BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU - ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI
TRẦN VĂN HẢI
NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN MÚA ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Sân khấu
Hà Nội - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU - ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI
TRẦN VĂN HẢI
NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN MÚA ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Sân khấu
Mã số: 9 21 02 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
XHH
Múa đương đại
Múa hiện đại
Múa đương đại Việt Nam
Nghiên cứu sinh
Nghệ thuật biểu diễn
Nghệ thuật biểu diễn múa đương đại
Nghệ thuật đương đại
Nghệ thuật múa đương đại
Nghệ thuật trình diễn
Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa
Thành phố Hồ Chí Minh
Văn học nghệ thuật
Văn học nghệ thuật Việt Nam
Xã hội hóa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN
MÚA ĐƯƠNG ĐẠI........................................................................................11
1. Những nghiên cứu chung về nghệ thuật biểu diễn..................................11
2. Nghệ thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam thời kỳ hội nhập...........11
PHẦN NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................34
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI..................................................34
1.1. Giao lưu - tiếp biến...............................................................................34
1.2. Nghệ thuật hiện đại - Nghệ thuật biểu diễn - Nghệ thuật biểu diễn
hiện đại thế giới - Nghệ thuật múa hiện đại................................................41
1.3. Nghệ thuật đương đại - Lý thuyết triết học đương đại - Nghệ thuật
3.6. Một số giải pháp và kiến nghị để phát triển nghệ thuật biểu diễn
MĐĐVN trong thời kỳ hội nhập...............................................................161
Tiểu kết Chương 3.........................................................................................173
KẾT LUẬN...................................................................................................175
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................179
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghệ thuật biểu diễn múa hiện đại ra đời, phát triển vào thập niên đầu
của thế kỷ XX ở một số nước có nền nghệ thuật tiên tiến như Mỹ, Pháp, Anh,
Đức, Úc... đã xuất hiện nhiều trào lưu múa mới. Nhiều đề tài tác phẩm múa
phản ánh cảm xúc, tâm lý, tình cảm, tư duy, suy tưởng của con người trong xã
hội hiện đại.
Khi mới ra đời, cấu trúc nghệ thuật biểu diễn múa hiện đại gồm ba
thành phần cơ bản: Tác phẩm - diễn viên - khán giả.
Sự tiếp nối nghệ thuật hiện đại là nghệ thuật hậu hiện đại và đương đại,
ra đời năm 1960 [106], về cấu trúc của nghệ thuật biểu diễn đương đại trên
sân khấu đã phát triển với năm thành phần cơ bản:
Tác phẩm - Nghệ thuật diễn viên - Ngôn ngữ của các loại hình biểu
diễn múa, và các thể loại nghệ thuật phù trợ: âm nhạc, (thiết kế sân khấu: âm
thanh, tiếng động, ánh sáng trang trí, đạo cụ, phục trang, hóa trang, video art),
- không gian sân khấu - khán giả.
Về nội dung tác phẩm nghệ thuật biểu diễn nói chung, múa đương đại
nói riêng, đã thoát khỏi những quan niệm có tính chất công thức, một chiều về
hình thức nghệ thuật, về tư tưởng mỹ học, về đối tượng phản ánh. Nội dung
tác phẩm múa tiếp cận với đời sống nội tâm của con người, nơi những suy
cảm nổi sóng của con người trong xã hội và tự nhiên, nhiễm sâu sắc lý tưởng
đương đại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Từ nghệ thuật biểu diễn múa
đương đại để hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu, hiển thị các
thành phần sáng tạo trong nghệ thuật biểu diễn múa đương đại; hiện thân sức
biểu cảm và suy tưởng của mỗi thành phần sáng tạo nên tác phẩm ấy nơi
người diễn viên diễn xuất trên sân khấu múa đương đại Việt Nam.
