Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG MỘNG TRI

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO
SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG MỘNG TRI

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO
SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH


2.2. Thực tiễn áp dụng các biện pháp trách nhiệm hình sự đối với tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác .....................................48
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CỐ Ý GÂY
THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI
KHÁC TẠI QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ......................................... 57
3.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác .................................................................57
3.2. Hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ...................................699
3.3. Tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại sức khỏe cho người khác trên địa bàn Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh ...711


3.4. Nâng cao năng lực của người áp dụng pháp luật đối với tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong ngành Tòa án tại Quận 6 Thành
phố Hồ Chí Minh ....................................................................................................733
3.5. Các biện pháp khác ............................................................................................74
KẾT LUẬN............................................................................................................. 788
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS


VKSNDTC

Viện kiểm sát nhân dân tối cao


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác trong trường hợp dẫn đến chết người với tội giết người trong trường hợp
tội phạm hoàn thành ..................................................................................................29
Bảng 1.2. Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác với tội giết người trong trường hợp phạm tội chưa đạt ..........................31
Bảng 2.1. Số liệu tội phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác tại Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2017 ...35
Bảng 2.2. Số liệu về loại hình phạt, mức hình phạt, số bị cáo bị xét xử về tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ năm 2013 đến
năm 2017 ...................................................................................................................49


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội con người là vốn quý nhất, là một thực thể quyết định sự hình
thành và phát triển xã hội, vì lẽ đó con người luôn được xã hội bảo vệ, cụ thể là tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người được xã hội ghi nhận và pháp
luật bảo vệ một cách nghiêm ngặt và chặt chẽ. Nguyên tắc này đã được xã hội ghi
nhận trong các bản Hiến pháp qua các thời kỳ và một lần nữa nó được Hiến pháp
năm 2013 kế thừa và ghi nhận:“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo
lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể,
sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” [23, tr.6]. Nguyên tắc này cũng được
pháp luật bảo vệ và được quy định cụ thể trong BLHS năm 2015:“Bộ luật hình sự

không ít người không có việc làm hoặc có việc nhưng không có tính ổn định, hiện
tượng tăng dân số cơ học cùng với sự không ổn định trong cuộc sống cũng như
trong công việc của người dân tại địa phương là nguyên nhân và là nguồn cho tội
phạm phát triển, đặc biệt là tội phạm về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm của con người.
Trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con
người thì tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là
một trong những tội có xu hướng gia tăng về quy mô, tính chất và mức độ ngày
càng nghiêm trọng, dẫn đến tình hình tội phạm diễn biến rất phức tạp, gây nên
nhiều khó khăn cho công tác quản lý xã hội của các cơ quan nhà nước. BLHS năm
2015 đã ghi nhận và quy định rất cụ thể về tội danh này tại Điều 134. Tuy nhiên,
trong thực tế việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự để xử lý đúng người,
đúng tội đối với loại tội phạm này vẫn còn nhiều vấn đề nhận thức khác nhau, nhiều
văn bản hướng dẫn để giải quyết vướng mắc về một số tình tiết vẫn chưa có sự
thống nhất, có nhiều trường hợp nhận định không đúng tội danh hoặc bỏ sót tội
phạm làm ảnh hưởng đến công tác điều tra, truy tố, xét xử. Cụ thể như một số hồ sơ
vụ án không thể đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định vì phải chờ có kết quả
giám định tỷ lệ tổn thương; Điều kiện để vụ án được khởi tố là phải thực hiện theo
yêu cầu người bị hại, nên thường phát sinh nhiều vấn đề phức tạp như người phạm
2


tội cố tình thương lượng, mua chuộc hoặc thậm chí đe dọa làm cho người bị hại
không dám yêu cầu khởi tố hoặc không thể thực hiện giám định thương tật.
Do đó việc lựa chọn đề tài “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận 6
Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn nghiên cứu là rất cần thiết và hết sức cấp
bách nhằm bảo đảm thực hiện tốt trong việc áp dụng pháp luật hình sự và nhiệm vụ
đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo sự ổn định về trật tự an toàn xã hội và
phát triển kinh tế trên địa bàn Quận 6 TPHCM.

hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối
với loại tội phạm nói trên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chung và các biện pháp trách nhiệm
hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác đồng thời phân biệt những đặt điểm khác nhau giữa tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với một số tội danh khác.
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề về thực trạng trong việc áp dụng các quy
định pháp luật hình sự, đồng thời rút ra những kết quả đạt được, những bất cập, hạn
chế, nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó đối với tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam
trong những năm gần đây trên địa bàn Quận 6 TPHCM.
Đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp
luật và hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự đối với tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 6 TPHCM.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các vụ án hình sự về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và công tác phòng chống
tội phạm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
trên địa bàn Quận 6 TPHCM từ năm 2013 đến năm 2017.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu về những vấn đề lý luận
chung và nghiên cứu tình hình thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hình sự đối
4


với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa
bàn Quận 6 TPHCM trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

công việc tìm hiểu, nghiên cứu, giảng dạy.
7. Kết cấu của luận văn
Nội dung luận văn được sắp xếp ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần
danh mục tài liệu tham khảo, được chia thành ba chương chính sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng những quy định pháp luật hình sự đối với tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn
Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác tại Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG
TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý đặt trưng của tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.1.1. Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác
Khái niệm tội phạm luôn là vấn đề trung tâm của pháp luật hình sự. Trong
lịch sử khoa học pháp lý hình sự có nhiều quan điểm về khái niệm tội phạm, việc
đưa ra khái niệm này cho phép nhận biết hành vi nào là tội phạm, hành vi nào
không phải là tội phạm. Ở các nước Châu Âu, các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý
hình sự chỉ quan tâm và nhấn mạnh đến tính hình thức của tội phạm, cụ thể họ cho
rằng “Tội phạm được hiểu là các hành vi do luật hình quy định” hoặc là “Tội phạm
là hành vi bị luật hình sự cấm hoặc là hành vi bị đạo luật hình sự trừng trị” (BLHS

những hành vi không phải là tội phạm, thể hiện qua tính nguy hiểm cho xã hội, tính
trái pháp luật hình sự, tính có lỗi và tính chịu hình phạt của tội phạm.
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy
định trong BLHS là một loại tội phạm cụ thể. Về khái niệm của loại tội phạm này
có rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu đưa ra, như là:“Tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một
người cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe” [19, tr.126]
hoặc cũng có quan điểm cho rằng:“Tội cố ý gây thương tích là hành vi cố ý làm cho
người khác bị thương, xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khoẻ của con người.
Hành vi cố ý gây thương tích bị coi là tội phạm, tội phạm đó được quy định tại Bộ
luật hình sự” [11, tr.44]. Nhìn chung, khái niệm về tội danh này được nhiều nhà
nghiên cứu nhìn nhận nhất đó là:“Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác là hành vi tác động trái pháp luật đến thân thể của người
khác, gây thiệt hại cho sức khỏe dưới dạng thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác trong các trường hợp luật định” [34, tr.96], khái niệm này đã
thể hiện rõ những đặc điểm đặc trưng cơ bản của loại tội phạm này như sau:

8


Tính nguy hiểm cho xã hội: là đặc điểm cơ bản và quan trọng quyết định các
đặc điểm khác của tội phạm, là tiêu chí để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp
luật khác. đặc điểm đặc trưng của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác là người phạm tội thực hiện hành vi trái pháp luật tác động đến
thân thể của nạn nhân làm cho người này bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ, những
hành vi như: đâm, chém, đấm đá, đốt cháy, đầu độc... làm cho cơ thể nạn nhân bị
thương tích hoặc bị tổn hại đến sức khỏe với một tỉ lệ nhất định. Hình thức hành vi
của tội phạm này giống với hành vi của tội phạm giết người, nhưng có hậu quả và
tính chất mức độ nguy hiểm ít hơn, do đó chỉ làm cho nạn nhân bị tổn thương cơ thể
gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và không dẫn đến cái chết cho nạn nhân.

phạt hoặc miễn chấp hành hình phạt. Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác, trong BLHS có quy định các mức hình phạt đối
với người phạm tội là: cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân.
Các đặc điểm đặc trưng trên là cơ sở để phân biệt tội phạm của tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với các hành vi vi phạm
pháp luật khác. Hiện nay, vấn đề về các dấu hiệu, đặc điểm của tội phạm vẫn còn
nhiều quan điểm chưa thống nhất về nhận thức, một số nhà nghiên cứu cho rằng
ngoài các dấu hiệu đặc điểm của tội phạm là tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái
pháp luật hình sự, tính có lỗi, tính chịu hình phạt cũng còn có dấu hiệu đặc điểm
nữa là hành vi phạm tội phải do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS
thực hiện được quy định trong BLHS.
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
được BLHS quy định là một tội phạm cụ thể nhưng khi xem xét về khía cạnh thực
hiện hành vi phạm tội đã thể hiện rõ ràng có hai yếu tố xác định hành vi phạm tội
này đó là hành vi gây thương tích cho người khác và hành vi gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác. Hành vi gây thương tích cho người khác là hành vi của người
phạm tội thực hiện trái pháp luật tác động lên cơ thể người khác, gây ra cho cơ thể
họ những thương tích hoặc làm cho nạn nhân mất đi một hay nhiều bộ phận cơ thể
gây ra những tỷ lệ thương tích nhất định. Việc thực hiện hành vi tác động này của
người phạm tội có thể thực hiện trực tiếp bằng tay, chân hoặc sử dụng các công cụ
phương tiện hỗ trợ như: dao, súng, gậy, mã tấu… Hành vi gây tổn hại cho sức khỏe
10


