VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN ANH TÚ
THñ TôC GI¶I QUYÕT Vô VIÖC H¹N CHÕ C¹NH TRANH
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 9. 38 01 07
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Như Phát
Phản biện 1: ............................................................................
Phản biện 2: ............................................................................
Phản biện 3: ............................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội
Vào hồi………giờ………ngày……tháng…….năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay, để hoàn thiện các quy định pháp
luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT, nhất thiết chúng ta phải có những
nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề có tính chất lý luận của loại thủ tục này,
đánh giá lại một cách khách quan những ưu và nhược điểm của quy trình TTCT
hiện có, đồng thời tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm của các nước có lịch sử lâu đời
về xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật cạnh tranh trên thế giới, trên cơ
sở đó, đề xuất các giải pháp khả thi, tối ưu và triệt để cho việc hoàn thiện các
quy định pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ việc HCCT theo lộ trình
lâu dài và kiến nghị những giải pháp trước mắt cho việc xây dựng các văn bản
hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh (2018), đảm bảo nâng cao hiệu quả thực
thi pháp luật cạnh tranh.
Những nhiệm vụ đó của khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay cũng chính là
động lực và tâm huyết để tôi lựa chọn đề tài “Thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở
Việt Nam hiện nay” làm hướng nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ của mình.
1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận,
những vấn đề pháp lý của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; phân tích, đánh giá
thực trạng pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam và thực
tiễn thi hành, để từ đó đưa ra phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở
Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề
sau: Một là, nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của thủ tục giải quyết
vụ việc HCCT; Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục giải
quyết vụ việc HCCT và thực tiễn thi hành ở Việt Nam hiện nay; Ba là, nghiên
dựng và thực thi pháp luật cạnh tranh hoặc một số quốc gia có điều kiện tương đồng
như Việt Nam khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang kinh tế thị
trường như: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Nga...
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án nghiên cứu trên cơ sở lí luận là quan điểm của Đảng và Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phương pháp luận
duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử. Trên cơ sở đó, Luận án đã sử
dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể khác nhau như: Phương pháp tổng hợp
và phân tích; Phương pháp luật học so sánh; Phương pháp trìu tượng; Phương
pháp nghiên cứu gián tiếp; Phương pháp tiếp cận hệ thống, đa ngành, liên ngành.
5. Đóng góp mới về khoa học của Luận án
Thủ tục giải quyết vụ việc HCCT là vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực
tiễn. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về thủ tục
giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay, Luận án đóng góp một số nhận
thức mới như sau: Một là, hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận riêng về thủ tục giải
quyết vụ việc HCCT bên cạnh hệ thống cơ sở lý luận chung về TTCT, bao gồm:
Các khái niệm vụ việc HCCT, thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; các đặc trưng
pháp lý và các nguyên tắc cơ bản của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; cơ sở
pháp lý làm phát sinh vụ việc HCCT; thiết chế có thẩm quyền giải quyết vụ việc
HCCT; nội dung của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; hai là, đưa ra những nhận
xét, đánh giá về thực trạng các quy định pháp luật liên quan tới từng giai đoạn
cụ thể của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT bao gồm: Giai đoạn điều tra vụ việc
HCCT; giai đoạn xử lý vụ việc HCCT; giai đoạn giải quyết khiếu nại về quyết
định xử lý vụ việc HCCT và vụ kiện hành chính về quyết định giải quyết khiếu
nại theo Luật Cạnh tranh (2004) và Luật Cạnh tranh (2018); ba là, đề xuất định
hướng và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
Luật cạnh tranh.