3
Từ đó, rút ra những nguyên lý cơ bản của sáng tạo diễn xuất diễn viên
trong sự kết hợp với các thành phần nghệ thuật và các nhân tố kỹ thuật công
nghệ cùng tham gia sáng tạo, xây dựng tác phẩm múa. Với bốn nhiệm vụ sau:
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận nghệ thuật biểu diễn MĐĐVN
2. Khái quát sự phát triển múa đương đại Việt Nam
3. Đánh giá thực trạng nghệ thuật biểu diễn MĐĐVN hiện nay
4. Luận bàn về sự phát triển nghệ thuật biểu diễn MĐĐVN trong thời kỳ
hội nhập, toàn cầu hóa.
Qua đó, luận án làm sáng tỏ nội hàm của năm thành tố cơ bản cấu thành
nghệ thuật biểu diễn múa đương đại: Về tính chân thực biểu cảm của hình thái
biểu diễn múa; về tính dân tộc nhuần nhuyễn, điêu luyện, tinh tế và chuyên
nghiệp của kỹ thuật biểu diễn múa; về tính ngẫu hứng trong diễn xuất của diễn
viên múa đương đại; về quá trình Việt hóa tư duy động tác múa, cấu trúc hình
thức tác phẩm múa ngoại sinh; bằng những giải pháp phát triển kỹ thuật múa
hình thể diễn viên thấm nhuần vào tư duy bản sắc múa dân tộc vào động tác,
hình thành ngôn ngữ, tiết tấu, nhịp điệu múa đương đại Việt Nam.
4. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu quá trình phát triển trên thực tiễn lý luận của Nghệ
thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam, trải qua suốt quá trình Việt hóa tiếp
nhận và biến đổi ngôn ngữ múa ngoại sinh thành nội sinh trong thời kỳ hội nhập,
toàn cầu hóa.
Luận án nghiên cứu về năm thành tố cơ bản của nghệ thuật biểu diễn múa
6.3. Cần có những giải pháp nào để phát triển nghệ thuật biểu diễn
múa đương đại Việt Nam về múa ngẫu hứng mang tính dân tộc và quốc tế ?
5
7. Giả thuyết nghiên cứu
7.1. Giả thuyết thứ nhất
Do chính sách mở cửa của Nhà nước đã hội nhập văn hóa, nghệ thuật,
trong đó có nghệ thuật biểu diễn múa đương đại từ các nước phát triển trên
thế giới ảnh hưởng vảo nghệ thuật múa ở trong nước, đã tạo ra nền nghệ thuật
múa đương đại Việt Nam tiên tiến, giàu bản sắc dân tộc và quốc tế.
7.2. Giả thuyết thứ hai
Nghệ thuật múa ngẫu hứng - ứng tác, ứng diễn của diễn viên với các
thành phần tham gia sáng tạo, xây dựng tác phẩm nghệ thuật múa là cơ sở để
phát triển nghệ thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam. Thời gian đầu nhiều
tác phẩm biểu diễn múa đương đại còn xa lạ với lối xem múa hiện đại của
công chúng, nhưng sau đó đã tạo ra lớp khán giả mới, họ đã hưởng ứng múa
đương đại. Do đó, cần có giải pháp để phát triển nghệ thuật biểu diễn
MĐĐVN vì một nền nghệ thuật toàn dân mang tính dân tộc và quốc tế.
8. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp luận
Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, theo đó:
Luận án vận dụng nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy
vật để quy chiếu hệ biến đổi văn hóa nghệ thuật vào nghệ thuật múa đương
đại Việt Nam.
Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về mối quan
hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng để nhận xét, đánh
giá lý luận, thực tiễn nghệ thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam trong thời
kỳ hội nhập, phát triển nghệ thuật múa, đáp ứng thị hiếu của công chúng thời
nghiên cứu của nhiều tác giả người nước ngoài đã nghiên cứu về: múa hiện đại,
7
múa đương đại, múa hậu hiện đại. Thông qua những cuốn sách giới thiệu, nghiên
cứu múa đương đại thế giới phát triển các trào lưu, khuynh hướng sáng tác của tác
giả, nội dung, đề tài tác phẩm múa đương đại của nước ngoài họ đã giải quyết các
vấn đề: Khuynh hướng sáng tác, trường phái múa đương đại về nội dung phản
ánh, khai thác đề tài cuộc sống, kỹ thuật múa đương đại... Trước xu thế quốc tế
hóa, Mỹ và nhiều quốc gia phát triển thực hiện chính sách “xuất khẩu” văn hóa
nghệ thuật đại chúng”. Các trào lưu múa đương đại Mỹ có sức ảnh hưởng, lan tỏa
ở các nước phát triển châu Âu và trên toàn cầu, đây là cơ hội khi Nhà nước mở
cửa, hội nhập, múa đương đại Mỹ và châu Âu đã tràn vào Việt Nam để tạo ra nền
nghệ thuật múa mới.
