Tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến bệnh chàm tay của nhân viên y tế tại quận 5 thành phố hồ chí minh tt - Pdf 55

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẶNG THỊ NGỌC BÍCH

TỈ LỆ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
BỆNH CHÀM TAY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ
TẠI QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Dịch tễ học
Mã số: 62720117

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019


2

Công trình được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ VĂN DŨNG

Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:

nghề nghiệp có nguy cơ cao vẫn chưa được xác định. Để xác định mức
độ của bệnh chàm tay ở đối tượng nghề nghiệp là nhân viên y tế, cùng
với đi tìm những chứng cứ để có thể đưa bệnh chàm tay vào danh mục
bệnh nghề nghiệp cần được bảo hiểm, đề tài “Tỉ lệ và yếu tố liên quan
đến bệnh chàm tay của nhân viên y tế tại quận 5 thành phố Hồ Chí
Minh” được thực hiện với những mục tiêu sau đây:
(1) Xác định tỉ lệ hiện mắc và đặc điểm (thực trạng) bệnh chàm
tay của nhân viên y tế đang làm việc trong các bệnh viện công lập tại
quận 5 thành phố Hồ Chí Minh năm 2013.
(2) Xác định các yếu tố liên quan đến bệnh chàm tay như: cơ địa
dị ứng, nhóm tuổi nghề, mức độ rửa tay, vị trí công tác.


2

(3) Xác định hiệu quả của can thiệp bằng truyền thông giáo dục
sức khỏe trong phòng ngừa bệnh chàm tay của nhân viên y tế.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh chàm tay gây ra tác hại rất nhiều, đã có người lao động
phải nghỉ việc từ 1 - 4 tuần hoặc chuyển nghề. Làm nghề y mà phải
chuyển nghề là một thiệt hại cho xã hội (người bệnh, ngành y) vì nghề
y là một nghề nghiệp được đào tạo lâu dài, kinh nghiệm được đúc kết
trong quá trình làm việc. Ở nước ta, cho đến hiện nay, bệnh chàm tay
vẫn chưa được đưa vào danh mục bệnh nghề nghiệp. Do vậy đề tài có
tính cần thiết quan trọng và thực tiễn, giúp các nhà quản lý biết được
mức độ của bệnh chàm tay và có thêm những luận điểm, chứng cứ để
đưa bệnh chàm tay vào danh mục bệnh nghề nghiệp.
3. Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã xác định được tỉ lệ hiện mắc thời khoảng 1 năm bệnh
chàm tay của nhân viên y tế tại quận 5 thành phố Hồ Chí Minh năm

ngón tay và lòng bàn tay. Bệnh thường ảnh hưởng cả hai bàn tay. Phần
lớn có khởi đầu là khô da tay, tay trở nên sần sùi, tróc vảy, viêm đỏ và
sau đó là nứt da tay. Bệnh chàm tay có 5 dạng lâm sàng chính (bảng
1.1)
Bảng 1.1. Các dạng lâm sàng của bệnh chàm tay
Phân loại

Đặc điểm lâm sàng

Kích ứng

Mọi vị trí

Cơ chế

Chẩn đoán

Hiệu ứng gây Bằng cách loại
hại trực tiếp trừ
không

đặc

hiệu
Dị ứng

Thể tạng

Mặt lưng bị nhiều Hiện
hơn mặt lòng bàn tay


Dựa vào đặc

nước ở lòng bàn tay Không rõ

điểm lâm sàng

và rìa ngón tay
Tăng
sừng

Chẩn đoán

Mảng dày sừng ở

Dựa vào đặc

lòng bàn tay > mặt Không rõ

điểm lâm sàng

lưng tay

Chàm tay có thể trầm trọng hơn hoặc/và có thể khởi phát do một
số yếu tố chính như sau: tiếp xúc với các hóa chất gây kích ứng da như:
xà bông, dầu gội đầu, dầu xả, các hóa chất tẩy rửa và vệ sinh nhà cửa,
chất dung môi, xi-măng, dầu mỡ…
1.3. Bệnh chàm tay của nhân viên y tế qua các nghiên cứu
1.3.1. Tỉ lệ hiên mắc bệnh chàm tay của NVYT
Có nhiều nghiên cứu về tỉ lệ mắc bệnh chàm tay liên quan đến

BS (2005)
361
79,2
12,9
Nhật Bản

ĐD (2003)

363

84

35


5

Quốc gia

Úc
Hàn
Quốc

Đối tượng
nghiên cứu
ĐD (2006)
BS (2004)
SVĐD
(2004)
ĐD (2005)