của người khác là hành vi của người phạm tội thực hiện trái pháp luật tác động lên
cơ thể người khác làm cho sức khỏe của họ bị yếu đi và gây tổn hại đến các chức
năng, bộ phận trong cơ thể con người không còn nguyên vẹn so với lúc ban đầu.
Hành vi tác động này người phạm tội có thể sử dụng bằng nhiều cách khác nhau và
dùng nhiều thủ đoạn khác nhau không để lại dấu vết như: bỏ thuốc độc vào thức ăn,
dùng hóa chất độc hại, dùng axit…

1.1.2.1. Khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác
Khách thể của tội phạm “là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
và bị tội phạm xâm hại” [35, tr.64]. Bất kỳ quan hệ xã hội nào trong các quan hệ xã
hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại đều được hợp thành ba bộ
phận: Chủ thể quan hệ xã hội là con người với tư cách là thực thể tự nhiên và thực
thể xã hội; Nội dung của quan hệ xã hội là các hoạt động bình thường khi tham gia
vào các quan hệ xã hội của các chủ thể thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
nhất định; Đối tượng vật chất của quan hệ xã hội là các sự vật hoặc các lợi ích vật
chất mà thông qua đó các quan hệ xã hội phát sinh và tồn tại. Các bộ phận hợp
thành này chính là đối tượng tác động của tội phạm. Đối tượng tác động của tội
phạm“là một bộ phận của khách thể của tội phạm bị hành vi phạm tội tác động đến
để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội là khách thể
được bảo vệ của luật hình sự” [35, tr.85]
Khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác đó là các quyền được tôn trọng, được bảo vệ sức khỏe của con người và
được pháp luật bảo hộ. Đối tượng tác động của tội phạm này là thân thể và sức khỏe
của những chủ thể có quyền được tôn trọng và bảo vệ, đó chính là những con người
đang sống, đang tồn tại trong thế giới hiện thực khách quan với tư cách vừa là một
thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội tồn tại trong xã hội
1.1.2.2. Mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác
Mặt khách quan của tội phạm“là những thể hiện bên ngoài của tội phạm bao
gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng như những biểu hiện bên ngoài khác luật
hình sự” [35, tr.64].
12


Mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe


tích hoặc gây ra ít nhiều tổn hại lên thân thể nạn nhân bằng mọi cách. Đó là hành vi
cố ý phạm tội của tội phạm.
+ Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi trái pháp luật hình sự.
Hành vi này của tội phạm được thể hiện qua việc người phạm tội đã thực hiện hành
vi tác động đến thân thể và xâm hại đến sức khỏe con người, đó là những hành vi bị
pháp luật hình sự ngăn cấm và được quy định trong BLHS. Hành vi khách quan của
tội phạm này còn được thể hiện thông qua dưới các hình thức là phạm tội dưới dạng
hành động và phạm tội dưới dạng không hành động. Đối với tội danh này thì phạm
tội dưới dạng hành động là hành vi của người phạm tội thực hiện những hành vi cố
ý như đánh, đá, chém, bắn…hậu quả thường mang lại thương tích và gây tổn hại
cho nạn nhân. Còn những hành vi phạm tội dưới dạng không hành động thường thể
hiện qua người phạm tội không thực hiện hành vi cố ý gây thương tích mà thực hiện
hành vi đe dọa, uy hiếp nhằm làm tê liệt ý chí nạn nhân và ép buộc nạn nhân tự gây
ra thương tích hoặc gây tổn hại cho bản thân mình.
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm “là thiệt hại do hành vi phạm tội
gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự” [35, tr.98]. Căn cứ
vào hành vi phạm tội của tội phạm tác động đến phần nào của quan hệ xã hội là
khách thể bảo vệ của luật hình sự sẽ tạo ra những loại thiệt hại khác nhau như:
Thiệt hại về vật chất “là sự biến đổi trạng thái bình thường của đối tượng vật chất
là tài sản”; Thiệt hại về thể chất là “là sự biến đổi trạng thái bình thường của thực
thể tự nhiên của con người, là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe do hành vi phạm tội
gây ra”; Thiệt hại về phi vật chất “là thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, tự do của
con người hoặc thiệt hại về an ninh chính trị, an toàn xã hội do hành vi phạm tội
gây ra” [35, tr.95].
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm này là những thiệt hại do hành
vi phạm tội gây ra chủ yếu là sức khỏe của nạn nhân, bên cạnh đó cũng trường hợp
tội phạm thực hiện hành vi phạm tội gây thiệt hại không những về sức khỏe mà còn
thiệt hại về vật chất và tinh thần cho nạn nhân. Trong BLHS hiện hành có quy định
về mức độ thiệt hại để xác định hậu quả nguy hiểm cho xã hội và phải chịu trách

+ Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm.