Về lý thuyết “xuất khẩu” (đây là đề tài công bố của Thomas L. Friedman
do Đại sứ quán Hoa Kỳ công bố năm 2006) về “nhập khẩu” văn hóa nghệ thuật
Mỹ vào các nước đang phát triển trên toàn cầu. Sự thật về lý thuyết “xuất khẩu”,
“nhập khấu” văn hóa nghệ thuật của Mỹ không còn là của riêng các nghệ sĩ Mỹ,
mà nó là của các nước trên toàn cầu; tất cả các nước đều trao đổi văn hóa nghệ
thuật để giao lưu, học hỏi lẫn nhau và “xuất khẩu” những tinh hoa nghệ thuật của
mỗi nước sang nước thứ hai.
Nghệ thuật múa trên toàn cầu, đa số ở các nước đang phát triển bị tác
động ảnh hưởng múa đương đại Mỹ, nghệ thuật múa theo xu thế: Múa đương
đại, múa hậu hiện đại, phát triển nhiều thể loại, nội dung phong phú với nhiều
hình thức biểu diễn kết hợp công nghệ đa phương tiện để hấp dẫn công chúng,
mỹ lệ hóa sân khấu nhằm nâng cao khả năng biểu cảm tác phẩm múa đương đại.
8.2.3. Khảo sát thực tiễn múa đương đại
Nghiên cứu sinh khảo sát trực tiếp các buổi biểu diễn múa đương đại
nước ngoài trên sân khấu múa Việt Nam, hoặc qua một số băng, đĩa, video,
internet, liên hoan múa Á-Âu... xem trực tiếp nhiều tiết mục biểu diễn múa tại
sánh làm rõ cơ sở lý luận nghệ thuật biểu diễn múa đương đại, làm rõ các thành
tố cơ bản của nghệ thuật biểu diễn và tính hiệu quả của nó trước công chúng.
9
9. Tính mới của Luận án
Những đóng góp mới mà Luận án đưa ra có tính khoa học, thực tiễn,
khả thi cao, nó được áp dụng vào sự phát triển nghệ thuật biểu diễn múa
đương đại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, toàn cầu hóa. Đó là thực tiễn
khoa học:
Thứ nhất, mới về đề tài nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn múa đương đại
trong thời kỳ hội nhập, bước đầu hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghệ thuật
biểu diễn MĐĐVN với năm thành phần cơ bản sáng tạo của sân khấu nghệ
thuật múa.
Thứ hai, xây dựng cơ sở lý luận múa ngẫu hứng mang tính khoa học và
thực tiễn để hoàn thiện tác phẩm múa đương đại có giá trị khoa học, nghệ thuật
của thời đại mới.
Thứ ba, áp dụng lý thuyết tiếp nhận và biến đổi: Nhất thể văn hóa, tiếp
biến nhân tố nghệ thuật ngoại sinh để làm giàu bản sắc dân tộc, múa đương
đại Việt Nam là một quy luật của sự phát triển nghệ thuật để phù hợp với ý
thức xã hội của từng thời đại.
Thứ tư, luận án đã chứng minh những khác biệt giữa hai phương pháp
nghệ thuật xây dựng tác phẩm, nghệ thuật biểu diễn múa hiện đại với múa
đương đại, để nó trở thành tiêu chí lý luận phân loại trong việc thẩm định tác
phẩm nghệ thuật và múa hiện nay.
Nhiệm vụ của luận án là nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn MĐĐVN để
rút ra những nguyên lý cơ bản trong sáng tạo nghệ thuật diễn xuất của người
diễn viên; theo đó, luận án làm sáng tỏ nội hàm năm thành tố cơ bản của nghệ
thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam trong mối quan hệ đồng sáng tạo
cảm xúc để hoàn thiện tác phẩm nghệ thuật múa đương đại.