10,4

BS: bác sỹ, ĐD: điều dưỡng, NVYT: nhân viên y tế, SVĐD: sinh viên điều dưỡng

1.3.2. Các yếu tố liên quan đến bệnh chàm tay của NVYT
Có nhiều đề tài nói về mối liên quan giữa bệnh chàm tay và các
đặc điểm của NVYT.
Các đề tài mô tả cho thấy bệnh có liên quan đến các yếu tố như:
cơ địa dị ứng, mức độ rửa tay (các kết quả này hằng định qua các
nghiên cứu) và tìm ra một số dị ứng nguyên gây bệnh chàm tay như:
ethanol, iode, chlorhexidine, acrylate, găng tay cao su.
Có 2 đề tài đoàn hệ theo dõi dọc bệnh chàm tay ở sinh viên điều dưỡng
được thực hiện tại Đức (2005) và Hà Lan (2013) xác định thâm niên
công tác có liên quan đến bệnh chàm tay. Điểm mạnh của các nghiên
cứu là chiều thời gian rõ rệt; xác định được số mới mắc bệnh chàm tay
theo bộ câu hỏi là 6,7%; theo khám lâm sàng là 4,8% (2005). Tỉ suất
mới mắc bệnh chàm tay ở sinh viên điều dưỡng năm 2013 (Hà Lan) là
13,7% người-năm học. Ngoài ra có một nghiên cứu bệnh chứng về
chàm tay ở điều dưỡng được thực hiện tại Đài Loan vào năm 2011 Kết
quả cho thấy chàm thể tạng là yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh chàm
tay (OR hiệu chỉnh =3,763; KTC95%: 2,399 - 5,901 và p
đo chỉ số TEWL và làm patch test. Kết quả cho thấy: chỉ số TEWL
tăng ở nhóm chứng (p
Minh năm 2013 (44 khoa phòng). Đối tượng nghiên cứu gồm nhân
viên y tế được chọn ngẫu nhiên từ danh sách, thỏa theo tiêu chí đưa
vào và loại ra.
Tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu bao gồm các đối tượng sau đây:
- Các nhân viên y tế đang làm việc không phân biệt biên chế hay hợp
đồng.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu và trả lời bảng thu thập thông tin.
- Có thời gian làm việc trong ngành y tối thiểu 6 tháng.
Tiêu chuẩn loại ra bao gồm các đối tượng sau đây:
- Không trực tiếp tham gia hoạt động khám chữa bệnh.
- Không có mặt trong ngày khám da tay
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Giai đoạn 1: mô tả cắt ngang có phân tích. Giai
đoạn 2: can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe dựa vào mô
hình niềm tin sức khỏe.


10

Cỡ mẫu nghiên cứu giai đoạn 1: cỡ mẫu được tính theo công thức
sau:
n=

2
Z1−α/2
P(1 − P)

d2

Trong đó: với độ tin cậy 95%


(𝜇1 − 𝜇2 )2

Giả định có 80% cơ hội, ở mức ý nghĩa 5% để so sánh 2 trung bình
của mẫu cặp (trước và sau can thiệp): α=0,05 và Z975=1,96; 1-β=0,8 và
Z0,8=0,84
Cỡ mẫu cho kiến thức: n1=n2=57
Cỡ mẫu cho hành vi: n1=n2=48
Cỡ mẫu cho thiết kế can thiệp: n1=n2=57
Kỹ thuật chọn mẫu: ngẫu nhiên hệ thống.
Công cụ thu thập số liệu: bộ câu hỏi cấu trúc tự điền, bảng điểm
HECSI
Phân tích số liệu: Phương pháp phân tích thống kê sẽ theo sát với các
mục tiêu đề ra như sau:


11

- Giai đoạn 1 (thiết kế cắt ngang): báo cáo tần số và % các biến số:
giới, cơ địa dị ứng, nhóm tuổi nghề, mức độ rửa tay, bệnh chàm tay;
báo cáo PR và KTC95% của PR; báo cáo OR và KTC95% của OR;
hồi qui logistic đa biến để khử các yếu tố gây nhiễu và tương tác.
- Giai đoạn 2 (thiết kế can thiệp): báo cáo tần số và % các biến số:
giới, nhóm tuổi nghề, cơ địa dị ứng, mức độ rửa tay; mô tả số trung
bình và độ lệch chuẩn của kiến thức, hành vi trước và sau can thiệp;
xác định hiệu quả của can thiệp đến kiến thức và hành vi phòng ngừa
bệnh.
Kiểm soát sai lệch: để kiểm soát sai lệch chọn lựa, dân số chọn mẫu
phải theo đúng như các tiêu chí được đề ra ở phần đối tượng nghiên
cứu; theo đúng các tiêu chí đưa vào và loại ra.

