BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC10.
SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
----------------------------------------
HOÀNG THỊ THÚY
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ
CỦA CÔN TRÙNG NƢỚC Ở XÃ NGỌC THANH,
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
----------------------------------------
HOÀNG THỊ THÚY
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ
CỦA CÔN TRÙNG NƢỚC Ở XÃ NGỌC THANH,
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 8. 42. 01. 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN HIẾU
chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sách chuyên khảo, … nào khác.
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thúy
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................ 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn ..................................................... 3
4. Điểm mới của đề tài .................................................................................. 3
NỘI DUNG ....................................................................................................... 4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 4
1.1. Tình hình nghiên cứu côn trùng nƣớc trên thế giới ............................... 4
1.1.1. Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học về loài ............................ 4
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chức năng .............. 16
1.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng nƣớc tại Việt Nam ............................ 17
1.2.1. Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học về loài .......................... 17
1.2.2. Tình hình nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chức năng .............. 27
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................... 28
2.1. Đối tƣợng và nội dung nghiên cứu ...................................................... 28
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................. 28
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................................. 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 89
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Một số đặc điểm sinh cảnh tại các điểm nghiên cứu ...................... 31
Bảng 2.2. Quan hệ giữa giá trị chỉ số Shannon - Weiner (H’) ........................ 39
Bảng 3.1. Số lƣợng và tỷ lệ ( ) các taxon thuộc các bậc phân loại của
côn trùng nƣớc tại khu vực nghiên cứu .......................................... 43
Bảng 3.2. Thành phần các loài côn trùng nƣớc ở khu vực nghiên cứu .......... 45
Bảng 3.3. Số lƣợng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của
Phù du tại Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc............................... 54
Bảng 3.4 . Số lƣợng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của
Chuồn chuồn tại Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc .................... 56
Bảng 3.5. Số lƣợng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của
Cánh úp tại xã Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc........................ 57
Bảng 3.6. Số lƣợng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của Bộ
Cánh nửa (Hemiptera) tại Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc ...... 57
Bảng 3.7. Số lƣợng và tỷ lệ (%)các taxon thuộc các bậc phân loại của
Bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại xã Ngọc Thanh, Phúc Yên,
Vĩnh Phúc ........................................................................................ 58
Bảng 3.8. Số lƣợng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của Bộ
Hai cánh (Diptera) tại Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc ............ 60
Bảng 3.9. Số lƣợng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của
Bộ Cánh vảy (Lepidoptera) tại xã Ngọc Thanh, Phúc Yên,
Vĩnh Phúc ........................................................................................ 61
Bảng 3.10. Số lƣợng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của
Bộ Cánh lông (Trichoptera)tại xã Ngọc Thanh, Phúc Yên,
Vĩnh Phúc ........................................................................................ 61
các thủy vực nƣớc ngọt, đặc biệt là thủy vực dạng suối. Với nhiều đặc tính nổi
trội nhƣ số lƣợng loài nhiều, số lƣợng cá thể lớn… đặc biệt chúng là những
mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lƣới thức ăn. Côn trùng nƣớc vừa là
nhóm sinh vật tiêu thụ, tiếp nhận các nguồn vật chất thô rơi rụng, hệ tảo bám
làm nguồn thức ăn; vừa chuyển hóa vật chất hữu cơ thành các dạng dễ hấp
thu đƣa vào dòng chảy và đồng thời là nguồn thức ăn cho các sinh vật tiêu thụ
nhƣ: cá, lƣỡng cƣ, động vật không xƣơng cỡ lớn. Sự phát triển đa dạng của
quần xã côn trùng nƣớc đóng góp lƣợng sinh khối đáng kể vào hệ thống dòng
chảy. Nhiều loài côn trùng nƣớc có quan hệ mật thiết đối với con ngƣời. Một
số loài côn trùng nƣớc gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh, tác
nhân phá hoại sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp… Chính vì vậy, côn trùng
nƣớc là đối tƣợng quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới
và trong nƣớc.
Trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến
côn trùng nƣớc. Từ việc phân loại, phân nhóm chức năng dinh dƣỡng cho
đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinh sản, di truyền, tiến hóa,
ứng dụng… Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn trùng nƣớc cũng
đƣợc quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là ở các Vƣờn Quốc gia (VQG) và các
Khu bảo tồn thiên nhiên; những nơi có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm
ẩn tính đa dạng côn trùng nƣớc. Tuy vậy, các nghiên cứu chủ yếu tập trung
theo hƣớng phân loại học và đa dạng sinh học về loài. Các nghiên cứu về
phân bố và cấu trúc nhóm dinh dƣỡng chức năng của côn trùng nƣớc còn ít,
2
chƣa thành hệ thống.