Về bản chất pháp lý của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT, trong số các
công trình nghiên cứu về TTCT, một số nghiên cứu đã đưa ra nhận định ở
những mức độ khác nhau về bản chất pháp lý của TTCT. Tuy nhiên, những
nghiên cứu này mới chỉ có tính chất gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo vì
chưa có được một sự đánh giá toàn diện về bản chất pháp lý, các đặc trưng pháp
lý của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT, chưa có sự so sánh chi tiết với các thủ
tục tố tụng khác như tố tụng dân sự, hành chính, hình sự trong từng giai đoạn tố
tụng cụ thể. Có khá nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của thủ tục giải
quyết vụ việc HCCT và sự cần thiết phải thiết lập được một quy trình tố tụng
hiệu quả để đảm bảo thực thi pháp luật cạnh tranh
Về các chủ thể thực hiện và tham gia vào thủ tục giải quyết vụ việc
HCCT, hiện tại, không có công trình nghiên cứu trong nước nào nghiên cứu
chuyên sâu về các chủ thể thực hiện và tham gia thủ tục giải quyết vụ việc
HCCT, tuy nhiên có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới các chủ thể tiến
hành và tham gia TTCT hoặc các chủ thể tham gia giải quyết VVCT. Về nội
dung này, các tác giả đều thống nhất cho rằng ở Việt Nam hiện nay, cơ quan
tiến hành TTCT gồm có: Cục QLCT và HĐCT, người tiến hành TTCT gồm có:
Thành viên HĐCT; Thủ trưởng cơ quan QLCT; Điều tra viên và Thư ký PĐT,
người tham gia TTCT gồm có: Bên khiếu nại; bên bị điều tra; luật sư; người
làm chứng; người giám định; người phiên dịch; người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan. Trong số các chủ thể thực hiện và tham gia vào thủ tục giải quyết
VVCT, có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước dành sự quan tâm
đặc biệt tới loại chủ thể là cơ quan tiến hành TTCT. Các công trình nghiên cứu
này chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá về bản chất pháp lý của cơ quan QLCT,
cách thức tổ chức và thẩm quyền hoạt động của loại cơ quan này. Đa số các công
4
trình nghiên cứu đều chỉ ra rằng các cơ quan cạnh tranh hiện nay trên thế giới
Nam”, trong khuôn khổ của Dự án “Nâng cao năng lực thực thi Luật và chính
sách cạnh tranh” giữa Cục QLCT và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản;
Dương Đăng Huệ, Nguyễn Hữu Huyên, “Mô hình cơ quan QLCT của Việt
Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1/2004… và đặc biệt là một tập hợp các
công trình nghiên cứu của Bộ Công Thương trong quá trình soạn thảo Luật
Cạnh tranh (2018) với vai trò là cơ quan chủ trì soạn thảo. Các nghiên cứu này
đã chỉ ra một số nghi ngại về tính độc lập của Cục QLCT và HĐCT cũng như sự
phối hợp hiệu quả giữa hai cơ quan này khi tiến hành giải quyết vụ việc HCCT.
Ngoài ra, sự bất hợp lý của các quy định về thời hiệu khiếu nại, thời hạn điều tra
VVCT cũng được các nghiên cứu chỉ ra. Bộ Công Thương với “Báo cáo tổng
kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh” cũng đã chỉ ra sự kém hiệu quả của thủ
5
tục giải quyết vụ việc HCCT tại Việt Nam trong thời gian 12 năm thực thi Luật
Cạnh tranh (2004) thông qua con số thống kê về số vụ việc HCCT đã được điều
tra (08 vụ) và giải quyết (06 vụ).
1.1.3. Các nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở
Việt Nam hiện nay
Đây là nội dung có ít các công trình nghiên cứu đề cập tới, hoặc nếu có đề
cập tới thì chỉ mang tính riêng lẻ cho một số khía cạnh cụ thể nào đó của thủ tục
giải quyết vụ việc HCCT. Qua nghiên cứu các công trình có tính tiêu biểu, tác
giả Luận án tập hợp được một số kiến nghị chủ yếu sau: Phải tách biệt giữa thủ
tục giải quyết VVCT không lành mạnh và thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; có
cơ chế khuyến khích và đảm bảo quyền khiếu nại về vụ việc HCCT cho mọi tổ
chức, cá nhân; giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh cho bên khiếu nại; tăng thời hiệu
khiếu nại và thời hạn điều tra vụ việc HCCT …
1.1.4. Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề mà Luận án kế thừa
Trên cơ sở khảo sát các nghiên cứu trong và ngoài nước về thủ tục giải
pháp, đều phải được tổ chức một cách độc lập với thẩm quyền đủ mạnh để thực
thi các chính sách và pháp luật cạnh tranh một cách hiệu quả.
+ Về cơ bản, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng thủ tục giải quyết vụ việc
HCCT thường bao gồm các giai đoạn chính như: Tiếp nhận, đánh giá thông
tin, khiếu nại làm cơ sở cho việc điều tra vụ việc; điều tra vụ việc; xử lý vụ
việc; và xem xét lại các quyết định xử lý.
1.1.5. Những vấn đề mà Luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu:
Trên cơ sở nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án và những kết quả nghiên cứu
trong và ngoài nước có thể kế thừa, Luận án sẽ phải tiếp tục triển khai nghiên
cứu và làm rõ: Hệ thống các khái niệm riêng cho thủ tục giải quyết vụ việc
HCCT; bản chất pháp lý và các đặc trưng cơ bản của thủ tục giải quyết vụ việc
HCCT, các nội dung của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; đánh giá thực trạng
pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam; nghiên cứu so sánh
với pháp luật nước ngoài, thông lệ quốc tế, đối chiếu với mô hình lý thuyết để từ
đó đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay.