động biểu cảm đồng diễn, đồng sáng tạo với nhiều loại hình nghệ thuật mới,
điều mà trước đổi mới năm 1986 chưa từng xuất hiện trên sân khấu biểu diễn
nghệ thuật múa hiện đại.
Sau đổi mới, hội nhập, nghệ thuật biểu diễn phát triển mạnh các hình
thức, thể loại: Từ đổi mới tác phẩm, nghệ thuật biểu diễn đã có cơ hội thể hiện
theo phương thức nghệ thuật mới trên sân khấu trước công chúng trong thời
kỳ hội nhập, toàn cầu hóa.
2. Nghệ thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam thời kỳ hội nhập
Nghệ thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam đã đổi mới kỹ thuật,
kiến trúc sân khấu, nghệ thuật kỹ thuật diễn viên và biên đạo múa. Về kỹ
thuật múa thay đổi từ bắt chước, mô phỏng, tái tạo hiện thực, mô tả, tự sự trữ
tình, phản ánh hiện thực... của múa hiện đại đã trở thành một phương pháp
nghệ thuật của riêng múa hiện đại, múa đương đại bắt đầu bằng những thủ
pháp kỹ thuật, ngôn ngữ, nhịp điệu múa mới:
Thứ nhất, về ngôn ngữ, nhịp điệu, luật động, tuyến múa: Ngôn ngữ
hành động múa ngẫu hứng, vận động theo lực đàn hồi con lắc (nghĩa là lực
cân bằng), ứng dụng vào mọi hành động, hành vi trong đời sống của con
người thành múa. Hoặc múa hóa các hành động đời sống của con người đã
khái quát hóa thành động tác, ngôn ngữ múa đương đại trong sáng tạo cấu
trúc thành tác phẩm múa để phục vụ công chúng.
Thứ hai, mở rộng không gian sân khấu, thể hiện kỹ thuật, nhịp điệu âm
nhạc, nhịp điệu múa mang tính dân tộc và tính quốc tế.
12
Thứ ba, sân khấu giàu tính kỹ thuật - khoa học công nghệ, đa phương
tiện nghệ thuật, đồng sáng tạo ngôn ngữ tác phẩm, đồng biểu cảm với người
diễn viên mang hiệu quả thẩm mỹ về cái đẹp của hình tượng tác phẩm nghệ
thuật múa, làm cho nó trở nên lung linh đa sắc màu văn hóa trong thế giới
cảm xúc nghệ thuật của tác phẩm múa đương đại.
Mỹ) [104]; Xã hội và các giá trị của Mỹ (Society and values American) [64]....
Đây là những sách chuyên khảo về múa, các tác giả đã giới thiệu nét khái
quát tiêu biểu về hoàn cảnh ra đời của múa hiện đại từ bà Isadora Duncan, xuất
hiện vào năm 1913, đến các tác giả Merce Cuningham, Graham, Limon, Release
(Giải phóng cơ thể) của Emile Jacques... Các diễn viên, biên đạo đã từng bước
phát triển múa hiện đại tiến lên múa đương đại.
Sau đó, vào năm 1970 [68], ở New York nổi lên khuynh hướng mới,
gọi là “sự nổi loạn” của múa diễn ra dưới sự bảo trợ của Nhà hát Judson
Dance, do các tác giả biên đạo múa “thông minh, và bất kính”, họ muốn biểu
cảm ngôn ngữ múa bằng nghệ thuật hậu hiện đại. Đó là các tác giả: Yvonne
Rainer, Trisha Brown, Steve Paxton, David Gordon, Lucinda Childs, Elaine
Summers, Robert Rauschenberg, Alex Hay, Deborah, Simone Forti...
Nhóm tác giả biên đạo này đã tạo thành những làn sóng nghệ thuật múa
hậu hiện đại đầu tiên trên đất nước Hoa Kỳ và làm đổi mới nền nghệ thuật
múa đương đại, sang đến những năm đầu thế kỷ XXI được coi là chuẩn mực
của thời đại công nghệ, công nghiệp văn hóa trong nghệ thuật biểu cảm thông
tin ký hiệu học.