Xã Ngọc Thanh là xã vùng núi duy nhất của thành phố Phúc Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc với diện tích hơn 7.732,68 ha. Một phần diện tích của xã Ngọc
Thanh thuộc vùng đệm của VQG Tam Đảo. Địa hình chủ yếu của xã là đồi
núi thấp, có độ cao so với mặt nƣớc biển dao động từ khoảng 25m đến 300m.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tƣ liệu phục vụ cho việc
nghiên cứu, giảng dạy về côn trùng nƣớc tại xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó đề xuất các biện pháp nhằm bảo tồn sự đa dạng
của nhóm sinh vật này ở khu vực nghiên cứu.
4. Điểm mới của đề tài
- Lần đầu tiên thu đƣợc các đại diện thuộc bộ Bọ nhảy (Collembola) cho
khu hệ côn trùng nƣớc tại Việt Nam.
- Lần đầu tiên hệ thống danh sách cập nhật nhất về nhóm côn trùng nƣớc
tại khu vực nghiên cứu.
- Cung cấp dẫn liệu mới về phân bố của các loài côn trùng nƣớc theo
dạng sinh cảnh và theo đợt thu mẫu ở khu vực nghiên cứu.
- Cung cấp các dẫn liệu đầu tiên về phân bố nhóm dinh dƣỡng chức năng
của côn trùng nƣớc theo dạng sinh cảnh suối ở khu vực nghiên cứu.
4
NỘI DUNG
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu côn trùng nƣớc trên thế giới
Côn trùng nƣớc bao gồm những loài côn trùng mà có một phần hoặc cả
vòng đời sống trong môi trƣờng nƣớc. Chính vì sự đa dạng về loài, hình thái
cấu tạo và các đặc điểm thích nghi cùng với vai trò quan trọng của chúng đối
với hệ sinh thái và đời sống con ngƣời mà phạm vi nghiên cứu côn trùng nƣớc
ngày càng đƣợc mở rộng. Các hƣớng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô
tả, phân loại mà còn đi sâu vào các cơ chế bên trong nhƣ: biến động quần thể
côn trùng, các mối quan hệ dinh dƣỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học.
Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố hàng
loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nƣớc nhƣ: McCafferty (1983)
[63]; Morse et al. (1994) [66]; Merritt& Cummins [65];… Các nghiên cứu
điều chỉnh khóa phân loại cho phù hợp với thực tế nghiên cứu đòi hỏi [62].
Tiếp sau công trình nghiên cứu mang tính bƣớc ngoặt này hệ thống phân loại
Phù du ngày càng đƣợc hoàn chỉnh bởi các nghiên cứu của McCafferty
(1983) [63] và nhiều nhà nghiên cứu về Phù du khác. Gần đây, Odgen và
Whiting (2005) đã tổng hợp lại thành một hệ thống tổng quát về nghiên cứu
phân loại Phù du du dựa trên những nghiên cứu về sinh học phân tử (dẫn theo
Barber-James, 2010) [23].
Theo Hubbard et al. (2008), trên toàn thế giới đã xác định đƣợc khoảng
3000 loài Phù du thuộc 375 giống thuộc 37 họ, trong đó ở châu Âu có khoảng
350 loài và Bắc Mỹ là 670 loài. Đa dạng ở mức độ loài của Phù du ở các họ
thể hiện rất khác nhau, có những họ chỉ có 1 loài nhƣ: Coryphoridae,
Machadorythidae,...Có những họ có hàng trăm loài nhƣ Baetidae,
Heptageniidae,…[45]. Tuy vậy những con số này vẫn chƣa phản ánh hết mức
độ đa dạng của Phù du trên thế giới nhất là các khu vực nhiệt đới.
Ở khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du đƣợc thực
hiện bởi các nhà côn trùng học từ châu Âu nhƣ: Navás (1922, 1930) [67, 68].
6
Theo kết quả nghiên cứu của Dudgeon (1999), ở châu Á có khoảng 128 giống
thuộc 18 họ của bộ Phù du [38]. Tác giả cũng đã xây dựng khóa định loại tới
taxon bậc giống của Phù du ở châu Á, những nghiên cứu này là cơ sở nền
tảng thúc đẩy việc nghiên cứu về Phù du ở khu vực.