1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
1.2.1. Lý thuyết nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên nền tảng mối quan hệ giữa “pháp luật nội
dung” và “pháp luật hình thức”. Theo đó, hiệu quả của thủ tục giải quyết vụ
việc HCCT được đánh giá trên cơ sở khả năng đưa các quy định “nội dung” của
pháp luật chống HCCT vào thực tiễn cuộc sống nhằm điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực này phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Luận án
cũng được thực hiện trên cơ sở các lý thuyết về cạnh tranh như: Lý thuyết cạnh
tranh của trường phái cổ điển (lý thuyết về cạnh tranh của Adam Smith, của Jonh
Stuart Mill…); lý thuyết cạnh tranh của trường phái tân cổ điển (lý thuyết của
Keynes); lý thuyết cạnh tranh tự do; lý thuyết về mối quan hệ kinh tế - luật trong
lĩnh vực cạnh tranh…
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu
Một số câu hỏi nghiên cứu đã được đặt ra trong quá trình triển khai
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT
VỤ VIỆC HẠN CHẾ CẠNH TRANH
2.1. Những vấn đề lý luận về thủ tục giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh
2.1.1. Bản chất kinh tế - pháp lý và nhu cầu xử lý các hành vi HCCT
Các hành vi HCCT mang bản chất kinh tế - pháp lý. Bản chất của chính
sách, pháp luật chống HCCT là sử dụng quyền lực công để can thiệp vào quyền
tự do ý chí, tự do kinh doanh của thương nhân, giới hạn các quyền đó trong
chừng mực không làm tổn hại đến môi trường cạnh tranh nói chung, cũng như
các thành tố tham gia thị trường khác.
2.1.2. Lược sử sự hình thành các quy định pháp luật về chống HCCT
Trong lịch sử loài người, pháp luật về chống HCCT ra đời muộn hơn khá
nhiều so với pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh. Từ khi ra đời, pháp
luật chống HCCT đã trở thành công cụ đắc lực của mỗi quốc gia để bảo vệ cạnh
tranh, bảo vệ thị trường, bảo vệ các tác nhân kinh tế và người tiêu dùng trước sự
xâm hại của các hành vi HCCT.
2.1.3. Khái niệm vụ việc HCCT và thủ tục giải quyết vụ việc HCCT
- Khái niệm vụ việc HCCT: là một loại VVCT, có dấu hiệu vi phạm các
quy định của pháp luật chống HCCT, bị điều tra, xử lý theo các quy định của
pháp luật cạnh tranh, bao gồm vụ việc thỏa thuận HCCT và vụ việc lạm dụng vị
trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
- Khái niệm thủ tục giải quyết vụ việc HCCT: là các bước, các giai đoạn
8
tố tụng được thiết lập theo trình tự với sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân theo thẩm quyền được pháp luật cạnh tranh quy định nhằm giải quyết vụ
việc HCCT. Thủ tục giải quyết vụ việc HCCT bao gồm 03 quy trình chính
tương ứng với 03 giai đoạn tố tụng chủ yếu, đó là: Quy trình điều tra vụ việc
hiện qua nhiều hơn một cấp xét xử hoặc pháp luật cạnh tranh phải thiết kế một
quy trình đặc biệt nào đó để đảm bảo rằng trong trường hợp các bên cho rằng
quyết định xử lý vụ việc HCCT là không công bằng, họ vẫn còn quyền được
yêu cầu một cơ quan có thẩm quyền cao hơn cơ quan đã ra quyết định xử lý
xem xét lại quyết định xử lý; việc xử lý vụ việc HCCT phải được giám sát bởi
xã hội, cộng đồng, doanh nghiệp và người tiêu dùng để đảm bảo tính khách
quan của quá trình xử lý.
9
- Nguyên tắc người hoặc thành viên của cơ quan xử lý phải độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật: Để kết quả xử lý vụ việc HCCT được khách quan,
đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, người
tiêu dùng và Nhà nước, pháp luật cạnh tranh các quốc gia không chỉ có nhiệm
vụ phải đảm bảo cho cơ quan cạnh tranh được hoạt động độc lập và minh bạch
mà còn phải đảm bảo những cá nhân theo thẩm quyền tham gia vào việc giải
quyết vụ việc HCCT cũng phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi thực thi
nhiệm vụ được giao.
- Nguyên tắc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, bảo
vệ bí mật kinh doanh: Trong TTCT nói chung và thủ tục giải quyết vụ việc HCCT
nói riêng, nguyên tắc này đảm bảo rằng việc áp dụng các biện pháp nhằm đạt được
mục tiêu giải quyết vụ việc HCCT của các cơ quan, người tiến hành tố tụng không
được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.
2.2. Nội dung cơ bản của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT
2.2.1. Thiết chế có thẩm quyền giải quyết vụ việc HCCT
Tại mỗi quốc gia, pháp luật cạnh tranh sẽ quy định cơ quan nào có thẩm
quyền giải quyết vụ việc HCCT. Trên thực tế, các cơ quan này có tên gọi riêng
rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và phạm vi thẩm quyền mà chúng
được trao cũng không giống nhau. Thẩm quyền điều tra và thẩm quyền xử lý
đối với vụ việc HCCT luôn luôn được cố gắng phân tách riêng để đảm bảo kết
nhiều nước, đặc biệt là Liên minh Châu Âu, thì thủ tục giải quyết vụ việc
HCCT có thể bị đình chỉ trong trường hợp bên khiếu nại rút đơn khiếu nại và
sau quá trình điều tra, cơ quan cạnh tranh xét thấy không có căn cứ để tiếp tục
giải quyết vụ việc.