Tuy vậy, khi mới ra đời múa hậu hiện đại bị không ít nhà lý luận lên
tiếng như một số công trình dưới đây:
Gordon Gow: Contemporary Dance and Actor in Survival in England
in 1972 (Múa đương đại và diễn viên trong sự sống còn ở Anh năm 1972) của
14
Gordon Gow - năm 1972. Manipulation: Motion, năm 1981(chuyển động) của
Manipulation, năm 1981. New Dance (Múa mới) của Arctic los Kathy Elgin,
năm 1984.... Về các luận án, NCS không có điều kiện tiếp cận thông tin, nên
chưa thể sưu tầm, khai thác được nhất là những đề tài luận án mới về múa
đương đại của Anh, Mỹ và nhiều nước trên toàn cầu vào những năm đầu thế
kỷ XXI.
khuynh hướng múa hiện đại, múa đương đại, múa hậu hiện đại đang phát triển
ở Mỹ cùng các nước phương Tây và châu Âu... Những cuốn sách chuyên luận
đó đã giúp cho NCS có cái nhìn tổng quan về nghệ thuật múa của thế giới
đang thịnh hành ở nhiều nước và mang tầm ảnh hưởng trên toàn cầu với các
trường phái nghệ thuật múa đương đại, múa hậu hiện đại, phát triển ấn tượng
và sôi động trên thế giới...
Phần kỷ yếu hội thảo ở Mỹ và nhiều nước chưa thể khai thác được, vì
họ rất hiếm khi hội thảo nghệ thuật, thường tổ chức trao đổi các chuyên đề
hẹp, nên khó thấy các tư liệu hội thảo. Theo tư liệu mà NCS hiện có thì duy
nhất một lần các biên đạo múa tổ chức hội thảo lần đầu tiên tại Mỹ, do biên
đạo múa Anna Halprin và Doris Humphrey tổ chức với tiêu đề: Mobile
Scotland Ballet (Di động của Scotland Ballet), cuộc hội thảo diễn ra vào ngày
16-9-1974, họ không in kỷ yếu như ở nước ta [106, tr.87], còn lại thường tổ
chức trao đổi hội thảo, không in thành sách tư liệu. Các nước phát triển
thường tổ chức các seminar về nghiên cứu, họ cho đây là một báo cáo chuyên
đề tuyệt vời để trao đổi, hội thảo, mọi người trao đổi sâu sắc về một chuyên
đề khoa học mang lại hiệu quả cao khi nhận định về các trào lưu, hay một
hình thức múa mới ra đời. Qua trao đổi học thuật khoa học sâu sắc về một vấn
đề như múa hiện đại, múa hậu hiện đại… trong seminar đó ai cũng được bày
tỏ quan điểm với các ý kiến tiếp cận đa chiều để tiếp tục hay ngừng không
nên phát triển một trào lưu nghệ thuật múa. Thường ở Mỹ sau cuộc hội thảo
trao đổi như thế có những trào lưu múa bị ngừng tiếp tục, vì nó đã không
được sự đồng thuận của giới chuyên môn nên lan tỏa vào công chúng và
16
không có đất để tồn tại. Sau đây là những tác phẩm múa hiện đại Mỹ đã được
giới lý luận và công chúng đón nhận.
b) Một số tác phẩm múa hiện đại tiêu biểu của Mỹ
Trên thế giới hiện nay có khoảng 500 nhà biên đạo múa được công
Phần độc đáo của những điệu múa Ấn Độ: Điệu Kathak (Một câu
chuyện), Kathakali Mohiniattam, Ossi, Bhangra, Garba (tứ tấu), Lamani (ngũ
tấu), Bollywood (múa bụng), Kịch múa Bharatanatyam...
Đặc trưng của những tác phẩm múa Ấn Độ mang đến vẻ đẹp cơ thể con
người bằng những động tác mềm dẻo như múa tự sự, kể chuyện bằng ngôn
ngữ tạo hình trên hai bàn tay, hay múa bụng, múa uốn dẻo.... Ngôn ngữ và các
chuyển động động tác múa tinh xảo, điêu luyện của vũ công Ấn Độ đã tạo ra
vẻ đẹp của nghệ thuật múa dân gian, hoặc múa đương đại điêu luyện và
chuyên nghiệp.