Tại khu vực Đông Nam Á, các nghiên cứu về Phù du đã đƣợc khởi
xƣớng bởi Uéno (1961, 1969) [102, 103] và Ulmer (1939) [105]. Các nhà
nghiên cứu của Việt Nam và Thái Lan cũng đã công bố khá nhiều công trình
nghiên cứu về Phù du trong thời gian gần đây: Nguyen (2003) [71], Nguyen
& Bae (2003) [72], Braasch & Boonsoong (2009) [25].
Có thể thấy các nghiên cứu về khu hệ và phân loại học của bộ Phù du ở
khu vực Châu Á tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á nơi có
Kumar & Khanna, 1983). Hai phân bộ còn lại phân bố rộng cả ở nơi nƣớc
đứng cũng nhƣ nƣớc chảy với số lƣợng loài phong phú (dẫn theo Morse et al.,
1994) [66]. Đến năm 2008 trên thế giới đã xác định đƣợc khoảng hơn 6000
loài thuộc hơn 600 giống của bộ Chuồn chuồn [65].
Khu vực Bắc Mỹ những nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Chuồn
chuồn đƣợc thực hiện bởi Muttkowski (1910), Needham và Heywood (1929),
đã xác định đƣợc khoảng 462 loài, phần lớn các loài gần đây đƣợc mô tả đều
thuộc họ Gomphidae là họ có số lƣợng loài lớn và đa dạng nhất trong bộ
Chuồn chuồn (dẫn theo Merritt
Cummins, 1996) [65].
Ở khu vực châu Á, công trình nghiên cứu đầu tiên về Chuồn chuồn ở
Bangladesh đƣợc công bố bởi Chowdhury & Akhteruzzaman (1983) [37]. Hai
ông đã mô tả chi tiết các ấu trùng của 13 loài Chuồn chuồn thuộc phân bộ
Anisoptera. Ngoài ra còn một số công trình điển hình khác nhƣ: Asahina
(1993) [21], Subramanian (2005) [95].
Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những công
trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái học và tập tính sinh học của Corbet
(1999 )[36], Silsby (2001)[ 90]. Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dựa
vào giai đoạn trƣởng thành. Đối với giai đoạn thiếu trùng, Ishida
Ishida
(1985) đã xây dựng khóa định loại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ở
vùng châu Á [46].
8
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Nam Trung Quốc. Kawai (1961 - 1975) nghiên cứu ở Ấn Độ, Bangladesh đến
phía Nam châu Á. Zwick và Sivec (1980) mô tả một số loài Cánh úp ở
Himalaya. Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, Zwick (1980, 1983, 1985, 1988)
cũng đƣa ra những nghiên cứu về khu hệ Cánh úp ở Đông Nam Á. Uchida et
al. (1988, 1989) mô tả một vài loài thuộc phân họ Perlinae của họ Perlidae ở
Malaysia, Thái Lan và mô tả 2 giống thuộc Peltoperlidae (Cryptoperla và
9
Yoraperla) ở Nhật Bản và Đài Loan. Stark (1979, 1987, 1983, 1991, 1999) đã
ghi nhận nhiều loài mới trong họ Peltoperlidae và Perlidae ở châu Á. Gần
đây, Du et al. (1999) đã công bố những tài liệu liên quan đến Perlidae ở miền
Nam Trung Quốc (dẫn theo Cao, 2002 ) [27].
Các nghiên cứu đa dạng về loài của bộ Cánh úp ở khu vực Đông Nam
Á đƣợc tiến hành khá sớm. Các nghiên cứu này đƣợc thực hiện bởi các nhà
khoa học đến từ châu Âu và châu Mỹ nhƣ Banks (1913-1919), Navás (19241934), Klapálek (1909-1923). Kawai (1969), dựa trên các mẫu vật ở dạng
trƣởng thành thu thập đƣợc ở Borneo (Indonesia), Philippin, Thái Lan và Việt
Nam đang đƣợc lƣu giữ ở Bảo tàng Bishop đã công bố danh lục gồm 16 loài
thuộc 8 giống và 4 họ của bộ Cánh úp ở khu vực này. Bốn họ đƣợc xác định
là: Peltoperlidae, Nemouridae, Leuctridae và Perlidae. Trong 16 loài thu thập
đƣợc có 4 loài mới cho khoa học là Amphinemura minuta, Amphinemura
gressitti, Protonemura filigera và Rhopalopsole femina. Tuy nhiên, các mẫu
vật dùng trong phân loại đều ở giai đoạn trƣởng thành, không có mẫu vật nào
ở giai đoạn thiếu trùng. Theo Kawai (1969), khu hệ Cánh úp ở khu vực Đông
Nam Á còn tiềm ẩn số lƣợng loài rất lớn vẫn chƣa đƣợc biết đến (Dẫn theo
Nguyễn Văn Hiếu, 2016) [5].