Bảng 3.1. Tỉ lệ bệnh chàm tay và đặc điểm chung của nhân viên y tế
Tần số
Tỉ lệ %
Đặc điểm
Giới
Nữ
240
57,8
Nam
175
42,2
Vị trí công tác
Điều dưỡng
230
55,4
BS khối nội
102
24,6
BS khối ngoại
83
20,0
Cơ địa dị ứng
Không
324
79,1

91
21,9
Nhóm tuổi nghề
Dưới 5 năm

Tần số

Tỉ lệ %

65

15,6

Bảng 3.1 cho thấy: nữ nhiều hơn nam; điều dưỡng nhiều hơn
bác sỹ; nhóm tuổi nghề trên 5 năm chiếm đa số; tỉ lệ bệnh chàm tay
qua khám da tay là 6,5%; tỉ lệ hiện mắc thời khoảng 1 năm bệnh chàm
tay của NVYT là 15,6%.
3.2. Các yếu tố liên quan đến bệnh chàm tay
Bảng 3.2. Các yếu tố liên quan đến bệnh chàm tay qua bộ câu hỏi
Bệnh
Không
PR (KTC95%)
p
chàm tay
bệnh
n (%)
n (%)
Giới tính
Nữ
41 (17,1) 199 (82,9)
1,2 (0,8 - 1,9)
0,3
Nam
24 (13,7) 151 (86,3)
1

BS ngoại
19 (22,9)
64 (77,1)
2,6 (1,2 - 5,4) 0,008
Điều dưỡng 37 (16,1) 193 (83,9)
1,8 (0,9 - 3,6)
0,08
BS nội
9 (8,8)
93 (91,2)
1
Bảng 3.2 cho thấy chàm tay có liên quan có ý nghĩa thống kê
với cơ địa dị ứng, nhóm tuổi nghề, mức độ rửa tay và vị trí công tác.
3.3 Hiệu quả của truyền thông giáo dục sức khỏe


14

Bảng 3.3. Đặc điểm mẫu ở thời điểm T0 và T1
Đặc điểm
NCT (n=57) NC (n=50)
p
Thời điểm T0
Giới
15 (26,3)
Nam
20 (40)
0,13*
Nữ
42 (73,7)

40 (80)
Chàm tay
Không
55 (96,5)
47 (94)
0,5*

2 (3,5)
3 (6)
HECSI
17 ±1,4
13,6 ± 5,5
0,7**
Kiến thức phòng bệnh
5,4 ± 2,2
5,7 ± 1,2
0,4**
Dùng kem dưỡng da
0,7 ± 0,7
0,4 ± 0,4
0,003**
Đeo găng tay
1,0 ± 0,7
0,9 ± 0,8
0,4**
Thời điểm T1
Mất mẫu
2 (3,5)
2 (4)
0,8*