Các vở múa trên đã thể hiện nhiều khuynh hướng sáng tác, biểu diễn
múa đương đại ở Anh, Pháp, Mỹ, Australia, Ấn Độ... đang phát triển đại
chúng hóa, pha trộn ngôn ngữ múa chuyên nghiệp với ngôn ngữ, nhịp điệu
các điệu nhảy bình dân với múa ngôn ngữ kịch hình thể mang nội dung tinh
thần thời đại như các vở múa: Thời gian, Đổ bộ, Rùng rợn, Bến đỗ... Múa
đương đại những năm cuối thế kỷ XX đã mở đường cho một thời kỳ mới về
biểu cảm nội dung, hình thức thể loại và nghệ thuật biểu diễn múa.
Những tác phẩm múa đương đại của các nước phát triển sang những
năm đầu thế kỷ XXI, biểu hiện nội dung phong phú về phản ánh cảm xúc đời
sống của con người, xã hội và trong thế giới tự nhiên trên các mặt:
Cảm xúc, tâm trạng bất an của con người đương đại.
Những chuẩn mực về lẽ sống của con người với tổ quốc, quê hương và
xã hội.
Phản ánh vấn đề chính trị, xã hội Mỹ và các quốc gia khác.
18
Múa đương đại của Mỹ và các nước phát triển đã mang nội dung phản
ánh đối tượng cảm xúc về tự nhiên và xã hội... các tác phẩm đã nói về cảm
xúc nội tâm của con người trong xã hội đương đại. Về nghệ thuật múa thể
hiện đa phong cách, hướng đến ngôn ngữ, nhịp điệu múa của chủ nghĩa hậu
Những tác phẩm đầu tiên mở đường hình thành thẩm mỹ múa đương
đại trong công chúng là một xu thế nghệ thuật múa mới của biên đạo múa
Cheryl Frances Stock dàn dựng một số tác phẩm do Nhà hát Nhạc Vũ kịch
Việt Nam, Học viện Múa Việt Nam và Nhà hát Tuổi Trẻ công diễn trên sân
khấu biểu diễn ở Hà Nội.
Biên đạo Cheryl Frances Stock công diễn các vở: Qua miền đất lạ, năm
1989, Đất và nước, năm 1991, Những người bạn đồng hành -1993, Em, người
con gái Việt Nam -1996, Qua mắt Phượng Hoàng -1998. Tác phẩm Qua miền
đất lạ, nội dung tác giả muốn mang đến thông điệp về sức mạnh tiềm năng
nội lực của con người về những thách thức, đối đầu cuộc sống nhưng bằng
ngôn ngữ, hình tượng biểu trưng của múa đương đại, lại là lần đầu tiên được
xem những hình thức nghệ thuật biểu hiện ngôn ngữ múa biểu cảm mới, nên
công chúng chưa thể tiếp nhận hết như mong muốn của tác phẩm. Nhìn
chung, những tác phẩm múa kể trên của bà Cheryl Frances Stock đưa ra biểu
diễn lần đầu còn xa lạ với công chúng Việt Nam, mọi người có cảm nhận khó
hiểu về nội dung của từng tác phẩm múa mà bà muốn chuyển tải nội dung của
từng vở kịch múa đến khán giả. Khán giả và cả giới chuyên môn còn bỡ ngỡ
về nghệ thuật, ngôn ngữ hình tượng, biểu cảm, biểu trưng múa trong các tác
phẩm múa của bà Cheryl Frances Stock từ Australia vào Việt Nam trong
những vở múa biểu diễn lần đầu còn mới lạ.
Biên đạo Ea Sola Thủy Việt kiều ở Pháp về nước đã công diễn một số
tác phẩm tại Pháp và Việt Nam, gây sóng gió dư luận xã hội: Hạn hán và cơn
mưa (1995), biểu diễn tại cuộc Liên hoan Múa quốc tế Edinburgh tại Anh