- Khiếu nại, khởi kiện quyết định xử lí vụ việc HCCT
Thủ tục giải quyết vụ việc HCCT luôn đảm bảo quyền khiếu nại (hay
khởi kiện) của các bên liên quan tới một cấp xử lý khác cao hơn, trong trường
hợp họ không đồng ý với một phần hoặc toàn bộ quyết định xử lý của cơ quan
có thẩm quyền xử lý lần đầu. Tuy nhiên, tùy theo quy định của pháp luật từng
quốc gia mà cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định xử lý ban đầu có thể
là cơ quan hành chính cấp trên (của cơ quan đã ra quyết định xử lý bị khiếu
nại), Tòa hành chính, Tòa án thường hoặc một loại Tòa chuyên trách được thiết
kế riêng cho việc giải quyết khiếu nại quyết định xử lý VVCT.
Chương 3
THỰC TRẠNG THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC HẠN CHẾ
CẠNH TRANH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Thực trạng các quy định pháp luật về chủ thể tiến hành và tham
gia thủ tục giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh và thực tiễn áp dụng
Vì vụ việc HCCT là một loại VVCT bị điều tra, xử lý theo quy định của Luật
cạnh tranh, nên các chủ thể tiến hành và tham gia giải quyết vụ việc HCCT cũng
chính là các chủ thể tiến hành và tham gia TTCT được quy định trong Luật cạnh
tranh (2004) và hiện nay là Luật cạnh tranh (2018).
3.1.1. Cơ quan tiến hành TTCT
Theo Luật cạnh tranh (2004), cơ quan tiến hành TTCT bao gồm Cơ quan
QLCT và HĐCT (Điều 74). Theo Luật cạnh tranh (2018), cơ quan tiến hành
TTCT bao gồm: UBCTQG; Hội đồng xử lý vụ việc HCCT; Hội đồng giải quyết
khiếu nại quyết định xử lý VVCT; và Cơ quan điều tra VVCT (Điều 58).
3.1.2. Người tiến hành TTCT
cung cấp chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm. Nghị định 116 cụ thể hơn về
nghĩa vụ chứng minh của bên khiếu nại tại Khoản 1 Điều 74: “Bên khiếu nại,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải đưa ra chứng
cứ để chứng minh cho khiếu nại, yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”.
3.2.2. Điều tra vụ việc HCCT theo thẩm quyền của cơ quan cạnh tranh
Theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay, vụ việc HCCT sẽ được
mở ra không chỉ trên cơ sở yêu cầu của bên khiếu nại mà còn trên cơ sở sự chủ
động nhập cuộc của cơ quan cạnh tranh với tính chất là một thiết chế có nhiệm
vụ bảo vệ “trật tự cạnh tranh” trong nền kinh tế. Theo Luật cạnh tranh (2004)
cũng như Luật cạnh tranh (2018), việc phát hiện ra hành vi có dấu hiệu vi phạm
quy định của Luật cạnh tranh là một trong hai căn cứ để cơ quan cạnh tranh bắt
đầu mở thủ tục điều tra vụ việc HCCT.
3.2.3. Thời hiệu khiếu nại và điều tra vụ việc HCCT
Điều 58 và Điều 65 Luật cạnh tranh (2004) quy định thời hiệu khiếu nại
VVCT, thời hiệu ra quyết định điều tra trong trường hợp cơ quan QLCT phát
hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh là 2 năm kể từ ngày
hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện. Nhận thấy
sự không hợp lý của quy định về thời hiệu, Luật cạnh tranh (2018) đã có những
điều chỉnh về thời hiệu khiếu nại vụ việc HCCT cũng như thời hiệu để
12
UBCTQG điều tra về hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh từ 02
năm thành 03 năm tại Khoản 2 Điều 77 và Khoản 2 Điều 80. Về cách tính thời
hiệu khiếu nại, theo quy định tại Điều 58 và Điều 65 Luật cạnh tranh (2004)
cũng như tại Điều 77 và Điều 80 Luật cạnh tranh (2018), thời hiệu khiếu nại
VVCT và thời hiệu để UBCTQG tự mình ra quyết định điều tra được tính từ
thời điểm hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện.