15


Đây là quy định hoàn toàn mới được đề cập trong BLHS năm 2015 do nhu
cầu thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà người phạm tội sử
dụng a-xít đối với nạn nhân. A-xít là hợp chất hóa học có tính hủy hoại rất cao, khi
được tiếp xúc trực tiếp với cơ thể con người chúng sẽ tàn phá và gây biến dạng thân
thể con người làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và hình dáng bên ngoài của nạn
nhân và có thể dẫn đến chết người. Do đó, trong quá trình dự thảo xây dựng BLHS
năm 2015 có rất nhiều ý kiến cho rằng hành vi sử dụng a-xít của tội phạm đối với
nạn nhân sẽ gây ra hậu quả tổn thương rất khốc liệt về thể chất cũng như ảnh hưởng
rất lớn về tinh thần cho nạn nhân, nên cần phải có biện pháp xử lý và trừng trị
nghiêm khắc đối với hành vi này, bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng cần phải
truy cứu TNHS về tội giết người đối với hành vi sử dụng a-xít đối với nạn nhân.
Nhưng cuối cùng BLHS cũng chỉ quy định về hành vi sử dụng a-xít của người
phạm tội đối với nạn nhân là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt đối với tội cố
ý gây thương tích và gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tuy nhiên, trong
trường hợp hành vi của người phạm tội là cố ý sử dụng a-xít đối với nạn nhân mà
gây ra hậu quả dẫn đến chết người thì phải xem xét hành vi này cấu thành tội giết
người chứ không thể xét xử là tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người.
Bên cạnh đó, BLHS cũng quy định “hoặc hóa chất nguy hiểm” đối với
những trường hợp người phạm tội không sử dụng a-xít mà lại sử dụng các loại hóa
chất khác có tính chất và mức độ nguy hiểm tương tự như a-xít nhằm gây tổn
thương cho nạn nhân. Việc xác định hóa chất nguy hiểm được căn cứ vào danh mục
ban hành kèm theo Thông tư số 07/2013/TT-BCT của Bộ Công Thương. Các cơ
quan tiến hành tố tụng cần dựa vào các danh mục theo quy định để làm căn cứ xác
định người phạm tội có dùng hóa chất nguy hiểm hay không và trường hợp cần thiết
thì cũng cần thông qua quy trình giám định đối với các loại hóa chất đó.

đã sinh ra cha và mẹ của người phạm tội
- Cha, mẹ được xác định gồm cha ruột, mẹ ruột là người sinh ra người phạm
tội; cha nuôi, mẹ nuôi là người tuy không sinh ra người phạm tội nhưng đã có công
nuôi dưỡng và nhận người phạm tội làm con nuôi và việc này được cơ quan có thẩm
quyền công nhận
- Thầy giáo cô giáo của mình được xác định là những người đang làm công
tác giảng dạy, đào tạo tại các cơ quan tổ chức có chức năng giáo dục và đào tạo
17


được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc các tổ chức dạy nghề tư nhân
và những người này đã và đang trực tiếp giảng dạy và đào tạo cho người phạm tội.
- Người nuôi dưỡng cho mình được xác định là những người chăm sóc, quản
lý, giáo dục người phạm tội như vai trò cha mẹ của mình.
- Người chữa bệnh cho mình được xác định là những người đang trực tiếp
thăm, khám, chữa bệnh cho người phạm tội hoặc là những người đang chăm sóc về
y tế cho người phạm tội tại các cơ sở y tế hoặc tại các địa điểm khác.
+ Có tổ chức:“Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết
chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm” [21, tr.15], đây được xem là
tình tiết tăng nặng TNHS được quy định trong BLHS.
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Đây là tình tiết mới đối với tội ý gây thương
tích và gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định trong BLHS, trong
đó quy định cụ thể trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội khi đang có chức vụ,
quyền hạn và đã lợi dụng chức vụ quyền hạn đó để thực hiện hành vi phạm tội của
mình và đây cũng được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
+ Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt
tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang
chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc,
đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Trong thời gian đang bị giữ là trường hợp người đang bị cơ quan điều tra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status