p

p

Độ khác biệt trong
khác biệt
∆NCT-∆NC p

Kiến thức
T0
5,4 (0,3)
5,7 (0,2)
T1
8,9 (0,1)
5,9 (0,2)
∆=T1-T0
3,5 (0,2)
mất mẫu là 7%. Với tỉ lệ này vẫn đảm bảo độ lớn của cỡ mẫu, hạn chế
những sai lệch do cơ hội vì trong lúc tính toán cỡ mẫu đã dự trù mất
mẫu 10%.
Kết quả thống kê cho thấy điều dưỡng nhiều hơn bác sỹ (bảng
3.1). Tỉ số điều dưỡng/bác sỹ trong mẫu (230/185=1,2) cũng tương
đương với thống kê của Bộ Y Tế năm 2013 (điều dưỡng/bác sỹ=1,4).
Đa số nhân viên y tế rửa tay trên 5 lần trong một ngày làm việc
thường nhật. Điều này tương tự như báo cáo tại Thổ Nhĩ Kỳ của tác
giả Ozyazicioglu và cộng sự: 58% nhân viên y tế rửa tay trên 10 lần
trong ngày làm việc.
Khám da tay, chẩn đoán chàm tay và chấm điểm HECSI được
thực hiện bởi các bác sỹ da liễu trong ngày hẹn đến khám và thu lại bộ
câu hỏi. Tỉ lệ bệnh chàm tay qua khám da tay là 6,5%. Dạng lâm sàng
thường gặp nhất là dạng mụn nước. Điểm trung bình của chỉ số HECSI
là 20,2 ±5,3 (dao động từ 15 – 37): tương đồng với điểm HECSI của
các bệnh nhân bị chàm tay trong các nghiên cứu tại Đan Mạch năm
2009 (điểm trung bình của HECSI=19,9).
So sánh với tỉ lệ bệnh chàm tay trong dân số chung của một số
nước qua khám da tay (Mỹ, Hà Lan): tỉ lệ thay đổi từ 0,5%-3,2%, tỉ lệ
chàm tay của nhân viên y tế trong đề tài này cao hơn nhiều. Tương tự
các nghiên cứu khác cũng cho thấy tỉ lệ chàm tay qua khám lâm sàng
của Nha Sỹ, ĐD đều cao hơn nhiều so với tỉ lệ chàm tay trong dân số
chung. Đây là một trong hai đặc trưng trong định nghĩa bệnh nghề
nghiệp của tổ chức lao động quốc tế.
Khám lâm sàng được coi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh
chàm tay. Tuy nhiên việc thực hiện rất tốn kém vì cần bác sỹ chuyên


17


18

bảng 3.2). Mốc thời gian để nghiên cứu bệnh nghề nghiệp thay đổi tùy
theo loại bệnh. Trong đề tài này chọn mốc thời gian là 5 năm để dễ so
sánh với các đề tài đã công bố bởi vì trong nghiên cứu tương tự trước
đây, các tác giả thường lấy mốc là 5 năm. So sánh với các đề tài theo
dõi dọc ở đối tượng là sinh viên điều dưỡng của Klaus và Visser: tỉ lệ
chàm tay tăng theo năm học của sinh viên. Đề tài của tác giá Lan tại
Đài Loan (thiết kế nghiên cứu bệnh chứng) ở đối tượng là điều dưỡng
cho thấy nhóm có thâm niên cao bị chàm tay nhiều hơn (OR=1,524;
p=0,021 và KTC95%: 1,067 - 2,177). Xét về mặt y học chứng cứ thì
các kết quả từ nghiên cứu phân tích có độ mạnh hơn các nghiên cứu
mô tả trong việc diễn đạt các yếu tố nguy cơ. Như vậy, thâm niên công
tác là yếu tố nguy cơ của bệnh chàm tay và kết quả này hằng định qua
các nghiên cứu.
- Cơ địa dị ứng: kết quả thống kê cho thấy bệnh chàm tay có
liên quan đến cơ địa dị ứng (bảng 3.2). Điều này cũng tương tự như
kết quả nghiên cứu tương tự của Smith và cộng sự được thực hiện: tại
Hàn Quốc (trên đối tượng nghiên cứu là sinh viên điều dưỡng) với
OR=4,2; p =0,0083; KTC95%: 1,5 - 12,8; tại Trung Quốc trên đối
tượng là điều dưỡng với OR=4,6; p=0,0096; KTC95%: 1,4 - 15,0. Các
nghiên cứu khác như: nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ của Ozyazicioglu
cũng cho kết quả tương tự là bệnh chàm tay có liên quan với tiền căn
dị ứng (p
cứu theo dõi dọc của Visser cũng cho thấy rửa tay nhiều lần bị chàm
tay nhiều hơn (OR=1,5; KTC95% 1,0 - 2,3). Nhóm của Visser, Lan