3.3. Thực trạng các quy định pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ
việc hạn chế cạnh tranh và thực tiễn áp dụng
ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng gây tác động hoặc có khả năng gây tác động
HCCT đến thị trường Việt Nam
Luật Cạnh tranh (2004) chỉ điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp có
quốc tịch Việt Nam hoặc doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt
13
Nam. Do đó, theo Luật cạnh tranh (2004) sẽ không có cơ sở pháp lý rõ ràng để
điều chỉnh các hành vi HCCT diễn ra bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhưng có ảnh
hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh tại Việt Nam. Để khắc phục hạn chế
này của Luật cạnh tranh (2004), Điều 1 Luật cạnh tranh (2018) quy định: “Luật
này quy định về hành vi HCCT, tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng
gây tác động HCCT đến thị trường Việt Nam….”. Quy định này là phù hợp với
thông lệ thế giới và yêu cầu điều chỉnh thực tế của thị trường Việt Nam.
3.3.6. Chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra hình sự trong trường hợp vụ
việc HCCT có dấu hiệu tội phạm
Cơ quan điều tra cạnh tranh ở Việt Nam không có chức năng điều tra vụ
án hình sự, chính vì vậy, trong trường hợp qua điều tra vụ việc HCCT phát hiện
có dấu hiệu tội phạm, điều tra viên phải kiến nghị ngay với Thủ trưởng Cơ quan
QLCT xem xét chuyển hồ sơ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền khởi tố vụ
án hình sự (Điều 94 Luật cạnh tranh (2004)).
3.3.7. Áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính trong thủ tục
giải quyết vụ việc HCCT
Điều 61 Luật cạnh tranh (2004) quy định về việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn hành chính, theo đó “Thủ trưởng Cơ quan QLCT, Chủ tịch HĐCT có
quyền áp dụng một số biện pháp ngăn chặn hành chính theo quy định của pháp
luật về xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp quy định tại Khoản 6 Điều
76 và Khoản 4 Điều 79 của Luật này”. Theo Điều 88 Nghị định 116 thì các
biện pháp ngăn chặn hành chính trong điều tra, xử lý vụ việc HCCT bao gồm:
1) Tạm giữ người theo thủ tục hành chính; 2)Tạm giữ tang vật, phương tiện vi
án. Các thành viên Hội đồng xử lý VVCT phải giải quyết tất cả các vấn đề của
vụ việc HCCT bằng cách biểu quyết về từng vấn đề theo nguyên tắc đa số.
3.4.2. Đình chỉ việc giải quyết vụ việc HCCT
Theo quy định của Luật cạnh tranh (2004), vấn đề đình chỉ việc giải quyết vụ
việc HCCT được điều chỉnh tại Điều 101: Hội đồng xử lý VVCT quyết định đình
chỉ giải quyết VVCT thuộc thẩm quyền giải quyết của HĐCT trong các trường hợp:
“+ Thủ trưởng Cơ quan QLCT đề nghị đình chỉ giải quyết VVCT trong trường hợp
không đủ chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm và Hội đồng xử lý VVCT xét thấy
đề nghị đó là xác đáng; + Bên bị điều tra đã tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm,
khắc phục hậu quả gây ra và bên khiếu nại tự nguyện rút đơn khiếu nại; + Bên bị
điều tra đã tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả gây ra và Thủ
trưởng cơ quan QLCT đề nghị đình chỉ giải quyết VVCT trong trường hợp việc điều
tra được Cơ quan QLCT chủ động mở thủ tục điều tra”.
3.4.3. Giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi HCCT gây ra
Theo quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay, trong Quyết
định giải quyết vụ việc HCCT không đặt ra vấn đề giải quyết yêu cầu bồi thường
thiệt hại của tổ chức, cá nhân do hành vi HCCT trái pháp luật gây ra. Tại Khoản 3
Điều 117 Luật cạnh tranh 2004 và Điều 110 Luật cạnh tranh 2018 dẫn chiếu vấn
đề bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra đến các quy
định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự.
3.5. Thực trạng các quy định pháp luật trong giai đoạn giải quyết
khiếu nại quyết định xử lý vụ việc HCCT, giải quyết vụ án hành chính về
quyết định giải quyết khiếu nại và thực tiễn áp dụng.
Theo định của Luật cạnh tranh (2004), các bên liên quan sau khi nhận được
quyết định xử lý vụ việc HCCT, nếu không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung
của quyết định, có quyền khiếu nại lên HĐCT (Khoản 1 Điều 107). HĐCT là cơ
quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý VVCT của Hội đồng
xử lý VVCT. Theo Luật cạnh tranh (2018), thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết
định xử lý vụ việc HCCT là UBCTQG chứ không phải là HĐCT (Điều 96).
Theo quy định tại Điều 115 Luật cạnh tranh (2004), trong trường hợp
của mỗi quốc gia mà là nhiệm vụ chung của tất cả các quốc gia nơi mà các hành
vi HCCT của các tập đoàn, công ty đa quốc gia có thể tác động tới.