Trong số các họ ghi nhận đƣợc ở khu vực Đông Nam Á thì họ Perlidae
đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều hơn cả. Vào thập niên 80 của thế kỷ XX,
hàng loạt các nghiên cứu về họ này ở khu vực Đông Nam Á đã đƣợc công bố,
trong đó phải kể đến các nghiên cứu của Zwick ở Indonesia, Stark ở đa số các
(Hemiptera) ở nƣớc về hình thái, sinh học, sinh thái, phân loại và chủng loại
phát sinh nhƣ: Cheng và Fernando (1969), Menke (1979), Andersen (1985),
Schuh và Slater (1995), Hilsenwoff (1991) (dẫn theo Yang et al., 2004)
[109]. Năm 2008, thế giới xác định đƣợc 4.810 loài, 343 giống và 23 họ
thuộc bộ Cánh nửa trong đó bao gồm 4.656 loài, 326 giống, 20 họ sống ở
11
nƣớc ngọt [85]. Merritt & Cummins (1996) [65], Morse et al. (1994) [66] đã
xây dựng khóa định loại tới giống của các họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực
Bắc Mỹ và Trung Quốc.
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á đƣợc bắt đầu khá
sớm bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury
(1972, 1973) (dẫn theo Morse et al., 1994) [66].
Ở Đông Nam Á, nghiên cứu khu hệ bộ Cánh nửa đã đƣợc tiến hành
khoảng 50 năm trƣớc. Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây các công trình của
Zettel
Chen ở Việt Nam (1996) và Thái Lan (1998). Các nghiên cứu tập
trung vào việc mô tả, xây dựng khóa định loại (dẫn theo Tran, 2008) [97].
Cùng với việc nghiên cứu về phân loại học, nhiều nhà khoa học cũng
quan tâm đến việc nghiên cứu các lĩnh vực sinh thái học, địa lý sinh vật,
chủng loại phát sinh, tập tính hay sự thích nghi của Cánh nửa ở nƣớc. Có thể
kể đến công trình nghiên cứu của Cobben (1968, 1978), Andersen (1982),
Damgaard (2008). Cheng (1965, 1966, 1976) đã công bố một số bài báo về
sinh thái và địa lý sinh vật của giống Halobates. Những nghiên cứu về vai trò
của bộ Cánh nửa trong hệ sinh thái cũng đƣợc quan tâm bởi các nhà khoa học
nhƣ Keffer (2000), Spence và Andersen (2000), Sites (2000), Yang et al.
(2004), Chen et al. (2005)... (dẫn theo Tran, 2008) [97].
Bộ Cánh lông đƣợc nghiên cứu nhiều ở các nƣớc Đông Nam Á điển
hình là các nghiên cứu của Ulmer (1951, 1955, 1957) [106, 107, 108], Morse
(2009); Banks (1937) là ngƣời đầu tiên nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở
Philippin. Đặc biệt trong những năm gần đây, hàng loạt các công trình nghiên
cứu mới về Cánh lông đƣợc công bố: Malicky (2007) đã cung cấp danh sách
gồm 327 loài và chứng minh sự đa dạng của Cánh lông trên đảo Sumatra cao
hơn so với các khu vực khác ở Indonesia (dẫn theo Johason và Oláh, 2008b)
[50]. Johason & Oláh (2008a, 2008b) đã công bố 7 loài mới thuộc giống
Tinodes thuộc họ Psychomyiidae cho khu hệ Cánh lông Đông Nam Á và 1
loài mới từ Hồng Kông [49, 50].
13
Các nghiên cứu về Cánh lông cũng đƣợc quan tâm ở một số quốc gia
khác nhƣ Nhật Bản với những nghiên cứu của Iwata (1927), Tanida (1986,
1987), Ito & Ohkawa (2012); Trung Quốc (Martynov, 1930, 1931; Wang,
1963), Thái Lan (Chantaramongkol & Malicky, 1989, 1991, 1992, 1993,
1995, 1997; Radomsuk, 1999; Sangpradub et al., 1999; Malicky et al., 2001,
2002; Chaiyapa, 2001). Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế về định loại ấu trùng
tới giống và loài nên các nghiên cứu ở Đông Nam Á mới chỉ dừng lại ở giai
đoạn trƣởng thành. Các khóa định loại của Cánh lông ở Đông Dƣơng (Lào,
Campuchia và Việt Nam) dựa trên những nghiên cứu của tác giả Wallace et
al. (1990), Edington and Hildrew (1995), Wiggins (1996) (dẫn theo Hoang,
2005) [43].
