay.
Khái niệm, đặc điểm xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường:
Có rất nhiều quan điểm khi định nghĩa về khái niệm xử lý vi phạm
pháp luật bảo vệ môi trường. Tuy vậy, các quan điểm đều đồng nhất cho rằng,
dưới góc độ pháp lý, xem Luật môi trường là một lĩnh vực pháp luật thì cần
có những quy định cụ thể nhằm điều chỉnh và xử lý các hành vi vi phạm pháp
luật về môi trường nhằm hoàn thiện khung hành lang pháp lý về lĩnh vực này.
Luật môi trường là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể có hành vi khai

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status