4.1.2. Định hướng hoàn thiện
Việc hoàn thiện thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay phải
theo các định hướng sau: đảm bảo phù hợp với các cam kết quốc tế song phương
và đa phương mà Việt Nam đã và đang tham gia; nhằm nâng cao hiệu quả việc
giải quyết vụ việc HCCT nói riêng và hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh nói
chung; vừa đảm bảo việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cạnh tranh
của cơ quan cạnh tranh vừa đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ
chức, cá nhân liên quan; đảm bảo sự đồng bộ của cả hệ thống pháp luật.
4.2. Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp
luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay
4.2.1. Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật
4.2.1.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn tiếp nhận, đánh
giá thông tin, khiếu nại làm căn cứ cho việc điều tra vụ việc HCCT
- Về vấn đề thời hiệu khiếu nại: việc Luật cạnh tranh (2004) xác định
thời hiệu khiếu nại là 2 năm, Luật cạnh tranh (2018) nâng thời hiệu khiếu nại
từ 2 năm thành 3 năm nhưng áp dụng chung cho cả vụ việc cạnh tranh không
16
lành mạnh và vụ việc HCCT là không hợp lý. Để đảm bảo quy định về thời
hiệu thể hiện đúng bản chất của loại vụ việc HCCT, cần thiết phải có những
quy định về thời hiệu áp dụng riêng cho loại vụ việc HCCT và vụ việc cạnh
tranh không lành mạnh, đồng thời tăng thời hiệu cho việc khiếu nại và điều
tra, xử lý vụ việc HCCT.
- Về cách tính thời hiệu khiếu nại: Theo quy định tại Điều 58 và Điều
65 Luật cạnh tranh (2004) cũng như tại Điều 77 và Điều 80 Luật cạnh tranh
(2018), thời hiệu khiếu nại VVCT được tính từ thời điểm hành vi có dấu hiệu vi
phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện. Trên thực tế, sẽ xảy ra trường
Trong điều tra vụ việc HCCT, xu thế chung của các cơ quan cạnh tranh trên
thế giới là đang dần chấp nhận và sử dụng nhiều hơn các chứng cứ gián tiếp trong
trường hợp không có đủ các chứng cứ trực tiếp để chứng minh. Pháp luật cạnh
17
tranh Việt Nam, có lẽ, cũng nên thừa nhận giá trị của các chứng cứ gián tiếp trong
việc điều tra, xử lý vụ việc HCCT.
- Về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính:
Cần khẳng định là các biện pháp ngăn chặn hành chính và bảo đảm xử lý
vi phạm hành chính trong điều tra, xử lý VVCT là công cụ vô cùng quan trọng
cho cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện có hiệu quả các hoạt động
điều tra và xử lý vụ việc HCCT. Như vậy, sự không đồng bộ giữa Luật xử lý vi
phạm hành chính (2012) và Luật cạnh tranh được dự báo sẽ làm mất đi tính
hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính - một công cụ
vô cùng quan trọng trong điều tra, xử lý vụ việc HCCT. Chúng tôi cho rằng, sự
mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật và việc chỉnh sửa chúng ra sao là việc
của nhà làm luật, song để đảm bảo tính hiệu quả của thủ tục giải quyết vụ việc
HCCT và việc thực thi Luật cạnh tranh nói chung cần thiết phải quy định thẩm
quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính cho người đứng đầu cơ
quan cạnh tranh, và điều này cũng là phù hợp với thông lệ và kinh nghiệm quốc
tế. Luật cạnh tranh cũng cần quy định quyền của bên khiếu nại đề nghị Chủ tịch
UBCTQG cho áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính ngay từ khi nộp đơn
khiếu nại để đảm bảo giá trị “cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu
quả nghiêm trọng có thể xảy ra trong tình thế khẩn cấp” của biện pháp này chứ
không phải sau khi đã có quyết định điều tra thì mới được áp dụng. Đồng thời,
các biện pháp khẩn cấp tạm thời, nếu được quy định trong Luật cạnh tranh cũng
cần mở rộng thêm các biện pháp khác (như cấm hoặc buộc tổ chức, cá nhân
thực hiện một hành vi nào đó) ngoài các biện pháp đã được quy định tại Khoản
1 Điều 82 Luật cạnh tranh (2018) nhằm ngăn chặn kịp thời những thiệt hại
điều tra viên hoặc cơ quan điều tra cần có sự tham vấn các thành viên
UBCTQG để các nội dung điều tra được thực hiện đầy đủ theo đúng yêu cầu
của cơ quan xử lý sau này. Ở chiều ngược lại, khi xử lý vụ việc, Hội đồng xử lý
vụ việc HCCT cũng cần có ý kiến của cơ quan điều tra trước khi ra các quyết
định như: đình chỉ giải quyết vụ việc HCCT theo quy định tại Điều 92 Luật
cạnh tranh (2018); xử lý vụ việc HCCT theo quy định tại Điều 94 Luật cạnh
tranh (2018) hoặc trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung. Thiết lập được mối
quan hệ phối hợp này trong pháp luật cạnh tranh sẽ đảm bảo được thời gian giải
quyết vụ việc HCCT không bị tăng lên vì việc phải điều tra bổ sung, đồng thời
cũng đảm bảo tính chính xác, đúng pháp luật của quyết định xử lý vụ việc.