20

làm các nghiên cứu phân tích nên mối liên quan này có độ mạnh về
mặt y học chứng cứ hơn các nghiên cứu còn lại. Ngoài ra, trong một
nghiên cứu được thực hiện tại Anh của tác giả Williams: nghiên cứu
mô phỏng việc rửa tay như nhân viên y tế (rửa tay 15 lần/ngày; mỗi
lần rửa tay với thời lượng 1 phút 30 giây; lượng xà bông dùng cho mỗi
lần là 3 lần xịt từ bình chứa; dung dịch rửa tay là dung dịch kháng
khuẩn có chứa 2% triclosan). Kết quả sau 14 ngày, chỉ số TEWL và
chỉ số HECSI tăng (p=0,003). Nghiên cứu của tác giả Williams đã cho
thấy việc rửa tay y tế là yếu tố nguy cơ gây bệnh chàm tay. Như vậy
bệnh chàm tay có liên quan đến số lần rửa tay và kết quả này hằng định
qua các nghiên cứu. Ngoài ra, công thức cấu tạo của các hóa chất tẩy
rửa là sự kết hợp giữa acid béo và chất kiềm (phản ứng xà phòng hóa).
Chất kiềm còn được gọi là sút ăn da. Do đó, khi rửa tay bằng dung dịch
tẩy rửa, chất kiềm sẽ tẩy rửa (lấy mất) các chất dầu (giữ ẩm) tự nhiên
của da. Do đó, việc rửa tay bằng xà bông nhiều lần, sẽ lấy mất rất nhiều
chất giữ ẩm da. Da không kịp tạo ra chất giữ ẩm nếu chúng ta rửa tay
liên tục nhiều lần với dung dịch tẩy rửa, da sẽ trở nên khô, đỏ và nứt
nẻ dẫn tới chàm tay (chàm tiếp xúc)
- Vị trí công tác: kết quả thống kê cho thấy (bảng 3.2) bệnh
chàm tay có liên quan đến vị trí công tác: bác sỹ khối ngoại bị chàm
tay gấp 2,6 lần bác sỹ khối nội. Điều này cũng phù hợp với các nghiên
cứu trước như của tác giả Sato tại Nhật Bản (bác sỹ phẫu thuật bị chàm
tay nhiều hơn bác sỹ nội khoa với p=0,001). Công việc của bác sỹ khối
ngoại liên quan đến các thủ thuật, phẫu thuật, phải tuân thủ quy trình

tay, cho nên nhân viên y tế trong nhóm can thiệp gia tăng hành vi
phòng ngừa bệnh. Việc chọn thời điểm 6 tháng sau truyền thông giáo
dục sức khỏe để xác định hiệu quả của can thiệp (nhằm thay đổi hành
vi) vì: theo các công trình nghiên cứu về hành vi; người bình thường
mất ít nhất 21 ngày để hình thành 1 thói quen mới và mất hơn 2 tháng
(66 ngày) để 1 hành vi mới trở thành thói quen.


22

4.5. Điểm mạnh và điểm hạn chế của đề tài
4.5.1. Điểm mạnh:
- Nghiên cứu đa trung tâm (thực hiện tại các bệnh viện công lập quận
5 TPHCM).
- Chẩn đoán bệnh chàm tay được thực hiện bằng bộ câu hỏi và khám
lâm sàng.
- Thiết kế nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu được sử dụng phù hợp
cho từng mục tiêu, từng giai đoạn, với các tiêu chí lựa chọn cụ thể để
tránh sai lệch, cơ hội. Sử dụng phương pháp hồi quy logistic đa biến
để kiểm soát các yếu tố gây nhiễu và tương tác
- Đặt được giả thuyết về mối quan hệ giữa bệnh chàm tay và các yếu
tố: thâm niên công tác, mức độ rửa tay và tiền căn tạng dị ứng.
- Xác định được hiệu quả của truyền thông giáo dục sức khỏe đến
việc nâng cao kiến thức và thay đổi hành vi (hướng đến thực hiện
những hành vi tốt cho sức khỏe) trong phòng ngừa bệnh chàm tay.
- Hành vi phòng ngừa bệnh chàm tay là hành vi tự báo cáo và hoàn
toàn tự nguyện. Các đối tượng không bị áp lực khi báo cáo hành vi.
4.5.2. Điểm hạn chế:
Mặc dù nhiều nỗ lực đã được thực hiện để đảm bảo chất lượng
của nghiên cứu, một số giới hạn của nghiên cứu được đề cập như sau,

Đây là một nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ hiện mắc và các yếu
tố liên quan đến bệnh chàm tay của nhân viên y tế tại quận 5 thành phố
Hồ Chí Minh, đồng thời xác định hiệu quả của truyền thông giáo dục
sức khỏe đến kiến thức và hành vi phòng ngừa bệnh chàm tay. Kết quả
nghiên cứu đã trả lời đủ 3 mục tiêu cụ thể:
1. Tỉ lệ hiện mắc thời khoảng 1 năm bệnh chàm tay của nhân viên y
tế tại quận 5 thành phố Hồ Chí Minh năm 2013 là 15,6%.
2.

Các yếu tố liên quan đến bệnh chàm tay của nhân viên y tế tại
quận 5 thành phố Hồ Chí Minh gồm: cơ địa dị ứng (PR=1,7;
KTC95%: 1,1-2,7; p=0,03), mức độ rửa tay (nhóm rửa tay 6-10



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status