Bên cạnh những nghiên cứu về phân loại học, những nghiên cứu về
sinh thái và đặc điểm sinh học của bộ Cánh lông cũng đƣợc đặc biệt chú ý,
tiêu biểu là một số công trình liên quan đến giai đoạn ấu trùng của Wiggins
(1969, 1978, 1985, 1986). Năm 2009, Morse đã công bố một danh sách đầy
đủ các loài cũng nhƣ phân bố địa lý sinh vật của bộ Cánh lông trên toàn thế
giới và tiếp tục đƣợc cập nhật cho tới hiện nay (dẫn theo Hoang, 2005) [43].
trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng ở nƣớc thƣờng ít đƣợc quan tâm hơn các
loài Cánh cứng trên cạn.
Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
Bộ Hai cánh là một trong những bộ côn trùng có số lƣợng loài nhiều
nhất trong giới Động vật với khoảng 120.000 loài sống ở nƣớc đƣợc biết trên
thế giới. Đây là bộ có nhiều họ rất phổ biến và đƣợc nghiên cứu rất kỹ, do
chúng có quan hệ chặt chẽ với đời sống con ngƣời nhƣ họ Muỗi (Culicidae),
họ Ruồi đen (Simuliidae). Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về bộ
Hai cánh đƣợc công bố trên toàn thế giới, trong đó tiêu biểu là các công trình
nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich
Hortle (1989). Đối
với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một
danh lục khá đầy đủ về thành phần loài của bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ - Mã
Lai. Khóa định loại tới họ và giống hiện nay chủ yếu thực hiện theo khóa định
15
loại đƣợc xây dựng bởi Harris (1990). Do nhiều loài thuộc bộ này là vật chủ
trung gian truyền bệnh cho ngƣời, gia súc và đa dạng ở các lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp, y tế, chăn nuôi, môi trƣờng… những đặc điểm về sinh thái học
của bộ này đã đƣợc quan tâm nghiên cứu từ sớm (dẫn theo Merritt
Cummins 1996) [65].
Trong những năm gần đây, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu liên
quan đến việc sử dụng ấu trùng bộ Hai cánh đặc biệt là họ Chironomidae nhƣ
là sinh vật chỉ thị chất lƣợng môi trƣờng nƣớc [66].
Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)
Bộ Cánh rộng đƣợc xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhóm
côn trùng biến thái hoàn toàn. Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loài
Trong hệ sinh thái thủy sinh, các dòng suối với các quần xã sinh vật cƣ
trú nhƣ: lƣỡng cƣ, cá, động vật đáy, sinh vật nổi và đặc biệt là nhóm côn
trùng thuỷ sinh đã đóng góp nhiều giá trị về đa dạng sinh học. Các quần thể
này gắn kết chặt chẽ với nhau thông qua mạng lƣới dinh dƣỡng và đƣợc phân
theo nhóm chức năng dinh dƣỡng. Phƣơng pháp phân nhóm chức năng dinh
dƣỡng (Functional Feeding Groups - FFGs) đƣợc Merrit & Cummins (1996)
phát triển dựa trên đặc điểm sinh cảnh sống, cấu tạo phần phụ miệng, cách thu
nhận thức ăn và loại thức ăn của nhóm côn trùng thủy sinh, đây là nhóm sinh
vật chiếm ƣu thế trong các quần xã sinh vật thủy vực suối đầu nguồn [65].
Trƣớc đó, các nghiên cứu về nhóm dinh dƣỡng chức năng của
Cummins et al. (1979, 1989) [52, 53] đã công bố những kết quả bƣớc đầu về
các nhóm dinh dƣỡng chức năng của côn trùng nƣớc. Sau đó, Cummins et al.
(2005) đã công bố các nghiên cứu về lĩnh vực này ở Brazil [54].
Các nhóm côn trùng đƣợc chia thành các nhóm chức năng cơ bản:
nhóm cắt xé (shredders: shr) sẽ lấy thức ăn từ các vật chất thô, vật chất rơi
rụng (lá, mảnh thân thực vật); nhóm cào nạo (scrappers: scr) lấy thức ăn là
nhóm tảo bảm đá; nhóm thu lọc (collector - filterer: c-f) lấy thức ăn là các hạt
vật chất mịn, lơ lửng trong môi trƣờng nƣớc; nhóm thu gom (collector gatherers: c-g) thu thập các vật chất ở nền đáy; nhóm ăn thịt (predators -p) ăn
các sinh vật khác nhƣ các nhóm côn trùng thủy sinh [86].