- Về giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi HCCT trái
pháp luật gây ra
Theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, việc giải quyết yêu cầu
bồi thường thiệt hại cho tổ chức, cá nhân do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh
nói chung và hành vi HCCT trái pháp luật nói riêng gây ra được thực hiện bởi Tòa
dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự căn cứ vào chế định bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng của Bộ luật dân sự (2015). Trong trường hợp tổ chức, cá nhân bị thiệt
hại không khiếu nại tại Cơ quan QLCT để sau khi có Quyết định xử lý vụ việc
HCCT sẽ sử dụng Quyết định đó làm căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại trước
Tòa án mà khởi kiện trực tiếp tại Tòa án bỏ qua việc giải quyết vụ việc HCCT theo
Luật cạnh tranh thì việc giải quyết sẽ gặp nhiều khó khăn.
Do đó, giải pháp đưa ra trong trường hợp này chỉ có thể là:
+ Thứ nhất: thiết lập mối quan hệ pháp lý chặt chẽ giữa cơ quan cạnh
tranh và Tòa án, theo đó, nếu tổ chức, cá nhân bị thiệt hại thực hiện quyền khiếu
nại trước cơ quan cạnh tranh có kèm theo yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại, cơ
quan cạnh tranh sẽ thụ lý, điều tra và ra quyết định xử lý theo thẩm quyền sau
đó chuyển yêu cầu bồi thường thiệt hại cho Tòa án giải quyết.
+ Thứ hai: nếu tổ chức, cá nhân bị thiệt hại thực hiện quyền khởi kiện tại
Tòa án trước, Tòa án phải có quyền yêu cầu cơ quan cạnh tranh tiến hành điều
tra và ra quyết định xử lý, xác định rõ tính trái pháp luật của hành vi làm căn cứ
phải giải quyết khiếu nại lại chứ không thể giao vụ việc cho Hội đồng xử lý
VVCT giải quyết lại vụ việc theo quy định của Điểm đ Khoản 2 Điều 193
Luật Tố tụng hành chính. Đặc biệt, khi Luật Cạnh tranh (2018) có hiệu lực
thay thế cho Luật Cạnh tranh (2004), vấn đề này sẽ khó xử lý hơn nữa vì Hội
đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý VVCT là thiết chế không thường
trực (chỉ được thành lập để giải quyết khiếu nại quyết định xử lý VVCT khi có
đơn khiếu nại). Như vậy, trong trường hợp này, Chủ tịch UBCTQG phải ra
quyết định tái thành lập Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý VVCT
để tiếp nhận việc giải quyết khiếu nại lại vụ việc theo quy định của Điểm đ
Khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính (2015). Đồng thời, theo quy định
của Luật Tố tụng hành chính (2015), vụ án hành chính sẽ được đảm bảo xét xử
bởi hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm, ngoài ra bản án hành chính còn có
thể bị xem xét lại theo thủ tục tái thẩm và giám đốc thẩm. Như vậy, về nguyên
tắc, thủ tục giải quyết vụ việc HCCT có thể kéo dài tới bước cuối cùng của thủ
tục tố tụng hành chính và điều này đi ngược lại với yêu cầu giải quyết nhanh
gọn vụ việc HCCT của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT.
Như vậy, rõ ràng sự thiếu vắng một thiết chế chuyên trách như Tòa
20
cạnh tranh và một quy trình chuyên biệt để giải quyết đến tận cùng vụ việc
HCCT đã buộc chúng ta phải vay mượn, cắt ghép một một quy trình tố tụng
khác (tố tụng hành chính về cạnh tranh) làm cho thủ tục giải quyết vụ việc
HCCT không được đồng bộ và hiệu quả như mong muốn.
Do đó, về lâu dài, với mô hình cơ quan cạnh tranh giải quyết các vụ
việc HCCT ở phương diện hành chính còn Tòa án giải quyết yêu cầu bồi
thường thiệt hại do hành vi HCCT gây ra, ở Việt Nam nên thành lập ra một
loại Tòa chuyên trách về cạnh tranh trong hệ thống Tòa án và Tòa cạnh tranh
sẽ được giao thẩm quyền xem xét lại các quyết định xử lý VVCT của
UBCTQG khi bị kháng cáo.
việc xử lý vụ việc HCCT được thực hiện thông qua PĐT giống với một phiên
xét xử theo nguyên tắc tranh tụng trong tư pháp. Do đó, đối với các thành viên
21
UBCTQG khi tham gia vào Hội đồng xử lý vụ việc HCCT đòi hỏi phải được
đào tạo bài bản về những kiến thức pháp lý nói chung (trong trường hợp trước
đó, họ mới chỉ được đào tạo về kiến thức kinh tế, tài chính) và đặc biệt là kỹ
năng của một thẩm phán.
- Tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về pháp luật cạnh
tranh cho các doanh nghiệp, người tiêu dùng: Với vai trò là các thành tố
tham gia thị trường và là đối tượng có thể bị xâm hại hay chịu tác động của các
hành vi phản cạnh tranh diễn ra trên thị trường, các doanh nghiệp, người tiêu
dùng phải có những hiểu biết nhất định về pháp luật cạnh tranh nói chung và
các quy định pháp luật có liên quan đến thủ tục giải quyết vụ việc HCCT nói
riêng với mục đích: Thứ nhất: các doanh nghiệp hiểu được tác hại của các hành
vi HCCT và chế tài có thể phải gánh chịu trong trường hợp thực hiện các hành
vi đó, qua đó làm tăng hiệu quả chức năng “phòng ngừa” của pháp luật cạnh
tranh; Thứ hai: giúp các doanh nghiệp, người tiêu dùng hiểu được quyền của
mình (như quyền khiếu nại, cung cấp thông tin về hành vi vi phạm cho cơ quan
cạnh tranh) khi bị hành vi HCCT gây thiệt hại hoặc khi phát hiện ra hành vi có
dấu hiệu vi phạm Luật cạnh tranh. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp, người tiêu
dùng sẽ ý thức hơn về trách nhiệm của mình trong việc đồng hành cùng cơ quan
cạnh tranh và các cơ quan quản lý nhà nước khác đấu tranh, loại bỏ các hành vi
HCCT trái pháp luật ra khỏi thị trường.
KẾT LUẬN
Kinh nghiệm của các quốc gia có lịch sử lâu đời về xây dựng và thực
pháp luật chống HCCT trên thế giới đã chỉ ra rằng: Để pháp luật cạnh tranh
được thực thi một cách có hiệu quả trong việc ngăn ngừa, kiểm soát và loại bỏ
về cơ bản là luật công, đảm bảo cho quyền lực Nhà nước can thiệp một cách có
hiệu quả để giữ gìn cạnh tranh.
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, muốn giải quyết vụ việc
HCCT một cách hiệu quả thì Luật Cạnh tranh phải thiết lập được một hệ thống
cơ quan cạnh tranh có đủ thẩm quyền, tính độc lập và khả năng vận hành tốt
quy trình tố tụng từ giai đoạn điều tra cho tới khi ra quyết định xử lý; một đội
ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và phẩm chất đạo đức tốt. Ở
Việt Nam, hệ thống cơ quan cạnh tranh hiện nay được xác định bảo gồm Cục
QLCT và HĐCT. Hai cơ quan này được thành lập theo Nghị định số
05/2006/NĐ-CP và Nghị định số 06/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày
09/01/2006. Việc Cục QLCT nằm trong Bộ Công Thương có thể khiến người ra
nghi ngờ về khả năng hoạt động “độc lập” và thẩm quyền đủ mạnh trong quá
trình điều tra các vụ việc HCCT. Hệ thống cơ quan cạnh tranh bao gồm hai cơ
quan tách biệt là Cục QLCT và HĐCT đảm nhiệm hai giai đoạn là điều tra và
xử lý các vụ việc HCCT khó có thể đảm bảo tính đồng bộ, sự phối hợp, vận
hành tốt trong quá trình giải quyết vụ việc…
Ngày 12.06.2018, tại kỳ họp thứ 5 Quốc Hội khóa XIV, Luật Cạnh tranh
(2018) đã được chính thức thông qua để thay thế cho Luật Cạnh tranh (2004) kể
từ ngày 01.07.2019. Đánh giá tổng thể, đây là một Đạo luật được xây dựng công
phu, có nhiều điểm mới tích cực bao gồm cả các quy định mới về thủ tục giải
quyết vụ việc HCCT nhằm khắc phục những hạn chế đã gặp phải của Luật Cạnh
tranh (2004) như việc hợp nhất giữa Cơ quan QLCT với HĐCT để thành lập ra
UBCTQG qua đó thống nhất chức năng điều tra và xử lý vụ việc HCCT trong
một cơ quan thống nhất.
Tuy nhiên, từ phương diện lý thuyết còn nhiều quy định của Luật Cạnh
tranh (2018) vẫn bị đánh giá là chưa thực sự hợp lý và có khả năng làm giảm
hiệu quả thực thi của Đạo luật này trên thực tế khi chính thức đi vào áp dụng.
Theo Luật Cạnh tranh (2018), yếu tố “tư pháp” vẫn mờ nhạt hơn yếu tố “hành
chính” trong các quy định của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT. Các quy định
pháp luật vẫn chú trọng tới việc thực hiện chức năng của cơ quan cạnh tranh hơn